
THÀNH PHỐ DU THỦ DU THỰC
Bản Việt ngữ: Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn
Giới thiệu:
Đây là câu chuyện của một người di dân Nga sống trên đất Mỹ kể lại một giai đoạn ngắn ngủi của đời mình lúc còn rất trẻ, sống trong thành phố Leningrad, vào thời Đệ Nhị Thế Chiến, dưới chế độ Cộng Sản. Thành phố bị bao vây chặt chẽ không lối thoát bởi quân Đức. Dân chúng sống trong tình trạng cực kỳ khốn khổ, với khí hậu khắc nghiệt, đóng băng thường trực, không củi đốt, thiếu thốn thực phẩm, thuốc men. Cái chết luôn luôn rình rập vì bom đạn, đói khát, bệnh tật hay mật vụ của Cộng Sản Nga.
Lev lúc đó mới 17 tuổi, là con trai của một thi hào rất nổi tiếng, cách đó không lâu cha của cậu đã bị “thủ tiêu” bởi mật vụ Nga NKVD. Mẹ và em gái của cậu phải trốn khỏi thành phố Leningrad sắp sửa bị quân Đức Quốc Xã vây khốn. Lev bị bắt đang khi lục xoát thi thể một phi công Đức nhảy dù, bị kết tội ăn trộm và vi phạm lệnh giới nghiêm trong thời chiến, đó là tử tội. Bị ném vào tù, cậu đã gặp Kolya Vlasov, một anh lính Nga trẻ gốc Cossack rất đẹp trai, mang tội đào ngũ, cũng là tử tội. Mặc dầu chỉ lớn hơn Lev 3 tuổi , Kolya là một người khôn ngoan, hiểu biết hơn. Đôi tù nhân được dẫn lên trình diện Đại Tá Mật Vụ Grechko. Một cuộc trao đổi giữa tội nhân và Trùm Mật Vụ diễn ra: Nếu đôi bạn tù có thể kiếm được một chục trứng gà cho tiệc cưới của con gái Đại Tá trong vòng 5 ngày, ông ta sẽ trả tự do cho họ, nếu không sẽ phải bị mang ra pháp trường.
Cuộc phiêu lưu của đôi tù nhân trẻ trải qua bao nhiêu khốn đốn, bất trắc kinh hoàng. Dứơi ngòi bút điêu luyện của nhà viết kịch bản cho Hollywood, David Benioff, đọc giả tưởng như đang nghe ai kể bên tai một câu chuyện sống động, di dỏm và đầy ngạc nhiên.
Đây là cuốn truyện thứ hai của Benioff đã được vào danh sách “Best seller” của NewYork Time.
Chương 1
Ông Nội tôi là một tay chơi dao, mới chưa đầy mười tám tuổi đã dám giết hai tên lính Đức. Tôi không nhớ ai đã nói với tôi chuyện ấy – nhưng đó là sự thật mà tôi biết chắc chắn như tôi biết đội banh bóng chày New York Yankees luôn mặc đồng phục sọc khi chơi trên sân nhà và mặc màu xám khi chơi trên sân khách. Nhưng đâu phải tự nhiên mà tôi biết. Ai đã kể cho tôi nghe nhỉ? Chắc không phải Bố tôi rồi, ông chẳng bao giờ chia sẻ điều gì bí mật cả, càng không phải mẹ tôi, người luôn dấu nhẹm những điều không vui, những chuyện sắt máu, bệnh hoạn hay bất bình thường. Cũng chẳng phải Bà Nội tôi, người chỉ biết những chuyện ngụ ngôn từ quê nhà, đất nước xa xửa xa xưa của bà – hầu hết là chuyện kinh dị, tỷ như con nít bị chó sói xé xác, hay bị chặt đầu bởi mấy mụ phù thủy – nhưng chẳng bao giờ tôi nghe bà kể về chiến tranh. Lại càng chắc chắn không phải Ông Nội tôi rồi. Ông chăm sóc tôi từ thuở bé, dáng người trầm lặng, mắt đen và mảnh khảnh, Ông thường nắm tay tôi dắt qua đường hay ngồi trong ghế công viên đọc báo tiếng Nga để mặc tôi rượt theo mấy con chim bồ câu hay đập mấy con kiến càng bằng cành cây khô.
Thuở nhỏ nhà Bố tôi chỉ cách nhà Ông Bà Nội hai dãy phố nên tôi gặp Nội thường xuyên. Ông Bà làm chủ một văn phòng bảo hiểm nho nhỏ phục vụ đồng hương người Nga di cư, ở trong khu chung cư hỏa xa Bay Bridge. Bà Nội tôi luôn chào hàng bằng điện thoại, dù là mê hoặc hay gieo sự bất an trong lòng khách hàng, thế nào Bà cũng bán được bảo hiểm cho họ. Ông Nội lo việc giấy tờ sổ sách. Lúc còn nhỏ tôi hay ngồi trong lòng Nội, ngắm bàn tay trái có ngón trỏ bị cụt của Nội. Ngón tay cụt mất hai đốt, tròn trịa nhẵn nhụi giống như bị tật bẩm sinh. Nếu là mùa hè và đúng vào ngày đội banh Yankees đang chơi, thế nào Ông cũng nghe tường trình trận đấu bằng radio (sau này thì xem TV màu do Bố tôi tặng nhân ngày sinh nhật thứ 70 của Nội). Nội vẫn nói tiếng Mỹ với giọng lơ lớ người Nga, chưa bao giờ đi bầu cử, chẳng thích âm nhạc Mỹ, nhưng là một người ái mộ cuồng nhiệt của đội banh Yankees.
Cuối thập niên 90, một tập đoàn bảo hiểm muốn mua lại hãng của Nội, họ trả một giá rất phải chăng nhưng Bà Nội vẫn đòi gấp đôi số tiền. Kỳ kèo với Bà chỉ tổ mất thì giờ, cuối cùng công ty đồng ý trả đúng giá Bà muốn. Ông Bà Nội theo truyền thống, bán luôn căn chung cư và dời nhà về Florida.
Hai Ông Bà mua một căn nhà nhỏ bên bờ biển vịnh Mễ Tây Cơ. Căn nhà mái bằng, đó là một tác phẩm xây dở dang vào năm 1949 của một kiến trúc sư, nếu như ông ta không chết đuối trong năm đó thì chắc ông đã nổi tiếng lắm. Căn nhà trông thật vững chắc với xi măng cốt sắt nằm trên một sườn núi nhìn ra biển. Không phải là căn nhà lý tưởng cho một cặp vợ chồng già về hưu nhưng đâu phải Ông Bà Nội tôi xuôi nam về đó để chết khô vì phơi nắng. Ông luôn chơi cờ trên mạng với bạn bè. Sau vài tuần nhàn cư, Bà Nội tự tạo cho mình một việc làm, đó là dạy văn chương Nga cho đám trẻ trong trường đại học cộng đồng Sarasota. (Một lần tôi tham dự lớp học và nhận ra đám học trò luôn luôn nhạy cảm với những lời xúc phạm tôn giáo, lối giảng mỉa mai châm biếm và đọc thơ của Pushkin (1) không sai một chữ.
Hai ông bà thường ăn tối ngoài sân trước nhà, ngồi nhìn mông lung ra mặt nước đen xẫm ngoài vịnh Mễ Tây Cơ. Tối ngủ không cần đóng cửa sổ, có thể nghe tiếng mấy con ngài va cánh trên lưới chống muỗi. Không giống mấy người già về hưu ở Floria, Nội chẳng hề quan tâm đến vấn đề tội phạm. Nhà không có hệ thống báo động mà cửa trước chẳng bao giờ khóa. Nội cũng chẳng hề cài dây an toàn khi lái xe, không bôi kem chống nắng khi tắm biển. Nội cho rằng chả có gì giết được Ông Bà ngoài Thượng Đế ra, nhưng cả Thượng Đế Nội cũng không tin luôn.
Tôi sống ở Los Angeles, đang viết kịch bản một phim giả tưởng siêu nhân. Hai năm trước đây, có người yêu cầu tôi viết bản tiểu sử để đăng trên một tờ đặc san kịch trường. Được nửa chừng, tôi bỗng nhận ra cuộc đời tôi sao quá tẻ nhạt. Không phải tôi phàn nàn đâu, dù đọc về tiểu sử của mình nghe chán ngắt, nào trung học, rồi đại học, làm mấy nghề vớ vẩn, học cao học, làm vài việc vớ vẩn nữa, rồi học tiếp, viết truyện siêu nhân… Sự có mặt của tôi trong đời này cũng không đến nỗi nào, nhưng loay hoay với bản tiểu sử, tôi càng không muốn nói về đời mình, dù chỉ trong vòng 500 chữ. Tôi muốn viết về thành phố Leningrad.
Ông Bà Nội đón tôi ở phi trường Sarasota, tôi cúi xuống hôn hai cụ, các cụ mỉm cười, luôn luôn khôi hài vì thằng cháu Mỹ khổng lồ (tôi cao 6 feet 2, bên hai cụ già, trông tôi cao trội hẳn lên). Trên đường về nhà chúng tôi ghé chợ mua một con cá chim (một loại cá dẹp Bắc Mỹ). Thêm một chút bơ, muối, và nước cốt chanh, thế là có con cá nướng ngon lành trên lò than. Nội luôn nấu nướng nhanh nhẹn và dễ dàng, chỉ mất 10 phút thôi, thế mà ngon hơn bất cứ tiệm ăn nào ở Los Angeles tôi đã ăn suốt năm vừa rồi. Bà Nội chẳng bao giờ nấu nướng, trong gia đình ai cũng biết, giỏi lắm Bà chỉ làm được một chén Cereal là cùng, các món khác thì quá rắc rối đối với Bà.
Sau bữa ăn Bà Nội phì phèo điếu thuốc lá, Ông Nội rót 3 ly rượu Vodka tự làm lấy. Chúng tôi ngồi nghe ve sầu và dế dạo nhạc, nhìn nước biển đen ngòm ngoài vịnh, đôi khi đuổi mấy con muỗi vo ve quấy rầy.
“Cháu có mang theo cái máy thu âm, hay là mình nói chuyện về chiến tranh đi Nội.”
Tôi nghĩ đã làm Bà Nội bất ngờ, Bà trợn mắt khi đang gạt tàn thuốc lá trên bãi cỏ.
“Cái gì?”
”Mày đã 40 tuổi rồi. Bây giờ lại muốn học nữa hả?”
“Cháu mới chỉ 34 thôi.”
Tôi nhìn Ông Nội đang mỉm cười.
“Ông Bà sao vậy, bộ các người là điệp viên Đức Quốc Xã chắc? Đang dấu quá khứ phải không?”
“Không.” Ông vừa nói vừa mỉm cười “Không phải đâu.”
“Bà nghĩ cháu 40 tuổi hả ?”
“34, 40 …” Bà trả lời với giọng châm biếm luôn kèm theo mấy cái xua tay như xua đuổi sự ngây ngô của tôi. “Ai mà để ý, lo cưới vợ đi cháu ơi.”
“Sao Bà giống mấy bà già ở Florida quá vậy”
“Hử.” Bà thốt ra với chút khó chịu.
“Cháu muốn biết cuộc chiến ra sao thôi, có gì đâu mà khó quá vậy?”
Bà hướng về Ông, gục gặc cái đầu trong khi chỉ điếu thuốc đang cháy đỏ về phía tôi.
“Thằng nhỏ muốn biết cuộc chiến ra sao nè.”
“Cưng à” Ông nội chỉ nói có thế, chẳng thêm một lời nào khác, nhưng Bà Nội gật đầu và dụi điếu thuốc trên mặt bàn kiếng.
Bà nói với tôi “Được rồi, cháu cũng nên viết về cuộc chiến.”
Bà đứng dậy và hôn lên tóc tôi, hôn trên môi Ông và dọn chén dĩa vào trong nhà.
Hai Ông cháu ngồi yên lặng bên nhau một lúc, nghe tiếng sóng biển ì ầm. Ông châm thêm rượu vodka và mặt rạng rỡ khi thấy tôi nốc cạn ly.
“Cháu có bạn gái không?”
“Dạ có”
“Tài tử điện ảnh hả?”
“Dạ”
“Ông thích cô ta.”
“Cháu biết là Ông sẽ thích mà.”
“Có lẽ người Nga phải không, cô ta có đôi mắt… Nếu cháu muốn nói về Leningrad, chúng ta sẽ nói về Leningrad.”
“Cháu không muốn nói đâu, Nội nói thôi.”
“Được rồi, Ông sẽ nói, ngày mai được không?”
Ông đã giữ lời, luôn một tuần sau đó, chúng tôi ngồi bên nhau trên ghềnh đá trước nhà và tôi thu âm câu chuyện của Ông. Mỗi ngày vài tiếng buổi sáng, nghỉ ăn trưa rồi tiếp tục vài tiếng buổi chiều. Nội là người ít nói, chỉ lẩm bẩm đôi câu với bất cứ ai không phải là Bà, thế mà đã kể liên tục thu vào hết bao nhiêu băng nhựa. Quá nhiều cho một cuốn sách – Câu chuyện thật nhiều khi còn lạ lẫm hơn cả giả tưởng nhưng vẫn cần một người chấp bút tài giỏi. Lần đầu tiên trong đời tôi nghe Nội nói về vấn đề tình dục, những câu chửi thề một cách cởi mở như vậy. Ông cũng nói về tuổi ấu thơ, về cuộc chiến, về việc di cư sang Mỹ. Nhưng hầu hết nói về một giai đoạn ngắn ngủi, khoảng một tuần lễ đầu tiên của năm 1942, Ông đã gặp Bà, kết làm bạn thân, và giết hai tên lính Đức.
Khi kể xong chuyện, tôi hỏi Nội về một vài chi tiết đại khái như – tên tuổi, nơi chốn, thời tiết vào những ngày đó. Ông ngập ngừng một chút rồi nghiêng vào tôi tắt chiếc máy thâu âm.
“Chuyện xảy ra đã lâu lắm rồi, Ông không còn nhớ ông mặc áo quần gì, mặt trời hôm ấy ra sao.”
“Cháu chỉ muốn chắc chắn là cháu đã nghe được đúng sự thật thôi.”
“Không được đâu.”
“Đây là truyện của Nội, cháu không viết bậy trong đó được.”
“David …”
“Có vài điều cháu thấy không thuận tai lắm.”
“David …cháu là nhà văn, hãy làm cho xuôi tai đi.”
Chưa bao giờ đói như thế và cũng chưa bao giờ lạnh đến vậy. Khi ngủ, nếu quả thực có ngủ, chúng tôi mơ thấy những bữa ăn thịnh soạn đã ăn một cách thờ ơ trước đó 7 tháng – những miếng bánh mì bơ, bánh khoai tây hấp, thịt xúc xích – ăn uống cẩu thả, nuốt vội vã không thưởng thức mùi vị, vứt bỏ cả đống đồ ăn thừa trên dĩa, thịt thà mỡ màng bỏ cả tảng. Tháng 6 năm 1941, trước khi tụi Đức đến, chúng tôi tưởng mình nghèo lắm, nhưng thật ra thời gian đó sướng như trên thiên đàng so với mùa đông cùng năm. Ban đêm gió thổi mạnh và lâu đến nỗi khi ngừng gió, mình cảm thấy bàng hoàng. Cái bản lề cửa chắn gió của tiệm café cũ kỹ ở góc phố ngừng kêu kẽo kẹt trong vài giây ma quái, giống như con thú dữ đang đuổi tới gần và đàn thú rừng nhỏ bé đang chạy trốn ào ào trong nỗi kinh hoàng. Cánh cửa chắn gió đã bị gỡ mất để làm củi trong tháng 11 rồi. Chẳng còn mảnh củi nào trong thành phố Leningrad cả. Tất cả bảng hiệu bằng gỗ, mặt ván trên ghế ngoài công viên, sàn gỗ của mấy tòa nhà đổ nát – tất cả đã không còn và đều bị thiêu rụi trong cái lò sưởi của nhà nào đó mất rồi. Chim bồ câu cũng biến mất, chắc bị nấu với nước đá lấy từ sông Neva. Chẳng ai quan tâm tới mấy con chim bồ câu bị giết. Nhưng chó và mèo thì lại là một vấn đề. Tháng mười có tin đồn ai đó đã nướng con chó cưng và chia làm bốn cho cả nhà ăn, chúng tôi cười và lắc đầu, không tin nhưng tự hỏi thịt chó ướp với muối có ngon lành gì không– Muối thì có thừa, dù tất cả các thứ khác đều hết sạch, nhưng muối vẫn dư giả. Tới tháng giêng thì không còn nghi ngờ gì nữa, tin đồn đó đều là sự thật. Chỉ những người có quyền thế mới còn có thể nuôi chó mèo và chó mèo thì lại nuôi chúng tôi.
Có hai giả thuyết về mập và gầy. Một số người nói những kẻ mập trước chiến tranh có nhiều cơ hội sống còn hơn: một tuần lễ nhịn đói không thể làm kẻ mập phì trở thành một bộ xương cách trí. Một số người khác cho rằng những kẻ gầy thường dễ thích nghi với sự thiếu ăn và có thể chịu được khi đối diện với cảnh đói khát. Tôi ở trong nhóm người thứ hai, vì kinh nghiệm của chính bản thân.
Tối sinh ra vốn nhỏ con, mà lại có chiếc mũi khoằm to tổ bố, mắt đen, da mặt đầy mụn trứng cá – phải thú thật rằng, chắc chắn tôi không phải là mẫu người lý tưởng của mấy cô. Nhưng chiến tranh khiến tôi có giá hơn. Một số người thân thể bị còm cõi khi tem phiếu càng ngày càng ít hơn, làm cho họ có cảm tưởng mình là một lực sĩ trong đoàn xiếc trước khi quân Đức xâm chiếm đất nước. Tôi thì vẫn vậy, chẳng có chút bắp thịt nào để teo lại. Giống như mấy con chuột trù vẫn bưới móc trong đống rác chung quanh, còn mấy chú khủng long lăn đùng ra chết hết ráo. Tôi được cấu tạo để thích hợp với nỗi khốn khổ.
Đêm Giao Thừa, tôi ngồi trên nóc nhà của khu Kirov, đó là khu chung cư tôi ở từ khi mới 5 tuổi (thật ra nó chẳng có tên cho mãi đến năm 1934 khi Kirov bị bắn chết, nửa thành phố được đặt theo tên ông), chúng tôi canh chừng chiếc khinh khí cầu màu xám to thù lù đang đảo quanh quẩn dưới từng mây, dùng để chống máy bay thả bom của Đức. Mùa này mặt trời chỉ lảng vảng chừng 6 tiếng đồng hồ một ngày, nó chạy vội vàng từ chân trời này sang chân trời kia như ma đuổi. Mỗi đêm 4 đứa chúng tôi phải trực một ca 3 tiếng đồng hồ, ngồi trên nóc nhà, trang bị bằng những xô đựng cát, mấy cái chĩa bằng sắt, và vài cái xẻng, chùm lên người bất cứ cái gì có thể kiếm được – áo sơ mi, áo lạnh, áo khoác - canh gác bầu trời. Chúng tôi là lính cứu hỏa. Tụi Đức tính rằng đánh đuổi chúng tôi ra khỏi thành phố sẽ phải trả giá quá đắt cho nên tốt nhất là bao vây cho chết đói, thả bom, đốt chết hết dân trong thành phố.
Trước chiến tranh 1100 người ở trong khu chung cư Kirov, bây giờ chỉ còn gần 400 trăm. Hầu hết trẻ em đã được di tản trước khi tụi Đức bao vây vào tháng 9. Mẹ tôi và đứa em gái nhỏ tên Taisya về nhà ông cậu ở Vyazma. Đêm hôm trước ngày di tản, tôi đã cãi nhau với Mẹ, đó là vụ cãi lại với Mẹ duy nhất trong đời. Mẹ muốn tôi cùng đi, dĩ nhiên là thật xa bọn xâm lăng, và thật sâu trong lòng quê hương, nơi đó máy bay thả bom của Đức không sao kiếm được. Nhưng tôi nhất quyết không rời xa Piter. Tôi là nam nhi, tôi phải chiến đấu bảo vệ thành phố của tôi, tôi sẽ là một Nevsky cho thế kỷ 20. Có phải là tôi rồ dại đâu. Tôi có lý do chính đáng: nếu mọi người có khả năng đều bỏ đi như vậy, Leningrad sẽ rơi vào tay tụi Fascist Đức mất thôi. Và nếu không có Leningrad, một thành phố của công nhân sản xuất xe tăng và súng trường cho Vệ Binh Đỏ thì tổ quốc Nga còn cơ hội nào nữa đây?
Mẹ tôi nghĩ tôi phát ngôn ngông cuồng, tôi mới chỉ chớm 17 tuổi, không thể làm thợ hàn trong khu công nghệ (the Works) và còn một năm nữa mới đến tuổi nhập ngũ. Chiến đấu bảo vệ thành phố chẳng liên quan gì tới tôi; chỉ thêm một miệng ăn thành phố phải nuôi. Tôi phớt lờ những luận điệu bôi bác đó của Mẹ.
“Tôi là một Chiến Sỹ Cứu Hỏa” tôi bảo Mẹ như vậy, vì đó là sự thật, Ủy ban nhân dân thành phố đã ra lệnh thành lập một đội lính chữa lửa mười ngàn người, và tôi rất hãnh diện chỉ huy đội cứu hỏa tầng lầu năm của khu chung cư Kirov.
Mẹ tôi chưa đầy 40 tuổi mà tóc người đã ngả muối tiêu. Ngồi đối diện với tôi bên bàn ăn, Mẹ nắm bàn tay tôi trong hai tay của người. Mẹ vóc dáng rất bé nhỏ, chỉ cao 5 feet thôi, thế nhưng tôi rất sợ Mẹ từ thuở mới sinh ra.
“Mày là một thằng ngốc”, Mẹ mắng tôi. Nghe có vẻ như trách cứ, nhưng thực sự lúc nào mẹ cũng gọi tôi là “Thằng Ngốc Của Mẹ” riết rồi tôi đâm ra quen với cái tên lóng đầy trìu mến đó. “Thành phố có từ trước khi mày sanh ra, và còn tồn tại sau khi mày chết, Taisya và Mẹ cần mày ngay bây giờ”.
Mẹ nói đúng. Nếu tôi là một thằng con và thằng anh đàng hoàng, thì phải theo mẹ. Taisya ngưỡng mộ tôi, nó thường mừng rỡ ôm lấy tôi mỗi khi tôi đi học về, đọc cho tôi nghe những bài thơ ngây ngô em đã tập làm để ca tụng sự hy sinh của các nhà cách mạng, vẽ diễu cái mũi khổng lồ của tôi trong tập vở của em. Nói chung, đôi khi tôi muốn vặn cổ nó. Tôi chẳng muốn lang thang suốt nước Nga với Mẹ và đứa em gái nhỏ. Tôi đã 17 tuổi, đầy nhiệt huyết để làm người hùng. Molotov tuyên bố trên radio trong bài diễn văn vào ngày đầu tiên của cuộc chiến: (Lý tưởng của chúng ta là vĩ đại! Quân thù sẽ bị thảm bại! chúng ta sẽ toàn thắng!). Lời tuyên bố đã được in ra hàng ngàn bản và dán đầy tường khắp nơi trong thành phố. Tôi tin vào lý tưởng ấy; tôi sẽ không trốn chạy trước quân thù; tôi không thể vắng mặt trong sự vinh quang này.
Mẹ và em Taisya rời thành phố ngày hôm sau. Họ dùng xe buýt một đoạn đường, quá giang xe quân đội một đoạn và đi bộ miệt mài trên những con đường quê bằng đôi giày há mồm. Phải mất 3 tuần lễ mới đến được nhà Cậu bình an. Mẹ gởi tôi một lá thư tả về cuộc đi bộ dài thăm thẳm, mệt nhọc và khủng khiếp đó. Có lẽ Mẹ muốn tôi phải hối hận vì đã bỏ rơi Mẹ và em, tôi cảm thấy hối hận thật nhưng cũng thấy nhẹ nhõm khi cả hai đã rời khỏi thành phố. Chiến tranh khốc liệt sắp xảy ra và họ không nên ở tiền tuyến. Ngày 7 tháng Mười, quân Đức chiếm Vyazma thế là thơ của mẹ cũng chấm dứt theo.
Phải nói là tôi rất nhớ Mẹ và em, và nhiều đêm tôi cảm thấy cô đơn vô cùng, thèm đồ ăn mẹ vẫn nấu. Tôi thường mơ tưởng được tự lập từ khi còn rất nhỏ. Truyện ngụ ngôn tôi thích nhất vẫn là truyện những cậu bé mồ côi, lạc trong rừng tối mù mịt, thoát khỏi mọi nguy hiểm nhờ trí thông minh, mưu lược hơn kẻ thù, cuối cùng tìm được kho tàng. Tôi không nói là tôi vui sướng, chẳng có gì sung sướng khi chúng tôi đói khát triền miên - nhưng tin rằng cuối cùng đây là một việc đầy ý nghĩa. Nếu Leningrad mất, nước Nga sẽ mất theo. Nước Nga mất, tụi độc tài Đức sẽ chinh phục cả thế giới. Tất cả chúng tôi tin như vậy, và bây giờ tôi vẫn tin như vậy.
Dù tôi còn quá trẻ để nhập ngũ, nhưng đủ lớn để có thể đào hố chống xe tăng ban ngày và canh gác trên nóc nhà ban đêm. Đội cứu hỏa của tôi gồm toàn bạn bè trong tầng lầu thứ năm- Vera Osipovna, một tài năng chơi đàn cello (đại hồ cầm), và anh em sinh đôi tóc đỏ Antokolsky, tài năng duy nhất là có thể đánh rắm cùng một lúc. Trong những ngày đầu cuộc chiến, chúng tôi ngồi hút thuốc lá trên nóc nhà, ra vẻ như đám lính chiến thực sự, mạnh dạn, cằm bạnh ra, đảo mắt trên bầu trời để canh chừng máy bay địch. Đến tháng 12 thì chẳng còn thuốc lá trong thành phố, thuốc lá thứ thiệt cơ. Một vài tên ghiền nặng bèn lấy lá rụng xé vụn ra, cuốn trong giấy để hút, gọi là “thuốc lá mùa thu”, biện minh rằng một vài thứ lá hút cũng giống thuốc lá vậy. Nhưng trong khu Kirov, chẳng có cây nào cả, cho nên cũng vô ích. Chúng tôi dùng thời giờ nhàn rỗi để săn chuột, chắc mấy chú chuột đang hí hửng nghĩ rằng lời cầu nguyện của tổ tiên mấy chú đã linh ứng, mấy con mèo chết tiệt hết rồi, cho đến khi nhận ra rằng rác cũng chẳng có để mà ăn.
Sau vài tháng, chỉ cần nghe tiếng gầm rú của máy bay, chúng tôi có thể nhận diện ra từng loại máy bay của quân Đức. Tối hôm đó là máy bay Junkers 88s, đã thả bom cả tuần nay rồi, thay thế cho loại Heinkels và Dorniers đã bị súng phòng không của chúng tôi hạ dễ dàng. Ban ngày thành phố trông rất điêu tàn nhưng ban đêm lại đẹp lạ lùng dù đang bị vây hãm. Từ trên nóc nhà, đêm không trăng, chúng tôi có thể nhìn toàn cảnh thành phố Leningrad: tháp nhọn của tòa Admiralty, đã bị phủ một lớp sơn màu xám để tránh máy bay Đức; nhà thờ thánh Phê Rô và công viên thánh Phao Lồ (đã được chùm lưới ngụy trang); vòm nhà thờ thánh Isaac và nhà thờ Church On Spilled Blood. Chúng tôi có thể nhìn thấy toán lính phòng không trên nóc các tòa nhà chung quanh. Hạm đội Baltic thả neo trên sông Neva, những chiến thuyền khổng lồ màu xám đang nã đại bác vào vị trí địch quân.
Đẹp nhất là cảnh không chiến của chiến đấu cơ. Máy bay Junkers 88s của Đức và Sukhois của Nga quần thảo trên bầu trời, không thấy được từ dưới đất trừ khi rơi vào vùng sáng của đèn pha phòng thủ. Máy bay Sukhois có hình ngôi sao đỏ dưới cánh để tránh phòng không bắn nhầm. Cứ vài đêm lại có một cuộc không chiến, giống như một màn trình diễn trên sân khấu, máy bay thả bom của Đức chậm chạp nặng nề nghiêng mình thật gấp để súng chống máy bay trên phi cơ có thể vãi một tràng liên thanh về phía máy bay chiến đấu Nga. Khi một Junkers bị bắn rơi, toàn thân cháy tan tành như một vì sao xẹt trên bầu trời. Một tiếng la vang dội mừng chiến thắng trên khắp nóc nhà toàn thành phố. Tất cả lính phòng không và lính cứu hỏa dơ cao nắm đấm như để chào mừng chiến sỹ phi công thắng trận.
Chúng tôi có chiếc radio nhỏ trên nóc nhà, Đêm Giao Thừa nghe đài Spassky phát thanh từ Mạc Tư Khoa chơi bản “Internationale”. Không biết Vera tìm được một nửa củ hành tây ở đâu ra; nàng cắt ra làm 4 đặt trên chiếc dĩa và quét một chút dầu hoa hướng dương. Khi ăn hết hành tây, chúng tôi vét sạch dầu ăn bằng bánh mì khẩu phần. Bánh mì này ăn chẳng giống bánh mì thiệt chút nào. Chẳng phải là đồ ăn nữa. Sau khi tụi Đức thả bom thiêu hủy kho bột mì Badayev, nhà bếp thành phố có sáng kiến là bất cứ cái gì bỏ thêm vào thức ăn mà người ta không bị ngộ độc thì cứ thêm vào. Dù cả thành phố đang chết đói, không ai đủ đồ ăn, thế nhưng ai cũng nguyền rủa bánh mì, ăn như mùi mạt cưa, thời tiết lạnh, nó cứng như đá. Có người bể răng vì nhai bánh mì. Bây giờ, ngay cả khi tôi đã quên mặt mũi những người thân hồi đó, mà tôi vẫn nhớ cái vị khó ăn của bánh mì khẩu phần.
Nửa củ hành tây và 125 gram bánh mì cứng như đá chia làm 4. Đó là một bữa ăn tươm tất. Chúng tôi nằm cuộn tròn trong chăn, ngắm những chiếc khinh khí cầu chống máy bay cột trên đầu sợi dây trôi dạt theo chiều gió, nghe âm thanh phát ra từ radio. Khi không có tin tức hay âm nhạc, đài radio truyền đi âm thanh đều đặn không ngừng “tic tic tic” cho chúng tôi biết thành phố vẫn chưa bị chiếm, tụi Đức Quốc Xã vẫn còn ngoài cửa thành. Tiếng âm vang trên đài radio đó chính là nhịp tim của thành phố và tụi Đức không bao giờ ngưng nó được.
Vera phát hiện một người từ trên trời rơi xuống. Cô ta la to và chỉ cho mọi người thấy, chúng tôi đứng nhổm cả lên để nhìn cho rõ. Một trong những ngọn đèn phòng không soi ngay vào người nhảy dù đang rơi về phía thành phố, chiếc dù lụa trắng trên đầu anh ta trông giống như đóa hoa tulip.
“Một tên lính Đức” Oleg Antokolsky la lên, hắn nói đúng phóc; chúng tôi có thể thấy bộ đồng phục Luftwaffe màu xám của không quân Đức. Hắn ở đâu chui ra thế nhỉ? không một ai trong chúng tôi nghe thấy tiếng máy bay không chiến, hay tiếng súng phòng không. Cũng chẳng người nào nghe tiếng máy bay thả bom của Đức trong vòng 1 tiếng đòng hồ.
Vera nói “Chắc bắt đầu rồi đây”. Cả mấy tuần nay chúng tôi nghe tin đồn tụi Đức đang chuẩn bị một trận nhảy dù lớn, một trận tấn công cuối cùng để bứng đi cái chướng ngại Leningrad cho quân Đức từ đằng sau tiến tới. Chúng tôi tin rằng trong vài phút nữa sẽ thấy hàng ngàn tên lính Đức từ trên trời rơi xuống, giống như trận bão tuyết với những chiếc dù màu trắng bung ra trên bầu trời, nhưng hàng tá đèn phòng không xuyên qua màn đêm đen kịt vẫn chẳng thấy thêm một kẻ thù nào cả. Chỉ mỗi một tên thôi, nhìn dáng rũ liệt của thân hình treo tòng teng trên cái dù, biết ngay là hắn đã chết rồi.
Nhìn hắn rơi thấp dần trong khi đèn pha rọi ngay vào người, chúng tôi thấy hắn đã mất đâu một chiếc giày đen.
“Hắn bay về phía mình nè”, tôi la lên. Gió thổi chiếc dù bay về phía đường Voinova. Hai thằng sinh đôi nhìn lẫn nhau.
“Luger”, Oleg nói.
“Lính Không Quân Đức không mang súng lục Luger”, Grisha nói. Hắn chỉ ra đời sớm hơn thằng em 5 phút thôi mà đòi làm chuyên viên về vũ khí của Đức. “Walther PPK.”
Vera cười với tôi “Xô cô la Đức.”
Chúng tôi chạy vội ra cửa cầu thang, bỏ mặc mấy dụng cụ cứu hỏa, tuột nhanh xuống cầu thang tối đen như mực. Chúng tôi đúng là đồ điên. Trợt chân trên cầu thang xi măng, với thân thể không còn một tí mỡ hay bắp thịt nào để che chở, gẫy xương như chơi, mà gẫy xương bây giờ coi như chết thôi. Nhưng chẳng đứa nào quan tâm. Chúng tôi còn con nít và tên lính Đức chết rơi từ trên trời xuống mang theo nhiều quà lắm, quà từ Das Vaterland.
Chúng tôi chạy nhanh qua sân và trèo qua cửa sắt khóa chặt. Tất cả đèn đường đã tắt ngúm rồi. Cả thành phố tối thui. Một phần vì muốn tránh máy bay Đức, phần khác vì phải dồn tất cả điện cho nhà máy chế tạo đạn dược – nhưng mà ánh trăng cũng đủ sáng chán rồi. Con đường Voinova thì rộng mở và trống trơn, giới nghiêm đã 6 tiếng rồi. Không thấy một chiếc xe nào lai vãng cả. Chỉ có chánh quyền và nhà binh mới có xăng, vả lại xe cộ dân sự đã bị xung công từ những ngày đầu cuộc chiến. Mọi cửa kính đều dán giấy để khó bể hơn. Có thể thật là vậy, mặc dù tôi đi ngang qua mấy cửa hàng, chẳng thấy còn gì trên khung cửa ngoài miếng giấy lủng lẳng phất phơ.
Ra tới ngoài đường, nhìn lên bầu trời chúng tôi chẳng thấy tên lính Đức đâu cả.
“Hắn biến đâu mất rồi?”
“Mày có nghĩ là hắn rơi trên nóc nhà không?”
Đèn pha phòng không gắn trên nóc mấy nhà cao, và không cái nào có thể rọi xuống đường Voinova. Vera giật mạnh cổ áo choàng của tôi. Đó là cái áo ấm khoác ngoài thừa hưởng của Bố tôi, tuy hơi rộng nhưng ấm hơn tất cả thứ gì tôi có.
Tôi ngoảnh lại thấy tên Đức của chúng tôi đang là là rơi xuống đường, chiếc giày đen duy nhất kéo lê trên mặt đường đông đá, chiếc dù vẫn còn bọc gió, mang hắn lại gần cửa chung cư Kirov, cằm hắn gục trên ngực, tóc đen đầy băng đá trong vắt, dưới ánh trăng mặt hắn không còn chút máu. Chúng tôi đứng yên chờ hắn lại gần hơn. Chúng tôi đã thấy những gì mà không ai từng thấy trong mùa đông đó, ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi và giả thử nếu tên Đức đó rút súng ra bắn, chắc không đứa nào chạy kịp. Nhưng mà người chết đã chết ngắc và cuối cùng chiếc dù cũng xẹp xuống, hắn đập mặt xuống mặt đường bị kéo lê thêm vài mét nữa trong sự nhục nhã cuối cùng của đời người.
Chúng tôi đứng chung quanh tên phi công. Hắn cao lớn, lực lưỡng, và nếu chúng tôi thấy hắn mặc thường phục đi dạo trên đường phố, chắc chắn sẽ nhận ra ngay là một người lạ xâm nhập từ bên ngoài – hắn có thân thể của một người ăn thịt mỗi ngày.
Grisha quỳ xuống gỡ bao đeo súng. “Tao đã bảo mà, đúng là súng Walther PPK”.
Chúng tôi lật ngửa tên Đức ra, cái mặt tái ngắt bị trầy trụa, đường nhựa đã cạo lớp da mặt người chết, phần thịt trơ ra cũng trắng phếu như phần da. Người chết không bị bầm tím. Tôi không biết hắn chết như thế nào, run sợ, phản kháng, hay bình thản. Không có dấu vết gì trên mặt hắn cho thấy cuộc sống và tính tình. Hắn trông như một xác chết từ lúc mới sanh.
Oleg tháo đôi găng tay bằng da đen trong khi Vera lấy khăn choàng cổ và kiếng an toàn. Tôi thấy bao dao găm cột ở cổ chân và rút ra một con dao thật đẹp với cái che ngón tay bằng bạc, lưỡi dao dài chừng 15 phân, chỉ có một cạnh sắc và có hàng chữ gì đó, tối quá tôi đọc không được. Tôi bỏ con dao vào bao da rồi cột vào cổ chân, lần đầu tiên cảm thấy cái định mệnh tham dự cuộc chiến của tôi đã thành sự thực.
Oleg tìm thấy cái ví tiền và cười toe toét đếm số tiền Đức. Vera bỏ túi chiếc đồng hồ bấm giờ, to gấp đôi đồng hồ thường mà lính Đức đeo ở cổ tay áo bay. Grisha được một ống nhòm đựng trong hộp da, hai gắp đạn cho cây súng ngắn, và cái bình dẹp đeo bên hông. Hắn mở nắp ngửi một chút rồi trao cho tôi cái bình.
“Cognac hả?”
Tôi nhấp một ngụm rồi gật đầu. “Đúng là cognac”
Vera hỏi “Mày có bao giờ thử cognac chưa mà biết?”
“Có thử rồi”
“Bao giờ?”
“Để tao xem”, Oleg nói, và bình rượu được chuyền vòng tròn, 4 đứa chúng tôi ngồi xung quanh tên phi công chết, uống thứ rượu có thể là cognac hay brandy hay Armagnac. Không đứa nào phân biệt được. Chẳng cần biết là rượu gì, nhưng thấy thật ấm bụng.
Vera nhìn chằm chặp vào mặt tên phi công. Cô nàng chẳng lộ vẻ thương hại, sợ hãi, chỉ thấy tò mò và khinh bỉ - Quân xâm lăng đã ném chính mình xuống đây thay vì ném bom. Dù chúng tôi không bắn hạ phi cơ hắn, nhưng vẫn cảm thấy đã đắc thắng. Không ai trong khu chung cư Kirov được gặp một xác chết địch quân như chúng tôi. Sáng mai bọn tôi sẽ là đề tài cho cả khu chung cư tha hồ bàn tán.
“Mày nghĩ tại sao nó chết” Vera hỏi tôi. Không có vết thương trí mạng nào cả, không vết cháy trên tóc hay da, cũng không có dấu xô xát. Da của hắn trắng bệch và không có dấu bị đâm chém.
Tôi nói với mấy đứa bạn “Hắn bị chết cóng đó mà”. Tôi tuyên bố chắc nịch như vậy, bởi vì chắc chắn đúng, nhưng chẳng có gì chứng minh điều đó. Người phi công đã nhảy ra từ trên cao vài ngàn mét trong màn đêm của Leningrad. Mớ quần áo hắn đang mặc làm sao chịu nổi nhiệt độ lạnh cóng sát mặt đất – lơ lửng trong mây, ngoài phòng lái máy bay, hắn chẳng có cơ hội sống sót.
Grisha dơ cao bình rượu chào mừng. “Vinh danh mùa đông giá lạnh.”
Bình rượu lại được chuyền tay. Nó chẳng kịp tới tay tôi nữa. Chúng tôi đáng lẽ phải nghe tiếng máy xe đang chạy tới cách ít nhất hai con đường, thành phố trong giờ giới nghiêm yên lặng như mặt trăng, nhưng bọn tôi còn mải uống rượu và chúc mừng chiến thắng. Cho đến khi chiếc xe GAZ quẹo vào đường Voinova, tiếng bánh xe rít trên mặt đường, đèn xe rọi thẳng vào chúng tôi, cả đám mới nhận ra sự nguy hiểm. Hình phạt vi phạm giờ giới nghiêm là tử hình. Hình phạt bỏ nhiệm sở cứu hỏa là tử hình. Hình phạt ăn cắp vặt là tử hình. Tòa án không còn hoạt động nữa, cảnh sát thì đang ngoài tiền tuyến, nhà tù đã đầy một nửa, và đang thu nhỏ lại. Đâu có dư đồ ăn cho tội phạm. Nếu vi phạm luật, sẽ bị xử bắn thôi. Chẳng có ra tòa ra tiếc gì cả.
Cho nên phải dọt lẹ. Chúng tôi biết rành đường hướng trong khu chung cư hơn bất cứ ai. Lọt qua cửa và lủi vào bóng tối lạnh lẽo của khu chung cư ngổn ngang Kirov, dù bỏ ra 3 tháng cũng chẳng ai tìm ra. Đám lính hét lên “đứng lại”, nhưng mặc kệ, tiếng la hét không làm chúng tôi run sợ, súng đạn thì khác, nhưng chưa nghe tiếng súng nào cả. Grisha phóng đến cổng sớm nhất – nó là thằng khỏe mạnh nhất trong đám, nhảy lên bám vào đầu hàng rào sắt rồi đu qua, tiếp theo là Oleg rồi mới đến tôi. Thân thể bạc nhược, bắp thịt teo lại vì thiếu dinh dưỡng, nhưng sự sợ hãi giúp chúng tôi vượt qua hàng rào nhanh chưa từng thấy.
Gần tới đỉnh của chiếc cổng sắt tôi quay lại nhìn thấy Vera trợt chân trên mảng nước đá. Nàng nhìn tôi cầu cứu, mắt tròn xoe và thất thần, hai tay và đầu gối chống trên mặt đất đang khi chiếc xe GAZ vừa thắng gấp bên cạnh xác chết của tên phi công Đức và bốn người lính bước ra khỏi xe. Họ chỉ cách 10 mét thôi, súng trường cầm tay, nhưng tôi vẫn còn đủ thời giờ để phóng qua cổng sắt và biến mất trong khu Kirov.
Tôi mong rằng tôi có thể nói là ý nghĩ bỏ rơi Vera không bao giờ đến trong đầu tôi, bạn tôi đang gặp nguy hiểm và tôi đã cứu bạn không do dự. Mặc dầu thực sự là ngay lúc đó tôi ghét cay ghét đắng cô ấy, hận cô vì tại sao ngay giờ phút nguy hiểm đó cô ta lại chậm chạp như vậy, hận cô vì tại sao lại nhìn tôi cầu cứu với cặp mắt nâu thất thần, và vì tại sao lại chọn tôi làm người cứu cô ta mặc dầu cô chỉ hôn một mình Grisha. Tôi biết tôi không thể nào sống với ký ức về đôi mắt khẩn cầu đó, và cô nàng cũng biết như vậy. Tôi hận cô ngay cả khi vừa nhảy xuống từ đầu cổng sắt, đỡ cô đứng dậy, và nâng cô lên hàng rào sắt. Tôi yếu ớt, nhưng Vera chỉ nặng chưa đầy 40 kilo. Tôi đẩy cô lên cao khỏi hàng rào trong khi đám lính la lối om sòm và nện đế giày dồn dập trên nền xi măng, súng lên đạn rốp rốp.
Vera trèo qua hàng rào, tôi dồn lên phía sau cô ta, mặc kệ đám lính. Nếu tôi đứng lại, bọn lính sẽ bao vây lấy tôi, bảo tôi là kẻ thù của nhân dân, bắt tôi quỳ xuống, và bắn vào sau ót tôi. Tôi là tấm bia nhắm dễ dàng, nhưng biết đâu, bọn lính đã say rượu rồi, hay họ cũng chỉ là mấy đứa con nít sống trong thành phố như tôi, chưa bao giờ biết bắn súng; có thể họ cố tình bắn hụt vì biết rằng tôi là một người yêu nước và là một người bảo vệ thành phố chống giặc ngoại xâm, một người chỉ trốn ra khỏi khu chung cư vì tên lính Đức rơi xuống từ 5.000 mét trên con đường của tôi, và sao một đứa trẻ 17 tuổi lại không trốn ra đường để lượm tên lính Đức đã chết.
Cằm của tôi đã ngang với đỉnh hàng rào, khi tôi cảm thấy có những bàn tay có mang bao da nắm lấy cổ chân tôi. Những bàn tay mạnh mẽ, bàn tay của đám lính ăn hai bữa mỗi ngày. Tôi thấy Vera chạy trốn vào khu chung cư, chẳng hề quay lại. Tôi cố bám vào các song sắt, nhưng đám lính kéo tôi xuống, liệng lên lề đường, và đè chân lên người tôi, nòng súng Tokarev ấn vào má tôi. Bọn lính đó không ai già hơn 19 tuổi, và chẳng đứa nào ngại ngùng bắn nát óc tôi.
“Chắc sắp bĩnh ra quần rồi đây.”
“Mày ăn nhậu ở đây hả con? có cả rượu nữa hả?”
“Rất hữu dụng cho Đại Tá. Nó có thể ngồi cùng với tên lính Đức”
Hai người trong bọn họ, cúi xuống nắm lấy cánh tay tôi, kéo tôi đứng dậy và dẫn đến chiếc xe GAZ còn đang nổ máy, đẩy tôi vào ghế sau. Hai người kia cầm tay và chân tên lính Đức và liệng vào trong xe cạnh tôi.
Một người nói: “Giữ nó cho ấm áp”, cả bọn cười vang như thể đó là câu khôi hài hay nhất chưa bao giờ từng nói. Bọn họ dồn cả vào xe và đóng chặt cửa.
Tôi đoán tôi vẫn còn sống bởi vì họ muốn xử bắn tôi trước công chúng để cảnh cáo mấy đứa ăn cắp vặt. Thật nực cười, chỉ vài phút trước đây, tôi cảm thấy mình đầy quyền lực, gấp mấy lần tên phi công đã chết. Trong khi chúng tôi đang chạy qua những đường phố tối thui, tránh né những hố bom, và gạch vụn, tên lính Đức dường như đang cười to chế nhạo lại tôi, miệng rộng tới mang tai. Chúng tôi cùng đi về một hướng.
Chương 2
Chúng tôi ngủ trong kho chứa dụng cụ của trường học, 35 người chúng tôi chen chúc trong một khoảng không gian chỉ đủ cho 8 người nằm thoải mái. Không ai có thể nằm thẳng lưng. Tôi ngồi co ro trong một góc, giữa Kolya và Vika. Thật là tội nghiệp cho cái lưng của tôi, nhưng rất dễ thở, bởi vì khe hở giữa hai tấm ván vách tường là cái thông hơi duy nhất, nếu ngộp ngạt quá, tôi có thể quay đầu ra và hít hơi lạnh trong lành.
Không có ánh sáng. Bọn lính Đức đã đóng kín cánh cửa nhà kho bằng đinh sắt; tôi vẫn có thể nghe bọn lính gác ở bên ngoài nói chuyện và mồi thuốc lá, tuy vậy đám tù binh vẫn bàn về việc đào thoát. Tôi không thấy mặt bọn họ, nhưng cảm giác y hệt như lúc nghe radio những vở kịch nói mà mẹ tôi rất thích.
"Tôi nói cho mà nghe, chúng ta có thể nậy tấm ván này như đập vỡ vỏ hột dẻ. Một người kề vai vào khe hở đó, thế là hắn có thể lách ra ngoài dễ dàng."
"Bạn nghĩ vậy hả, bạn là thợ mộc hả? Tôi là thợ mộc đây, khi chúng nhốt chúng ta vào đây, tôi đã để ý nhìn bức tường gỗ này. Đó là gỗ cây bạch dương, cứng lắm đó."
"Nếu thoát ra ngoài, sẽ ra sao? Mấy thằng lính Đức đang chờ ở đó với súng máy, biết không."
"Mấy thằng lính? hai hay ba? Chúng ta sẽ đánh chúng nó, có thể chúng giết vài ba người chúng ta, nhưng chúng ta sẽ thanh toán chúng nó."
"Có ai biết chúng nó có bao nhiêu người ngoài đó không?"
Tôi nghiêng đầu nhìn ra ngoài qua khe hở.
"Tôi thấy hai tên Đức. Nhưng có thể nhiều hơn nữa ở phía bên kia."
"Sao cũng được, miễn sao tôi không phải là người ra đầu tiên."
"Chúng ta thoát một lượt cùng nhau."
"Thế nào đi nữa cũng phải có người đầu tiên và người cuối cùng chứ."
"Tôi nói cho các bạn nghe, thôi thì cứ đợi và làm theo ý bọn Đức. Chiến tranh không kéo dài mãi mãi đâu."
"Chúng nó là ai vậy, Edik, Sao mày không chết trong hỏa ngục cho rồi, hỡi con chó già? Mày không nhìn thấy chuyện gì đã sảy ra hôm nay sao? Mày còn tin mấy thằng đụ ngựa đó sao?"
"Nếu chúng nó muốn giết mình, chúng đã làm rồi. Chúng chỉ giết mấy thằng rửng mở thôi, mấy thằng nhóc trong Đảng ấy."
"A! mày là thằng già dịch, mày biết không? Tao mong mấy đứa con mày ỉa trong bát cháo của mày."
Kolya nghiêng qua người tôi trong đêm tối để hắn có thể thì thầm với Vika tránh đám người đang cãi cọ kia.
"Tên chỉ huy Đức .. ở ngay sát chúng ta. Cô hãy nói với Marko chúng ta không giết tụi lính Đức, hãy để dành cho bọn lính Đặc Nhiệm Einsatz."
Một khắc yên lặng, không thấy Vika trả lời, Tôi nghĩ nàng đang tức giận vì lối nói chuyện châm biếm đó, nhưng Vika lên tiếng rất ôn tồn.
"Chắc tôi hơi sợ rồi, còn anh?"
Kolya thở dài. "Tôi không muốn làm lúc đó. Giết một người, rồi mình bị tan ra từng mảnh à?"
"Nhưng mà có lẽ chúng ta đã chờ quá lâu rồi, Thời gian đó có lẽ là cơ hội tốt nhất của chúng ta."
Tôi chỉ quen nàng mới một ngày, nhưng ý tưởng của nàng làm tôi ngạc nhiên. Nàng không phải là hạng người mất tự tin nhưng trong câu nói đã dùng chữ có lẽ đến hai lần.
"Tao gần như muốn ra tay lúc đó." Kolya vừa nói vừa huých vào vai tôi. "Khi hắn ta hỏi mày về ông bà ông vải của mày. Tao nghĩ nó muốn tụt quần mày ra coi xem chim có teo không? Tao đã nắm lấy cán súng rồi, nhưng may mắn, tao thuyết phục được hắn, phải không nhóc. Mày có thích cái ý kiến đó của tao không?"
Tôi nói: "Mày tài lắm, mau mắn lắm"
"Thật tình mà nói nó nhìn tao, muốn chửi thề."
Vika thì thầm với tôi trong khi đụng vào đầu gối tôi trong đêm tối: "Như tôi vẫn nói trước đây, về người Do Thái, bọn Đức ghét nhất người nào đó, thì người ấy là bạn tôi."
"Nó chỉ có một nửa là Do Thái thôi." Kolya chêm vào như một lời vuốt đuôi với Vika.
"Một nửa tốt nhất đó," tôi trả lời. Vika cười. Tôi không ngờ nàng lại dễ cười như vậy, tiếng cười rất lạ lùng, không phải có gì đặc biệt, chỉ là tiếng cười của một cô gái bình thường.
Tôi hỏi nàng: "Cô làm gì trước chiến tranh?"
"Tôi đi học."
"Ừm!" đó là tiếng than của Kolya. Tôi tưởng rằng nó đã ngủ rồi, nhưng coi bộ còn tỉnh táo lắm, chắc đủ để tham gia một cuộc trò chuyện dài.
"Tôi cũng thế, Cô học ngành gì thế? Canh Nông phải không?"
"Tại sao canh nông."
"Cô không phải từ nông trường ra sao."
"Tôi có giống người trong nông trường chó đẻ đó chăng? Tôi đến từ Archangel."
"À, gái Bắc, thế thì đúng rồi." Nó huých cùi chõ vào cạnh sườn tôi. "Nàng là hậu duệ của đám VIKING. Vậy cô học trường Đại Học trên đó hả, nghiên cứ về gỗ và rái cá hả."
"Thiên Văn cơ."
"Tôi học văn chương, đại học Leningrad."
Bọn lính Đức nậy tấm ván ép đóng trên khung cửa làm chúng tôi thức giấc. Ánh sáng đầu ngày xuyên qua kẽ hở của những tám ván, lấp lánh trên chiếc trán bóng nhẫy, trên đôi giày da há mõm, trên khuy áo choàng bằng sừng của một lão già.
Vika ngồi cạnh tôi, cắn móng tay. Nàng cắn móng tay một cách từ tốn, không giống một người đang lo lắng mà giống một tên đồ tể đang mài sắc lưỡi dao của mình. Một lúc nào đó trong đêm tối, nàng đã nhẹ nhàng rời xa tôi mà tôi không hề hay biết. Khi thấy tôi đang chăm chú nhìn, nàng nhìn trả lại với ánh mắt lạnh lùng. Bất kỳ dấu vết thân tình nào mà tôi cảm nhận được tối hôm qua cũng đã biến mất theo đêm tối, khi những tia sáng đầu ngày vừa xóa tan màn đêm.
Cánh cửa mở, lính Đức quát tháo bắt chúng tôi lên đường, đám nông dân rời nhau ra. Tôi thấy lão già Edik đưa ngón tay trỏ xần xùi đè lên một bên mũi và hỉ ra một đống nước mũi trên sàn nhà chút xíu thì trúng vào mặt người khác.
Kolya vừa quấn khăn choàng quanh cổ vừa làu bàu “Ối chà, có phải mày cũng từng muốn sống chung với mấy đồng chí nông dân trong nông trường không hả?”
Khi tù nhân bắt đầu bước ra cửa, một người đàn ông mãi tân góc xa của nhà kho hét lên thất thanh. Mấy người chung quanh anh ta cố tìm hiểu cái gì làm anh ta sợ hãi như vậy, ngay sau đó họ lo lắng thì thầm với nhau. Từ xa chúng tôi chỉ nhìn thấy những cái lưng của bọn nông dân. Kolya và tôi đứng bất động, tò mò nhìn cảnh tượng huyên náo đó. Vika chẳng quan tâm, nàng bước về hướng cửa ra vào.
Hai đứa tôi đi về phía bên kia tường nhà kho, nhẹ nhàng quanh đám nông dân và nhìn xuống người đàn ông vẫn còn nằm trên sàn nhà. Đó là anh chàng đã tố cáo Marko, bị cắt cổ, máu chảy thành dòng, mặt trắng bệch. Hắn chắc chắn bị giết chết khi còn say ngủ, nếu không chúng tôi đã nghe tiếng la hét. Mắt hắn đã mở lớn khi lưỡi dao chạm vào da thịt. Đôi tròng mắt muốn lòi ra ngoài, kinh hoàng trợn chừng vào những khuôn mặt đang cúi xuống.
Một anh nông dân giựt đôi giày từ chân người chết, người khác thì lấy đôi bao tay bằng da cừu, người thứ ba kéo cái dây lưng bằng da. Kolya quỳ xuống và nhanh tay giựt chiếc mũ chùm đầu. Tôi quay lại nhìn thấy Vika đang sửa lại chiếc mũ lông thỏ, kéo xuống thấp che gần hết trán. Nàng nhìn lại tôi trong một giây rồi bước khỏi cửa. Một chập sau, tên linh Đức bước vào, giận dữ như vẻ sãn sàng nổ súng vì việc di chuyển bị trì trệ. Anh ta nhìn thấy thi thể người chết, cái cổ bị cắt lìa, dòng máu dưới lưng chia làm hai, trông giống như thể đôi cánh đen thui của một quái vật. Cảnh ám sát làm người lính ngại ngùng, hắn sẽ trả lời thế nào cho cấp trên. Người lính hỏi một câu bằng tiếng Đức có lẽ cho chính anh ta hơn là cho chúng tôi, không trông chờ câu trả lời. Kolya hắng giọng rồi trả lời. Tôi chẳng biết khả năng nói tiếng Đức của hắn thế nào nhưng người lính Đức rất ngạc nhiên khi nghe tiếng mẹ đẻ của mình qua miệng một tù nhân.
Người lính lắc đầu, trả lời một câu cộc cằn rồi ra dấu cho chúng tôi ra khỏi nhà chứa dụng cụ. Khi ra bên ngoài, tôi hỏi Kolya xem hắn đã nói gì.
“Tao nói với nó rằng bọn nông dân ghét người Do Thái hơn cả người Đức.”
“Hắn trả lời sao?”
“Làm đúng lắm, như người Đức vậy.”
Kolya cố chùm cái mũ lên đầu, chiếc mũ hơi nhỏ, nhưng làm sao hắn cũng kéo được hai miếng che tai xuống để cột hai đầu sợi dây với nhau.
“Mày tưởng là cho chúng biết mày nói được tiếng Đức là khôn ngoan sao? Sau khi trải qua những sự kiện như tối hôm qua”
“Không, rất nguy hiểm là đàng khác, Nhưng mà ít ra bây giờ chúng cũng không hỏi gì nữa.”
Bọn tù nhân xếp thành một hàng dọc. Bước đi lộn xộn, nheo mắt trong nắng sớm chói chang, đi tới môt tên lính gật gà gật gù, đôi mắt vãn còn lem nhem ngái ngủ. Anh ta phát cho chúng tôi một miếng bánh bích quy tròn cứng như cục than đá.
“Điềm tốt,” Kolya vừa lẩm bẩm vừa lấy móng tay gõ trên miếng bánh.
Chẳng bao lâu, chúng tôi đi bộ theo đại đội Gebirgsjager, đầu cúi xuống để tránh gió. Hôm nay được đi trên đường, mặc dầu mặt đường bị phủ bởi lớp tuyết dầy in đầy dấu bánh xe. Được vài cây số khỏi trường học, vượt qua bảng chỉ đường tới Mga, tôi ra dấu cho Kolya.
“Hừ, hôm nay là thứ mấy rồi?”
Tôi phải tính toán một chút, đếm ngược lại đến thứ bảy.
“Thứ Tư. Chúng ta phải trình diện ngày mai với một tá trứng gà.”
“Thứ Tư à …tao chưa đi cầu 13 ngày rồi. 13 ngày …sao vậy nhỉ? Dường như tao chưa hề ăn cháo gà, xúc xích, củ khoai tây với hai cô bé, bánh mì khẩu phần…sao vậy, chẳng lẽ mấy thứ đó cứ nằm trong bụng mãi thành một đống khốn kiếp ư?
“Mày muốn đi cầu, hãy hỏi Edik.” Một lão già nhà quê râu xồm xoàm vừa nghe kolya than phiền vội cho hắn lời khuyên.
“Lấy ít vỏ cây hắc mai, bỏ vào nước, đun sôi, uống nước đó, bảo đảm hiệu nghiêm.”
“Hay lắm, ông thấy cây hắc mai nào gần đây không?’
Edik dòm hàng cây thông bên đường rồi lắc đầu.
“Tôi sẽ ra dấu cho cậu, nếu chúng ta đi ngang qua cây đó.”
“Cám ơn nhiều lắm. Nếu có thể, làm ơn kiếm giúp tôi nước sôi luôn thể.”
Edik đã quay mặt về phía trước và trở lại vị trí của lão hiểu rằng một tên lính Đức đang nhìn về phía chúng tôi.
Kolya bắt đầu kể chuyện diễu.
“Stalin đi thăm một nông trường ngoại ô Mạc Tư Khoa, tìm hiểu xem kế hoạch 5 năm được thi hành ra sao. Ông ta hỏi một nông dân ‘Đồng chí cho tôi hay mùa trồng khoai tây năm nay thu hoạch thế nào?’ “Tốt lắm, đồng chí Stalin. Nếu chúng ta chất thành đống sẽ cao đến mặt Thượng Đế.’ ‘Nhưng mà làm gì có Thượng Đế hả đồng chí nông dân?’ ‘Khoai Tây cũng vậy thưa đồng chí Stalin.’ “
“Cũ rích.”
“Chuyện cười trở thành cũ chỉ vì rất hay. Nếu không, ai mà thèm kể đi kể lại?”
“Những người chẳng biết khôi hài là gì như mày ấy.”
“Chẳng giúp được gì, nếu mày không cười, Tao làm bọn con gái cười nghiêng ngả, đó mới quan trọng.”
“Mày có nghĩ cô ta làm việc đó không?” Tôi hỏi hắn. Nó liếc nhìn tôi, bỡ ngỡ một chút đến lúc thấy tôi đang nhìn Vika, cô nàng đi cách chúng tôi một khoảng, gần về phía hàng đầu.
“Chứ còn ai nữa.”
“Tao mới … Nàng tựa sát vào tao cả đêm. Khi tao ngủ quên, đầu nàng còn dựa trên vai tao…”
“Đó là sự cận kề nhất của mày trong vấn đề yêu thương. Mày thấy không? Hãy nghe lời tao, mày sẽ học được nhiều đấy.”
“- Và không biết làm sao nàng rời xa tao, mày nên biết tao không ngủ mê, bò qua 30 tên nông dân, trong đêm tối, cắt cổ tên phản bội, rồi bò trở lại? Không khinh động một ai?”
Kolya gật đầu, vẫn dòm chừng Vika đang đi một mình, lướt mắt thăm dò con đường và vị trí đám lính Đức.
“Nàng là một thiên tài sát thủ.”
“Đặc biệt cho một nhà thiên văn học.”
“Này, đừng tin tất cả những gì lọt vào lỗ tai.”
“Mày nghĩ cô ả đang nói dối sao?”
“Tao tin rằng cô ta học Đại Học một thời gian, người ta móc nối cô ta ở đó. Nhưng mà chú sư tử nhỏ của tôi ơi, mày nghĩ cô ta học bắn súng hay như vậy trong lớp học thiên văn à? Cô ả là Mật Vụ đấy, họ có nhân viên trong mỗi tổ dân quân kháng chiến đó.”
“Mày biết đếch gì?”
Hắn im lặng trong vài giây, chân này đá vào giày chân kia cho tuyết rớt ra khỏi đế giày, tay vin vào tôi để giữ thăng bằng.
“Tao không biết gì hết. Có lẽ tên mày cũng không phải là Lev. Có lẽ mày là kẻ si tình hạng nhất trong lịch sử nước Nga. Nhưng tao cân nhắc bằng chứng và tuyên bố một suy đoán đứng đắn rằng đám dân quân là du kích địa phương. Đó là lý do họ chiến đấu rất hiệu quả, họ thông hiểu đường đi nước bước hơn tụi Đức. Họ có bạn bè quanh đây, gia đình cho đồ ăn, chỗ ngủ an toàn. Nào, cho tao hay từ đây dến Archangel bao xa?”
“Tao Không biết.”
“Tao cũng không biết, 7 trăm hay 800 cây số? Biên giới Đức chắc còn gần hơn. Bộ mày tưởng đám nông dân đó tin một cô gái rớt từ trên trời xuống ư? Không đâu, cô ả được gởi đến cho họ.”
Nàng đang bước nặng nề trên tuyết phía trước, hai tay thọc trong áo khoác ngoài. Nhìn từ đàng sau, nàng giống như một đứa bé trai 12 tuổi mặc một bộ đồ thợ máy ăn cắp ở đâu đó.
“Không biết cô ta đã dậy vú chưa nhỉ?” Kolya nói.
Lời nói thô tục của hắn làm tôi ngượng ngùng, mặc dầu tôi cũng thắc mắc như hắn. Suy đoán thân thể của nàng dưới bao nhiêu lớp áo là điều không thể. Nhưng tôi có thể nói nàng chẳng có một đường cong nào cả, phẳng lỳ và mảnh khảnh như chiếc lá cỏ.
Hắn đoán được tư tưởng tôi hiện ra trên mặt bèn mỉm cười.
“Tao đã đả kích mày hả? Tao xin lỗi vậy. Mày thích cô bé phải không?
“Tao không biết.”
“Tao sẽ không nói về cô bé như thế nữa, mày bỏ qua nhé?”
“Mày có thể nói về cô ta bằng cách nào tùy ý.”
“Không, không, bây giờ tao hiểu rồi. Nhưng nghe tao đi, đây không phải là con cá dễ cắn câu đâu.”
“Mày sắp sửa cho tao thêm những lời khuyên từ cuốn sách tưởng tượng của mày phải không?”
“Hãy nghe lời tao. Chế diễu tao cũng được, nhưng tao hiểu mấy vụ lẩm cẩm này hơn mày. Tao đoán cô nàng có chút cảm tình với cái tên Korsakov đó. Hắn từng trải hơn mày, cho nên đừng cố lấy cảm tình của nàng bằng cách tỏ ra rằng mình ngon lành hơn nó.
“Nàng không yêu hắn đâu.”
“Một chút cảm tình thôi.”
“Tao chưa bao giờ nghĩ sẽ phô trương với nàng về sự phong trần của tao. Mày nghĩ tao ngu lắm phải không?”
“Vậy thì vấn đề sẽ là mày chiếm cảm tình của nàng bằng cách nào?”
Kolya im lặng một hồi lâu, mắt nhíu lại, trắn nhăn lên, duyệt lại xem tôi có ưu điểm nào. Trước khi hắn có thể tìm được gì, chúng tôi nghe tiếng la hét phía sau, bọn lính cai tù đang làm dấu cho chúng tôi dạt ra bên đường. Một đoàn xe với những chiếc xe chạy vừa bằng bánh cao xu và xích sắt, ầm ĩ vượt qua chúng tôi, thùng xe được đậy kín bằng vải bạt. Đoàn xe chở vật liệu tiếp tế ra mặt trận, Chúng tối đứng nhìn năm phút rồi, nhưng đoàn xe dài như bất tận. Tụi Đức chẳng muốn khoe khoang với đám tù nhân, nhưng tôi thực sự thán phục. Xăng dầu trong thành phố Piter thiếu thốn đến nỗi tôi chỉ thấy khoảng bốn hay năm chiếc xe di chuyển trong một ngày. Tôi đã đếm được hơn bốn mươi xe vận tải hai hệ, hai bánh trước bằng cao xu, hai bánh sau là xích sắt, có những ngôi sao ba góc gắn trên chiếc lưới sắt phía trước, phía sau sơn những hình chữ thập đen viền trắng.
Sau đoàn xe hai hệ, là những chiếc xe thiết giáp 8 bánh, rồi đến thiết giáp hạng nặng với súng đại bác, cuối cùng là những xe vận tải hạng nhẹ chở lính ngồi đối diện trên 2 hai hàng song song. Những người lính mặc áo chòang trắng, mặt mày mệt mỏi, râu ria xồm xoàng, súng khoác trên vai.
Chúng tôi nghe tiếng chửi thề từ toán đầu của đoàn xe, mấy người tài xế ngóc đầu ra ngoài để xem chuyện gì sảy ra. Một chiếc chiến xa gắn đại bác bị tuột giây xích, người tài xế đang vội vã sửa chữa. Khẩu đại bác làm nghẽn lối những chiếc xe phía sau.
Lính tráng được dịp xuống xe và đứng một hàng dài đái bên lề đường, một hàng dài chừng vài trăm người. Họ dậm chân la hét lẫn nhau để xem ai bắn súng nước xa nhất. Hơi nước bốc lên từ tuyết màu vàng.
“Xem kìa mấy thằng khốn nạn đái bừa bãi trên đát của cbungs mình, “ Kolya thì thầm. “Chúng nó sẽ không cười cợt khi tao ngồi xổm và ỉa giữa thành phố Bá Linh. “ Suy nghĩ vớ vẩn làm hắn tươi tỉnh hẳn lên. “Có lẽ đó là lý do tao đã không ỉa ra được, chắc để chờ ngày chiến thắng.”
“Cái bụng yêu nước.”
”Toàn phần thân thể tao đều yêu nước. Con cu của tao sẽ huýt gió bài ca Sô Viết khi ngày chiến thắng đến.”
“Mỗi khi tôi nghe mấy người nói chuyện, toàn là nói chuyện tục tĩu không vậy,”
Vika đã rón rén đến sau lưng chúng tôi như mọi lần không một tiếng động, khiến tôi giât mình khi nàng lên tiếng. “Sao mấy người không trần truồng ra làm luôn đi cho xong việc.”
“Không phải hắn muốn lột trần tôi ra đâu,” Kolya nói một cách dâm đãng.
Tôi cảm thấy xấu hổ và cơn giân dâng trào, nhưng Vika coi như không nghe thấy gì cả. Nàng vừa canh chừng bọn lính gác và đám tù nhân rồi dúi cho chúng tôi mỗi người một nửa lát bánh mì lúa mạch.
“Có thấy chiếc xe chỉ huy ở cuối đoàn xe không?” Nàng vừa hỏi mắt nhìn về đó nhưng không dùng tay để ra dấu.
“Đây là miếng bánh mì ngon nhất kể từ dạo mùa hè,” Kolya bình phẩm, miếng bánh mì đã ăn hết mất rồi.
“Thấy chiếc xe Comandeurwagon với cái chắn bùn vẽ hình chữ thập kia không? Đó là chiếc xe của thằng Abendroth đó.”
“Sao mà cô biết?” Tôi hỏi nàng.
“Bởi vì chúng tôi đã theo dõi nó 3 tháng nay. Suýt nữa tôi đã có cơ hội giết nó bên ngoài thị trấn Budogoshch. Cái xe đó là của nó.”
“Có kế hoạch gì chưa?” Kolya vừa hỏi vừa cậy một hạt careway dính giữa kẽ răng.
“Khi đoàn xe di chuyển trở lại, tôi sẽ đợi hắn đến gần để có cơ hội giết hắn. Chẳng mấy khó khăn.”
Tôi nhìn đoạn đường từ trên xuống dưới. Chúng tôi đứng giữa ước chừng một tiểu đoàn lính Đức, hàng trăm tay súng vừa trên xe bọc sắt vừa bộ binh bao chung quanh. Lời nói của Vika vừa rồi có nghĩa là chúng tôi sẽ mất mạng trong vài phút nữa, dù nàng có bắn trúng mục tiêu hay không.
“Tôi sẽ bắn,” Kolya nói. “Cô và Lev đứng chung với đám nông dân ngu muội kia. Không lý do gì lại hy sinh tất cả. “
Vika cong đôi môi trong kiểu cười nửa miệng và lắc đầu:
” Tôi bắn giỏi hơn cậu.”
“Cô chưa thấy tôi bắn bao giờ.”
“Đúng vậy. Và tôi bắn giỏi hơn cậu.”
Tôi chêm vào:
“Cả hai người cùng bắn cũng chẳng khác gì, bộ hai người nghĩ bọn chúng sẽ tha cho bất cứ ai trong chúng ta sao.”
“Cậu nhóc nói có lý”, Kolya nói. Hắn đảo mắt nhìn đám tù nhân mù chữ đứng chung quanh. Họ đang dậm chân và xoa tay để cố giữ hơi ấm, hầu hết bọn họ là những nông dân chưa hề đi xa nông trường vài cây số. Một vài người là lính Vệ Binh Đỏ lẫn lộn trong đó. Một hay hai người, tôi biết chắc rằng cũng biết đọc như tôi.
“Chúng nó nói có bao nhiêu tù nhân nhỉ? Ba mươi tám phải không?”
“Còn ba mươi bảy thôi,” Vika sửa lại. Thấy tôi đang nhìn nàng chăm chú, đôi mắt màu xanh lơ của nàng không ngại ngùng hất ngược lại. “Cậu nghĩ có thể sống được bao lâu nếu đám dân quê đó phát hiện cậu thiếu cái gì ở đó” nàng chỉ xuống háng của tôi, “và tố cáo cậu để được thêm tí xúp?”
“Ba mươi bảy … Hình như hơi quá đáng để đánh đổi một tên Đức,” Kolya nói.
“Ba mươi bảy tù nhân đến xưởng luyện thép ư? Những người này không còn là người Nga nữa,” nàng lẩm nhẩm bằng một dọng bình thản. “Họ là lao động Đức. và đáng để đổi mạng với tên Abendroth.” Kolya gật đầu hướng về chiêc xe chỉ huy đang đậu ở đàng xa kia.
“Chúng ta là quân tốt đen, nó là tướng đấy, có phải ý cậu vậy không?”
“Chúng ta còn kém hơn quân tốt đen. Tốt đen cũng còn có giá trị.”
“Nếu chúng ta bắt được Tướng vậy chúng ta cũng có giá lắm chứ.”
Vừa nói kolya vừa nháy mắt với tôi. Hắn nở một nụ cười tinh quái, mặt rạng rỡ vẻ kiêu ngạo của một tên Cossack với ý tưởng mới lóe trong đầu.
“Tôi có cách khác. Chờ ở đây một chút.”
“Anh làm gì thế?” Vika vội can hắn. Nhưng đã quá trễ; Hắn vội vã bước đến một đám lính gần đó. Đám lính Đức nheo mắt nhìn hắn và tay sẵn sàng trên cò súng. Kolya dơ hai tay lên cao và bắt đầu nói bằng tiếng Đức, hoạt bát vui vẻ như thể tất cả mọi người đang tụ tập dể xem một buổi diễn hành. Chỉ sau ba mươi giây, bọn lính cười rộn rã khi nghe hắn kể một chuyện tiếu lâm gì đó. Có một tên lính còn cho hắn kéo ké một hơi thuốc lá dài nữa chứ.
“Anh ta thật có duyên,” Vika khen. Nàng giống như một nhà côn trùng học đang phê bình đôi cánh của con bọ rầy.
“Có lẽ bọn chúng cho rằng hắn là người anh em thất lạc từ lâu.”
“Hai cậu thật là một đôi kỳ lạ.”
“Chúng tôi không phải là một cặp đôi.”
“Tôi không có ý đó. Đừng để ý, Lyova à. Tôi biết cậu thích con gái mà.”
Ba tôi thường gọi tôi trìu mến như vậy, Lyova, và bây giờ bất ngờ tôi lại được nghe từ chính miệng của nàng gọi tên cúng cơm của tôi một cách trơn tru tự nhiên như thể nàn đã gọi như thế hàng bao nhiêu năm rồi. Tôi muốn khóc.
“Anh ta chọc giân cậu lắm phải không? Khi anh ta bảo muốn nhìn thấy tôi trần truồng phải không?”
“Hắn nói nhiều câu ngớ ngẩn.”
“Thế cậu không muốn nhìn thấy tôi trần như nhộng?”
Vika nở nụ cười chế diễu, hai chân dạng ra xa, tay thọc trong túi áo khoác.
“Tôi không biết.” Đúng là một câu trả lời ngớ ngẩn và nhát hít, thực sự tôi không thể thích ứng được những thay đổi đối cực nhau. Một lúc tôi nghĩ mình chỉ còn vài phút sống sót, sau đó lại thấy cô nàng bắn sẻ đang đùa cợt với mình. Nàng đang cợt nhả với tôi sao? Tôi bị rối trí với những diễn biến nguy cơ kề cận. Những điều dường như “không thể tưởng tượng được“ sảy ra buổi chiều lại trở nên sự thực vào buổi tối. Xác chết tên lính Đức rơi từ trên trời xuống, một tên bán làm xúc xich làm bằng thịt người ở Chợ Trời Haymarket. Những con chó trở thành những trái bom. Những xác chết đông đá trở thành bảng chỉ đường. Người nông dân mất nửa mặt đứng lắc lư trong mưa tuyết, đôi mắt buồn thảm nhìn kẻ sát hại mình. Tôi chẳng có tí gì trong bụng, chẳng còn chút mỡ nào còn bám lấy xương. Không còn chút sinh lực nào cho cuộc hành trình hung hiểm này. Tôi chỉ lê bước, hy vọng sẽ tìm được một mảu bánh mì cho chính tôi và một tá trứng cho cô con gái Đại Tá.
“Anh ta nói ba của cậu là một thi sĩ nổi tiếng.”
“Ông không nổi tiếng như vậy đâu.”
“Có phải cậu cũng muốn trở thành như vậy không? Thi sĩ?”
“Không, tôi chẳng có tì gì về thơ cả.”
“Vậy cậu có tài gì?”
“Tôi không biết. Đâu phải ai cũng có tài năng thiên phú.”
“Đúng vậy. Mặc dù người ta luôn bảo thế.”
Nhìn bề ngoài có vẻ Kolya đang diễn thuyết trước đám lính đứng thành nửa vòng tròn bao quanh hắn, dơ tay múa chân để nhấn mạnh lời nói. Hắn chỉ tay về phía tôi, làm cổ họng tôi thắt lại khi đám lính quay mặt nhìn tôi, tỏ vẻ hiếu kỳ và nhạo báng.
“Hắn nói với bọn chúng cái gì đấy hả Trời?”
Vika nhún vai. “Nếu không cẩn thận hắn sẽ tự chuốc lấy họa.”
Những người lính dường như nghi ngờ, nhưng Kolya vẫn tiếp tục dỗ dành họ và cuối cùng một người trong số họ, lắc đầu như thể không thể tin nổi mình đang nghe vị nguời Nga điên này nói, điều chỉnh dây đeo MP40 và lao về phía sau đoàn xe. Kolya gật đầu với những người còn lại đang tụ tập xung quanh mình, buông một câu đùa cuối cùng khiến họ lại cười tươi, rồi thong thả trở lại chỗ chúng tôi.
"Bọn Nazis rất ngưỡng mộ cậu đấy," Vika nói. "Cậu đang trích Mein Kampf à?"
"Tôi đã thử đọc một lần. Rất chán."
"Cậu nói gì với họ vậy?"
"Tôi bảo tôi có một cuộc cá cược cho Herr Abendroth. Rằng bạn tôi ở đây, một cậu bé mười lăm tuổi từ khu Leningrad kém sang hơn, có thể chơi mà không cần hậu vẫn thắng Sturmbannfuhrer trong một ván cờ."
"Tớ mười bảy tuổi rồi."
"Ồ. Thế mười lăm chỉ là một nhát châm chọc thôi."
"Đây có phải là một trò đùa không?" Vika hỏi, nghiêng đầu sang một bên, nhìn Kolya và chờ cậu ấy cười và giải thích rằng cậu ấy không làm chuyện ngớ ngẩn đó.
"Không phải đùa."
"Cậu không nghĩ là nó sẽ thắc mắc làm sao cậu biết nó ở đây à? Biết cấp bậc của nó, biết nó chơi cờ sao?"
"Tớ nghĩ chắc nó sẽ thắc mắc tất cả những điều đó. Và điều đó sẽ làm nó tò mò, và điều đó sẽ khiến nó đến với chúng ta."
"Cá cược là gì?" tớ hỏi.
"Nếu nó thắng, nó có thể bắn chết chúng ta ngay lập tức."
"Nó có thể bắn chết chúng ta bất cứ lúc nào nó muốn, đồ ngốc đầu đặc."
"Đó là những gì các lính nói. Tất nhiên là nó có thể. Nhưng tớ nói với họ rằng Sturmbannführer là một người có danh dự, một người có nguyên tắc. Tớ nói rằng tớ tin lời nó và tớ tin vào tinh thần cạnh tranh của nó. Chúng say mê tất cả mấy chuyện máu me và danh dự đó."
"Còn nếu tớ thắng thì chúng ta được gì?"
"Đầu tiên, hắn giải phóng cả ba chúng ta." Hắn nhìn thấy nét mặt chúng tôi và cắt ngang trước khi chúng tôi kịp nói. "Đúng, đúng, các anh nghĩ tôi ngốc, nhưng hai người các anh mới là người chậm chạp. Chúng ta không thể chơi bây giờ, khi đoàn xe đang di chuyển. Hy vọng trò chơi sẽ diễn ra tối nay, bên trong, tránh xa tất cả những chuyện này." Kolya vẫy tay, chỉ vào những người lính Đức đang đứng thành vòng tròn lỏng lẻo, trò chuyện và hút thuốc; những chiếc xe bán bánh xe chở đầy lương thực; pháo hạng nặng. "Hắn sẽ không bao giờ thả chúng ta ra." "Rõ ràng hắn sẽ không bao giờ thả chúng ta. Nhưng chúng ta sẽ dễ dàng hơn nhiều trong việc tấn công hắn. Và nếu các vị thần mỉm cười, có thể chúng ta còn có cơ hội chạy trốn." "'Nếu các vị thần đang mỉm cười,'" Vika nói, chế giễu sự kiêu ngạo của Kolya. "Anh có chú ý đến cuộc chiến này không?"
Các thợ cơ khí đã gắn lại hệ thống xích trên pháo tự hành. Tài xế và đội của anh nhảy vào hầm lái. Chẳng bao lâu sau, động cơ khạc trở lại và con thú tháp pháo dài rên rỉ tiến lên, nghiền nát lớp băng đã hình thành quanh các miếng xích thép đúc. Những lính bộ binh dường như không vội quay lại xe tải của mình, nhưng sau lời tạm biệt khàn đặc cuối cùng, với các sĩ quan la hét và đoàn xe bắt đầu di chuyển, họ hít một hơi dài điếu thuốc, tắt chúng đi và nhảy trở lại những xe chở phủ bạt.
Người lính đã đi phát thông điệp cho Abendroth chạy bộ trở về đơn vị. Khi thấy chúng tôi nhìn theo, anh gật đầu và cười. Mặt anh hồng và không có lông, má tròn, dễ dàng tưởng tượng anh như một đứa bé trọc đầu đang khóc. Anh hô một từ tiếng Đức với chúng tôi trước khi chạy kịp chiếc xe tải đang lăn bánh, đưa tay ra và để một đồng đội kéo anh lên xe.
“Tối nay,” Kolya nói.
Những người lính canh của chúng tôi đã sủa vào mặt chúng tôi rồi, biết là chúng tôi chẳng hiểu gì và cũng không quan tâm. Thông điệp thì đủ đơn giản. Các tù nhân xếp thành hàng lần nữa, Vika trôi đi xa chúng tôi, và chúng tôi chờ đoàn xe dài đi qua. Khi Kommandeurwagen chạy qua, tôi cố nhín xem Abendroth, nhưng kính cửa sổ đã đóng băng.
Tôi nhớ ra một điều đã làm tôi bực bội và quay sang Kolya.
“Điều thứ hai cậu yêu cầu là gì vậy?”
“Hm?”
“Cậu nói nếu tớ thắng, trước hết hắn thả chúng ta. Vậy điều thứ hai cậu yêu cầu là gì?”
Anh ấy nhìn xuống tôi, đôi mày nghiêng lại về nhau, khó tin là tôi không đoán được.
“Không rõ ràng sao? Một tá trứng.”
Tối hôm đó, chúng tôi ngồi cùng những tù nhân khác trong một chuồng cừu ngay ngoài Krasnogvardeysk. Không khí có mùi len ướt và phân. Người Đức đã cho chúng tôi vài cành cây làm củi, và hầu hết mọi người đều tụ tập quanh một đống lửa nhỏ rụt rè ở giữa chuồng. Tối nay, họ mệt quá nên không muốn trò chuyện về việc trốn thoát. Họ kêu ca lười biếng rằng người Đức chưa cho ăn kể từ cái bánh quy buổi sáng, lẩm bẩm dự đoán thời tiết cho ngày mai, và chẳng bao lâu, tất cả đều ngủ trên nền lạnh, ôm nhau cho ấm. Vika, Kolya và tôi ngồi dựa lưng vào bức tường gỗ sứt mẻ, run rẩy, tranh luận xem liệu trò chơi có diễn ra không.
"Nếu hắn gọi chúng ta," Vika nói, "nếu họ đưa chúng ta đến gặp hắn, tớ hứa với cậu, họ sẽ khám chúng ta xem có vũ khí không."
"Họ đã khám tù nhân rồi mà. Họ sẽ nghĩ thế nào, rằng chúng ta tìm thấy súng trong chuồng cừu sao?"
"Người đó biết mình là mục tiêu. Hắn rất cẩn thận. Họ sẽ tìm thấy súng."
Kolya đáp lại bằng một tiếng xì đầy thương tiếc, trầm và trang nghiêm như một nốt nhạc duy nhất từ kèn bariton. Vika nhắm mắt lại vài giây, thở bằng miệng. Tôi quan sát hàng mi đỏ nhạt của cô dưới ánh lửa.
"Dù sao đi nữa," cuối cùng cô nói, "họ sẽ tìm thấy súng thôi."
"Vậy chúng ta nên làm gì, siết cổ người đó sao?"
Cô đưa tay vào bộ đồ bảo hộ, rút con dao Phần Lan của mình khỏi bao dao trên thắt lưng, và bắt đầu khắc một nấm mồ nhỏ trên đất đóng băng. Khi nó đủ sâu, cô chôn khẩu súng lục và đưa tay ra để nhận tay Kolya.
"Tôi muốn giữ nó."
Cô ấy chờ với tay ra và cuối cùng anh ta cũng đưa cho cô ấy. Khi cả hai khẩu súng lục đều bị đất phủ, cô ấy cởi áo liền quần ra và tháo thắt lưng. Kolya nhúc nhích nhẹ tôi một cái. Áo liền quần đã trượt khỏi vai Vika; bên dưới cô ấy mặc một chiếc áo sơ mi kiểu của thợ làm rừng bằng len dày và hai lớp áo lót dài, nhưng trong giây lát tôi nhìn thấy xương quai xanh của cô ấy dịch chuyển dưới làn da lấm tấm bụi. Trước đây tôi chưa bao giờ để ý đến xương quai xanh của người khác; xương của cô ấy trông như những cánh chim hải âu bay. Cô ấy giật dây lưng vải ra, nâng áo sơ mi và hai chiếc áo lót lên đến ngay dưới ngực, giữ áo bằng cằm, và quấn thắt lưng vào làn da trần. Vỏ dao giờ đặt lên xương ức cô ấy, và khi cô ấy kéo áo lót và áo sơ mi xuống rồi cài lại áo liền quần, không thể nhận ra hình dạng của nó.
Cô ấy nắm lấy tay tôi và đặt nó lên ngực cô ấy. "Cậu có cảm thấy gì không?"
Tôi lắc đầu và Kolya cười. "Trả lời sai rồi."
Vika mỉm cười với tôi. Tay tôi vẫn đặt trên ngực có đệm của cô ấy. Tôi vừa sợ chuyển động nó, vừa sợ cứ để nguyên ở đó. "Đừng nghe hắn, Lyova. Hắn sinh ra từ mông mẹ hắn mà."
"Hai cậu muốn chuyện riêng với nhau à? Tôi có thể qua chia chỗ nằm với ông già Edik bên đó. Hắn trông cô đơn lắm."
"Còn con dao của tôi thì sao?" tôi hỏi cô ấy.
"Tôi quên mất con dao của cậu rồi."
"Để tôi lấy đi," Kolya nói. "Tôi biết cách dùng nó."
“Không,” Vika nói. “Họ sẽ lục soát cậu kỹ nhất. Cậu là người duy nhất trông như một binh sĩ.” Cô nghiêng người về phía trước và tôi rụt tay lại, chắc chắn rằng mình đã bỏ lỡ một cơ hội dù không biết đó là gì hay nó đi đâu mất. Cô gỡ vỏ dao găm ra khỏi giày tôi và nhấc nó lên một lúc, cân nhắc kích thước và hình dạng. Cuối cùng, cô trượt nó sâu vào trong giày tôi, dưới tất. Cô lại kiểm tra giày một lần nữa. Không nhìn thấy gì cả. Cô vỗ vỗ vào da giày và trông có vẻ hài lòng.
“Cậu đi bình thường được không?”
Tôi đứng dậy và đi vài bước. Tôi cảm nhận lưỡi dao găm đâm vào chân, nhưng có vẻ chắc chắn, được giữ chặt bởi tất và giày của tôi.
“Nhìn kìa,” Kolya nói. “Kẻ giết người im lặng.”
Tôi lại ngồi xuống bên Vika. Cô chạm vào chỗ mềm dưới tai tôi và kéo ngón tay qua cổ tôi, dừng lại dưới tai bên kia.
“Cậu cắt chỗ đó ra,” cô nói với tôi, “thì không ai bao giờ đóng được nó lại nữa.”
Ý cô muốn nói cắt cổ người ta như thế.
Các sĩ quan cao cấp của Einsatzgruppe A đã chiếm trụ sở đảng Krasnogvardeysk, một chuỗi các văn phòng nhỏ bẩn thỉu với sàn linoleum bong tróc ở trên xác tòa nhà cảnh sát đen kịt. Tòa nhà bốc mùi khói và khí diesel nhưng người Đức đã khôi phục điện và đốt lò; tầng hai ấm áp và thoải mái, ngoài vài vệt máu khô trên tường. Vài giờ sau khi chúng tôi chôn súng, hai binh sĩ từ tiểu đoàn Gebirgsjager dẫn ba chúng tôi vào phòng họp, nơi trước khi thị trấn thất thủ, các thành viên ban lập kế hoạch đã gặp để thảo luận các mệnh lệnh từ trên xuống và chỉ thị cho dưới. Những cửa sổ bốn ô nhìn xuống con đường chính của Krasnogvardeysk không có đèn. Áp phích viết khẩu hiệu tuyên truyền của Lenin và Zhdanov vẫn treo trên tường, không ai động đến, như thể biểu cảm nghiêm nghị của họ làm người Đức chẳng bận tâm đến mức không đáng để xé hay làm hỏng.
Abendroth ngồi ở cuối bàn dài, uống rượu trong ly bằng pha lê. Anh gật đầu khi chúng tôi bước vào phòng, nhưng không hề đứng dậy. Chiếc mũ xám có vành đen với đầu lâu bạc phía dưới đại bàng Đức đặt trên mặt bàn. Một bàn cờ du lịch, các quân đã được sắp xếp sẵn, nằm giữa mũ và một chai rượu gần như trống không có nhãn.
Tôi đã tưởng tượng một người thon thả, phong cách học giả, nhưng Abendroth là một người to lớn, cơ bắp như vận động viên ném búa, cổ áo ghì chặt vào các tĩnh mạch trên cổ dày của anh. Cái ly nặng trông mong manh như ly nhỏ xíu trong lòng bàn tay anh. Anh trông không già hơn ba mươi, nhưng tóc cắt sát hai bên đã trắng, và râu ria trên cằm cũng vậy. Những hình SS sáng loáng trên ve cổ bên phải; bốn chấm bạc chỉ cấp bậc trên ve trái; và một Huân chương Hiệp sĩ đen-bạc treo giữa hai ve áo.
Anh ta ít nhất cũng hơi say, dù các cử động vẫn hoàn toàn nhịp nhàng. Tôi đã học từ một tuổi rất nhỏ cách nhận biết người say, kể cả những kẻ say khéo giữ được bình tĩnh. Bố tôi không phải là người uống rượu nhiều, nhưng bạn bè ông thì ai cũng uống, những nhà thơ và nhà viết kịch chưa bao giờ đi ngủ khi còn tỉnh táo trong suốt cuộc đời trưởng thành. Một số thì tình cảm lộ liễu, hôn má tôi và làm rối tóc tôi trong khi nói với tôi rằng có một người cha như ông thật là may mắn. Số khác thì lạnh lùng và xa cách như những mặt trăng quay quanh, chờ tôi trở lại phòng tôi chia sẻ với chị gái, để lại người lớn một mình cho họ tiếp tục các cuộc tranh luận về Bộ Chính Trị Đảng hay khiêu khích mới nhất của Mandelstam. Một số lắp bắp sau chỉ một ly vodka và một số chỉ nói rõ ràng sau khi cạn chai đầu tiên.
Đôi mắt của Abendroth sáng lên hơi quá mức. Thỉnh thoảng ông ta cười mà không vì lý do gì rõ ràng, có vẻ tự vui với những câu đùa của chính mình. Ông ta quan sát chúng tôi và không nói gì cho đến khi một ly rượu trong tay đã cạn, lau tay lại và nhún vai.
"Rượu mận," ông ta nói với chúng tôi, tiếng Nga khá chuẩn, mặc dù giống như sĩ quan Einsatz cùng trường học, ông ta không cố gắng bắt chước giọng. "Một ông già tôi quen làm rượu này thủ công, ngon nhất thế giới, và giờ tôi mang theo một thùng mỗi khi đi đâu đó. Một người trong số các cậu biết nói tiếng Đức không?"
"Tôi biết," Kolya nói.
"Cậu học ở đâu vậy?"
"Bà ngoại tôi đến từ Vienna." Dù điều này có đúng hay không, tôi cũng chẳng biết, nhưng ông ta nói với một sự tin tưởng đến mức Abendroth có vẻ chấp nhận điều đó.
"Cậu đã từng đến Vienna chưa?" (Nói bằng tiếng Đức)
"Chưa." (Trả lời bằng tiếng Đức)
"Tiếc quá. Thành phố đẹp lắm. Và cho đến giờ vẫn chưa ai đánh bom nó, nhưng điều đó sẽ không kéo dài. Tôi dự đoán người Anh sẽ đến đó trước khi năm kết thúc. Có ai nói với cậu tôi chơi cờ không?"
"Một trong những đồng đội của ông. Một Obersturmfuhrer, tôi tin vậy? Ông ấy nói tiếng Nga gần giỏi như ông."
"Kuefer? Người ria mép nhỏ đó à?"
"Đúng rồi. Ông ấy rất…" Kolya ngập ngừng như thể không biết nên tiếp tục thế nào mà không nói điều gì xúc phạm. "… thân thiện."
Abendroth nhìn Kolya vài giây trước khi khịt mũi, vừa buồn cười vừa ghê tởm. Ông ta che miệng bằng mu bàn tay và ợ trước khi rót thêm một ly rượu schnapps.
"Tôi chắc là ông ấy vậy. Ừ, ông ấy rất thân thiện, Kuefer. Và cuộc trò chuyện của các người sao lại chuyển sang tôi vậy?"
Tôi nói với hắn là bạn tôi đây là một trong những tay chơi cờ giỏi nhất ở Leningrad và hắn nói—
"Bạn Do Thái của cậu đây à?"
"Ha, đó cũng là trò đùa của hắn, nhưng không, Lev không phải Do Thái. Hắn bị lời nguyền mũi mà không có tí tiền nào."
"Tôi ngạc nhiên là Kuefer không kiểm tra bộ phận sinh dục của thằng bé để xác minh chủng tộc."
Vẫn nhìn tôi, Abendroth bình luận bằng tiếng Đức cho các binh sĩ, những người liếc tôi, tò mò.
"Cậu có hiểu tôi vừa nói gì không?" hắn hỏi Kolya.
"Hiểu."
"Dịch cho bạn bè của cậu đi."
"‘Việc của tôi là nhận ra người Do Thái khi tôi gặp họ.'"
"Rất tốt. Và khác với bạn Kuefer của chúng ta, tôi cũng có thể nhận ra một cô gái. Cởi mũ ra đi, cô bé."
Trong một khoảng thời gian dài, Vika không cử động. Tôi không dám nhìn cô, nhưng tôi biết cô đang cân nhắc xem có nên vung dao hay không. Hành động đó sẽ vô ích, những tên lính sẽ bắn cô trước khi cô bước đi một bước, nhưng dường như những hành động vô ích là tất cả những gì chúng tôi còn lại. Tôi có thể cảm nhận Kolya căng thẳng bên cạnh mình—nếu Vika vung dao, anh sẽ lao vào tên lính gần nhất, và mọi chuyện sẽ kết thúc rất nhanh.
Cái chết sắp đến không làm tôi sợ hãi nhiều như lẽ ra phải vậy. Tôi đã sợ quá lâu rồi; tôi quá mệt mỏi, quá đói để cảm nhận điều gì đó với cường độ đúng mức. Nhưng nếu nỗi sợ của tôi giảm đi, không phải vì lòng dũng cảm của tôi tăng lên. Cơ thể tôi yếu đến mức đôi chân run rẩy vì nỗ lực đứng thẳng. Tôi không thể tập trung nghĩ về một mối quan tâm lớn lao nào, kể cả số phận của Lev Beniov.
Cuối cùng Vika cởi chiếc mũ lông thỏ và giữ nó trong tay. Abendroth uống nửa ly rượu chỉ trong một hơi, mím môi và gật đầu.
"Cô sẽ xinh đẹp khi tóc mọc dài ra. Bây giờ mọi thứ đều rõ ràng, đúng không? Nói cho tôi nghe một điều này," ông nói với Kolya. "Cậu nói tiếng Đức khá tốt, nhưng lại không đọc được tiếng Nga à? Nói cho tôi nghe," ông nói với Kolya. "Cậu nói tiếng Đức khá tốt, nhưng lại không đọc được tiếng Nga à?"
"Nó luôn làm tôi đau đầu khi cố đọc."
"Tất nhiên rồi. Còn bạn," Ông ta nói với tôi, "Cậu là một trong những kỳ thủ cờ hay nhất ở Leningrad, nhưng cậu cũng không đọc được sao? Thật là một sự kết hợp kỳ lạ, đúng không? Hầu hết các kỳ thủ cờ mà tôi biết đều khá chữ nghĩa."
Tôi mở miệng, hy vọng lời nói dối sẽ tuôn ra nhanh như Kolya, nhưng Abendroth giơ một tay lên và lắc đầu.
"Đừng bận tâm. Cậu đã vượt qua bài kiểm tra của Kuefer, tốt lắm, tôi tôn trọng điều đó. Các cậu là những người sống sót. Nhưng tôi không phải là người ngốc. Một người trong số các cậu là người Do Thái giả vờ làm người Gentile; một người là con gái giả làm con trai; tất cả các cậu, tôi cho rằng, đều biết chữ giả làm mù chữ. Và mặc dù có sự chú ý của những quân nhân Biệt Đội Sơn Cước cảnh giác của chúng tôi và Obersturmfuhrer Kuefer danh tiếng, tất cả những chiêu trò này đều thành công. Nhưng các cậu lại xin đến đây chơi cờ. Các cậu muốn tôi chú ý đến các cậu. Điều này thật kỳ lạ. Các cậu không phải là kẻ ngốc, điều đó rõ ràng, nếu không các cậu đã chết từ lâu rồi. Các cậu có thực sự nghĩ rằng tôi sẽ thả tự do cho các cậu nếu các cậu thắng trò chơi này không? Còn những tá trứng… tá trứng là phần kỳ lạ nhất của toàn bộ kế hoạch này."
"Tôi nhận Ông không có quyền để thả chúng tôi," Kolya nói, "Nhưng tôi nghĩ, nếu bạn tôi thắng, có lẽ Ông có thể nói giúp với cấp trên của ông-"
‘‘Tất nhiên tôi có quyền thả các cậu. Không phải là vấn đề- à.’’ Abendroth chỉ vào Kolya và gật đầu, gần như mỉm cười. ‘‘Rất tốt. Cậu thật thông minh. Đánh vào cái tôi của người Đức. Phải, không có gì ngạc nhiên khi Kuefer lại thích cậu đến thế. Giải thích về tá trứng đi.’’
Tôi đã không ăn một quả nào kể từ tháng Tám. Chúng tôi luôn nói về những món ăn thèm muốn, và tôi không thể xua bỏ ý nghĩ về trứng chiên ra khỏi đầu. Cả ngày, đi bộ trong tuyết, đó là điều duy nhất tôi nghĩ tới.’
Abendroth gõ nhẹ vào mặt bàn bằng đầu ngón tay. ‘‘Vậy, hãy xem xét tình huống. Cả ba người các cậu đều là kẻ nói dối đã rõ. Các cậu bịa ra một câu chuyện mơ hồ khiến mình được gặp riêng-’’ Abendroth liếc nhìn các binh sĩ và nhún vai. ‘‘Một buổi gặp gỡ riêng với một sĩ quan cao cấp của Einsatzgruppe A bị khinh miệt. Rõ ràng là các cậu có tin tức mà muốn trao đổi.’
Có một khoảnh khắc im lặng trước khi Kolya nói, "Tôi không hiểu."
"Tôi nghĩ cậu hiểu đấy. Cậu biết những tù nhân nào là Bolshevik, có lẽ, hoặc cậu đã nghe thấy kế hoạch di chuyển quân của Hồng quân. Cậu không thể cung cấp thông tin này trước mặt các người Nga khác, nên cậu sắp xếp cuộc gặp này. Điều đó xảy ra khá thường xuyên, cậu biết mà. Những người đồng hương dường như rất háo hức phản bội Đồng chí Stalin."
"Chúng tôi không phải kẻ phản bội," Kolya nói. "Cậu bé tình cờ giỏi cờ vua. Tôi nghe nói cậu chơi cờ. Tôi thấy một cơ hội."
"Đây là câu trả lời tôi mong đợi," Abendroth nói với một nụ cười. Ông uống cạn phần còn lại trong ly rượu schnapps và rót ly cuối cùng, giơ lên ánh sáng để ngắm nhìn rượu.
"Ôi trời ơi, đúng là thứ này. Bảy năm trong thùng gỗ sồi…"
Ông ta nhấp một ngụm nhỏ nữa, giờ thì kiên nhẫn, không muốn vội uống cạn ly cuối cùng. Sau một lúc thưởng thức schnapps, ông ta nói vài lời nhỏ bằng tiếng Đức. Một trong những lính canh chĩa MP40 về phía chúng tôi trong khi người kia tiến lại gần và bắt đầu lục soát tôi.
Con dao dường như được giấu kĩ trong chuồng cừu, nhưng khi đứng đó trong lúc người lính lục soát tôi, tôi chỉ nghĩ đến chiếc vỏ da cứng đang cấn vào mặt trên chân mình. Anh ta lục soát các túi áo khoác cũ của cha tôi, kiểm tra dưới nách, dưới thắt lưng, dọc theo chân tôi. Anh ta thọc ngón tay vào trong giày tôi và nỗi sợ hãi quay trở lại, một cú sốc kinh hoàng, nhạo báng sự tê liệt mà tôi vừa cảm thấy năm phút trước. Tôi cố gắng thở bình thường, giữ một gương mặt bình tĩnh. Anh ta dò dọc ống chân tôi, không tìm thấy gì, rồi chuyển sang lục soát Kolya.
Tôi tự hỏi anh lính đó đã hụt tới mức nào, bao nhiêu milimet tách biệt các ngón tay anh ta và vỏ đựng dao găm. Anh ta là một cậu bé, lớn hơn tôi một, hai tuổi, khuôn mặt đầy những nốt ruồi nâu nhỏ. Bạn cùng lớp chắc chắn đã trêu cậu ấy về những nốt ruồi đó. Cậu ấy đã nhìn chúng trong gương, u sầu và xấu hổ, tự hỏi liệu cậu có thể cạo chúng bằng dao cạo của bố không. Nếu tối qua cậu ấy có thêm mười lăm phút để ngủ, nếu cậu ấy ăn thêm một thìa súp nữa, có lẽ cậu ấy đã có năng lượng để làm việc của mình đúng cách và tìm ra con dao của tôi. Nhưng cậu ấy không thế, và sự cẩu thả của cậu đã thay đổi mọi thứ đối với cả hai chúng tôi.
Khi anh ta xong việc lục soát Kolya, anh ta bước sang bên Vika. Người đồng đội của anh ta nói đùa một câu và cười thầm với sự chọc gẹo của mình. Có lẽ anh ta muốn khiêu khích cậu bé để vỗ mông Vika hoặc sờ một bên núm vú, nhưng cô ấy nhìn anh ta bằng đôi mắt lạnh lùng, không chớp, và anh ta dường như bị bối rối, kiểm tra cô ấy ít kỹ hơn nhiều so với Kolya và tôi. Tôi nhận ra cậu bé chắc hẳn còn chưa cắt chỉ; cậu ấy lo lắng trước cơ thể phụ nữ như tôi vậy.
Sau khi lúng túng kiểm tra đôi chân cô ấy, anh ta đứng dậy, gật đầu với Abendroth và lùi lại. Sturmbannführer quan sát cậu bé một lát, nụ cười nhẹ xuất hiện trên môi ông ta.
"Tôi nghĩ hắn sợ cậu," hắn nói với Vika. Hắn đợi vài giây để xem cô có phản ứng không, và khi cô không nói gì, hắn quay sang Kolya. "Cậu là một người lính, tôi không thể thả cậu được, nếu không cậu sẽ trở lại Quân đội Đỏ, và nếu cậu giết một người Đức, cha mẹ họ sẽ đổ lỗi cho tôi." Hắn nhìn tôi. "Còn cậu là người Do Thái; thả cậu đi là trái với lương tâm của tôi. Nhưng nếu cậu thắng, tôi sẽ để cô gái về nhà. Đây là lời đề nghị tốt nhất tôi có thể đưa ra."
"Tôi có lời hứa của ông là ông sẽ để cô ấy đi sao?" Tôi hỏi.
Abendroth xoa phần râu bạc trên cằm bằng các khớp ngón tay. Chiếc nhẫn cưới vàng trên ngón áp út của hắn hắt ánh sáng từ bóng đèn phía trên.
"Cậu thích cô gái ấy à. Thú vị. Còn cậu, cô gái tóc đỏ nhỏ một tẹo, cậu có thích tên Do Thái không? Thôi nào, thôi nào, không cần thô tục như vậy. Vậy… cậu không có quyền để đòi hỏi, nhưng được, tôi hứa với cậu. Tôi đã tìm được một trò chơi hay từ khi ở Leipzig. Đất nước Nga này có những kỳ thủ chơi cờ hay nhất thế giới và tôi chưa thấy ai giỏi cả."
"Có thể ông đã bắn họ chết trước khi biết được họ có giỏi hay không," Kolya nói. Tôi nín thở, khá chắc chắn đây là bước đi quá đà, nhưng Abendroth gật đầu.
"Có thể như vậy. Công việc quan trọng hơn vui chơi. Nào," hắn nói với tôi, "ngồi xuống. Nếu cậu giỏi như bạn cậu nói, tôi có thể giữ cậu lại cho cuộc thi."
"Đợi đã," Kolya nói. "Nếu hắn thắng, Ông sẽ thả cô ấy và đưa trứng cho tụi tôi chứ?"
Sự kiên nhẫn của Abendroth với những lời qua lại bắt đầu cạn kiệt. Lỗ mũi Ông ta phập phồng khi Ông nghiêng người về phía trước, dù không lớn tiếng.
"Những gì tôi đề nghị còn hơn cả hào phóng. Cậu muốn tiếp tục sự ngu ngốc này sao?"
"Tôi tin bạn tôi. Nếu anh ta thua, hãy bắn vào đầu chúng tôi. Nhưng nếu anh ta thắng, chúng tôi muốn có trứng chiên cho bữa tối."
Abendroth lại nói bằng tiếng Đức và người lính lớn tuổi đã chĩa nòng súng vào đầu Kolya.
"Cậu thích mặc cả hả?" Abendroth hỏi. "Tốt, chúng ta mặc cả. Cậu nghĩ mình có quân bài tẩy hả. Cậu không có gì đâu. Tôi nói hai tiếng thôi là cậu thành xác chết. Đúng không? Hai tiếng. Cậu có hiểu chuyện đó xảy ra nhanh thế nào không? Cậu là xác chết, họ kéo xác cậu ra ngoài, tôi chơi cờ với bạn cậu. Sau này, có thể tôi sẽ đưa cô gái tóc đỏ về phòng, tắm cho cô ấy, xem cô ấy trông thế nào khi không còn bụi bẩn. Hoặc không làm gì cả, có thể không tắm, có thể tối nay tôi muốn làm tình với một con thú hoang. Bây giờ hãy suy nghĩ kỹ đi, cậu bé, suy nghĩ thật kỹ trước khi mở miệng. Vì chính bản thân cậu, vì mẹ cậu nếu con đàn bà thối tha đó còn sống, hãy nghĩ kỹ đi."
Một người đàn ông khác sẽ quyết định bỏ qua và im lặng mãi mãi. Kolya không do dự quá một giây.
"Tất nhiên, Ông có thể giết tôi bất cứ khi nào ông muốn. Điều này là không thể phủ nhận. Nhưng ông nghĩ bạn thân nhất của tôi sẽ còn tâm trí để chơi cờ sau khi thấy óc tôi văng trên bàn không? Ông muốn chơi cờ với một tay kỳ phùng địch thủ của Leningrad hay với một cậu bé sợ hãi đến nỗi nước tiểu chảy xuống chân? Nếu cậu ấy không giành được tự do cho chúng tôi, thì tôi hiểu, đây là chiến tranh. Nhưng ít nhất hãy cho cậu ấy cơ hội thắng bữa tối mà chúng tôi mơ ước."
Abendroth nhìn Kolya, đầu ngón tay Ông ta gõ nhịp chậm trên mặt bàn, là âm thanh duy nhất trong phòng. Cuối cùng, ông ta quay sang người lính có nốt ruồi và ra lệnh ngắn gọn. Sau khi người Đức trẻ tuổi chào và rời phòng, Sturmbannfuhrer ra hiệu cho tôi ngồi vào chiếc ghế ở góc bàn bên cạnh Ông. Ông gật đầu với Kolya và Vika và chỉ vào những chiếc ghế ở cuối bàn.
"Ngồi đi," ông ta ra lệnh cho họ. "Các cậu đã đi cả ngày rồi phải không? Ngồi đi, ngồi đi. Chúng ta nên tung đồng xu không?" ông ta hỏi tôi. Không chờ phản hồi, ông ta lấy một đồng từ túi ra và cho tôi xem con đại bàng đang kẹp chữ vạn một bên và ký hiệu năm mươi Reichspfennig bên kia. Ông ta hất đồng xu lên không trung bằng ngón tay cái, hứng nó, đặt lên mu bàn tay còn lại, và nhìn tôi. "Chim hay số?"
" Số!"
"Cậu không thích con chim Đại Bàng của chúng tôi sao?" anh ta hỏi với một nụ cười nhẹ. Anh ta rút tay ra và chỉ cho tôi con đại bàng Nazi. "Tôi sẽ chơi quân trắng. Và đừng lo - cậu vẫn giữ được quân hậu của mình."
Anh ta di chuyển quân cờ Queen của mình tiến hai ô và gật đầu khi tôi cũng làm như vậy.
"Một ngày nào đó tôi sẽ chọn khai cuộc khác." Ông ta di chuyển cánh bên c-pawn tiến hai ô, dâng quân để thí. Chiến thuật Gambit Hậu. Ít nhất nửa số ván tôi từng chơi bắt đầu bằng những nước đi này. Từ người chơi a-ma-tơ cuối tuần cho đến đại kiện tướng đều bắt đầu bằng kết hợp này; vẫn còn quá sớm để biết anh chàng Đức này có biết mình đang làm gì không. Tôi từ chối Gambit và di chuyển quân cờ vua tiến một ô.
Qua nhiều năm, tôi đã chơi hàng nghìn trận đấu với hàng trăm đối thủ. Tôi đã từng chơi trên một tấm chăn ở Summer Gardens (Vườn Giải Trí Mùa Hè), trong các giải đấu tại Cung điện Pioneers, trong sân Kirov với bố tôi. Khi tôi chơi cho câu lạc bộ Spartak, tôi ghi lại tất cả các ván đấu của mình, nhưng tôi đã vứt chúng đi khi bỏ thi đấu. Tôi chưa bao giờ định nghiên cứu các ván cũ, nhất là sau khi nhận ra mình chỉ là một người chơi hạng trung. Nhưng nếu bạn đưa cho tôi một tờ giấy và một cây bút, ngay cả hôm nay, tôi vẫn có thể viết ra ký hiệu đại số của toàn bộ ván đấu với Abendroth.
Tôi tung quân cờ Queen ra từ hàng sau ở nước đi thứ sáu, điều này dường như làm anh ta ngạc nhiên. Ông ta nhăn mặt, gãi ria mép bằng móng tay một cách chần chừ. Tôi chọn nước đi đó vì tôi nghĩ nó hay, nhưng cũng vì nó có thể trông như một nước đi tệ—cả hai chúng tôi đều chưa biết rõ trình độ của đối thủ, và nếu ông ấy tin rằng tôi là một người chơi kém, tôi có thể dụ ông ta mắc sai lầm quan trọng.
Ông ấy lẩm bẩm gì đó bằng tiếng Đức và di chuyển mã bên cánh vua, một phản ứng hợp lý nhưng không phải là cái tôi lo sợ. Nếu ông ấy ăn quân tốt của tôi, ông ấy sẽ giữ được thế chủ động, buộc tôi phải phản ứng với sự tấn công của Ông ấy. Thay vào đó, ông ta chơi phòng ngự, và tôi tận dụng cơ hội đưa quân cờ Bishop vào lãnh thổ bên địch.
Abendroth ngả lưng vào ghế, nhìn chăm chú vào bàn cờ. Sau một phút suy nghĩ, ông mỉm cười và nhìn tôi.
"Lâu rồi tôi mới được chơi một ván hay."
Tôi không nói gì, chỉ nhìn vào bàn cờ, hình dung các chuỗi nước đi có thể xảy ra.
"Cậu không cần lo lắng đâu," ông tiếp tục. "Thắng hay thua, cậu vẫn an toàn. Một ván cờ hay ho, mỗi đêm, sẽ giữ cho tôi tỉnh táo."
Ông lại nghiêng người về phía bàn và di chuyển quân Queen. Trong khi tôi đang cân nhắc, người lính trẻ quay lại mang theo một cái hộp gỗ sọc rơm đầy rơm. Abendroth hỏi anh ta một câu và người lính trẻ gật đầu, đặt hộp lên bàn.
"Cậu làm tôi hào hứng lên rồi đấy," Abendroth nói với Kolya. "Nếu tôi thắng, tôi có thể ăn một bữa trứng chiên 12 cái."
Kolya, ngồi ở đầu bàn xa nhất, cười khi nhìn thấy hộp trứng. Cả hai lính giờ đứng sau lưng cậu ta và Vika, tay họ không rời khỏi tay cầm súng máy. Kolya đã cố gắng theo dõi trò chơi từ xa, nhưng Vika chỉ chăm chăm nhìn bàn. Khuôn mặt cô ấy hiếm khi biểu lộ gì, nhưng tôi có thể thấy cô ấy khó chịu và tôi nhận ra, quá muộn, rằng mình đã bỏ lỡ cơ hội. Khi tên lính đi lấy trứng, chúng tôi tạm thời đông hơn người Đức; họ có súng còn chúng tôi chỉ có dao, nhưng đó có thể là cơ hội tốt nhất của chúng tôi.
Tám nước đi vào ván cờ, Sturmbannführer và tôi bắt đầu trao đổi quân. Tôi ăn một tốt; hắn ăn một knight. Tôi ăn một bishop; hắn ăn một tốt. Kết thúc chuỗi nước đi này, lực lượng của chúng tôi vẫn cân bằng, nhưng bàn cờ đã mở ra và tôi đánh giá vị trí của mình mạnh hơn.
"Những tay chơi vĩ cầm và tay chơi cờ vua, hả?"
Trước đó tôi còn sợ nhìn hắn, nhưng giờ tôi lén liếc khi hắn phân tích các đội hình. Ngồi gần như vậy, tôi thấy những vầng thâm sưng dưới đôi mắt màu nâu hạt dẻ của hắn. Quai hàm hắn cương quyết và vuông góc, nhìn nghiêng giống chữ L hoa. Hắn nhận ra tôi đang nhìn mình và ngẩng đầu khổng lồ để nhìn lại tôi. Tôi nhanh chóng cúi mắt xuống.
"Nòi giống của cậu," anh ta nói. "Dù mọi thứ thế nào, các cậu vẫn trở thành những nghệ sĩ violin tài ba và kỳ thủ cừ khôi."
Tôi rút lại quân Queen và trong mười hai nước đi tiếp theo, chúng tôi tập hợp lực lượng, tránh va chạm trực tiếp. Cả hai chúng tôi đều làm nước nhập thành, bảo vệ vua trong khi chuẩn bị cho trận chiến tiếp theo, tiến về trung tâm, cố gắng chiếm đất tốt nhất. Ở nước đi thứ hai mốt, tôi suýt mắc vào cái bẫy nhỏ tinh tế mà ông ta giăng ra. Tôi đã sẵn sàng ăn một tốt thí, nhưng rồi nhận ra kế hoạch của người Đức. Tôi lui lại Bishop và di chuyển quân Queen để cho quân cờ này một góc tấn công tốt hơn.
"Tiếc thật," Abendroth nói. "Đáng lẽ đó là một nước đi nhỏ xinh đẹp."
Tôi nhìn sang và thấy Kolya cùng Vika đang nhìn chằm chằm vào tôi. Kế hoạch chưa bao giờ được nói rõ, nhưng giờ thì có vẻ rõ ràng. Tôi luồn chân trong giày và cảm nhận được vỏ dao găm của phi công đã chết đang cắm vào mắt cá chân mình. Tôi có thể rút lưỡi dao nhanh đến mức nào? Dường như không thể rút dao ra và cắt cổ Abendroth trước khi lính bắn hạ tôi. Ngay cả khi không có binh lính bảo vệ, Abendroth vẫn trông quá mạnh mẽ để tôi có thể giết hắn chết. Khi tôi còn nhỏ, tôi từng thấy một người đàn ông mạnh mẽ trong rạp xiếc với đôi tay giống Sturmbannfuhrer - ông ta đã xoắn một chiếc mỏ lết thép nặng thành một nút thắt, và vì hôm ấy là sinh nhật tôi, tôi được giữ nó làm kỷ niệm. Nhiều năm tôi đã giữ chiếc mỏ lết bị thắt nút, khoe nó với bạn bè trong Kirov, khoe khoang về việc người đàn ông mạnh mẽ đã làm rối tóc tôi và nháy mắt với mẹ tôi. Một ngày nọ tôi tìm kiếm nhưng không thấy; Tôi nghi ngờ Oleg Antokolsky đã lấy trộm nó, nhưng tôi chưa bao giờ có bằng chứng.
Ý tưởng so dao với một người to lớn như vậy khiến tôi hoảng sợ, nên tôi dừng suy nghĩ về nó vài phút và tập trung vào trò chơi. Vài nước đi sau, tôi thấy cơ hội để đổi Knight. Vị trí của tôi có vẻ hơi chật hẹp, nên tôi buộc phải trao đổi. Abendroth thở dài khi lấy quân của tôi.
"Tôi không nên để điều đó xảy ra."
"Đánh hay quá," Kolya reo lên từ đầu bàn xa. Tôi quay lại, thấy cậu ấy và Vika vẫn đang nhìn tôi, và nhanh chóng quay lại tập trung vào bàn cờ. Làm sao tôi trở thành sát thủ được chọn vậy? Kolya chẳng phải đã biết tôi rồi sao? Abendroth nên chết, tôi biết điều đó - tôi đã muốn hắn chết từ khi nghe câu chuyện của Zoya. Không nghi ngờ gì nữa, hắn đã sát hại hàng ngàn đàn ông, phụ nữ và trẻ em khi theo quân đội Wehrmacht khắp châu Âu. Berlin đã trao cho hắn những huy chương lấp lánh vì đã hành quyết người Do Thái, Cộng Sản và các du kích của các quốc gia bị chiếm đóng. Hắn là kẻ thù của tôi. Nhưng khi đối mặt với hắn giờ đây trên bàn cờ, nhìn hắn lo lắng và chiếc nhẫn cưới lấp lánh khi suy tính nước đi tiếp theo. Tôi chẳng bao giờ nghĩ rằng mình có thể giết được hắn, gã khổng lồ to hơn tôi gấp bội.
Vỏ dao găm cứa vào mắt cá chân tôi. Sturmbannführer ngồi đối diện với tôi, cổ áo khoác của hắn cấn vào một mạch máu xanh to ở bên cổ rộng. Kolya và Vika ngồi ở đầu bàn xa nhất, chờ tôi hành động. Với tất cả những phiền nhiễu này, tôi vẫn xoay xở được để chơi cờ tương đối tốt. Dù kết quả có thể chẳng có ý nghĩa gì, nhưng ván cờ vẫn quan trọng với tôi.
Tôi chống cùi chỏ lên bàn, đầu dựa trên bàn tay để tay che tầm nhìn của tôi khỏi Kolya và Vika. Ở nước đi thứ hai mươi tám, tôi đẩy tốt lên hàng năm, một bước tiến đầy quyết đoán.
Abendroth có thể ăn quân đó bằng quân tốt của mình. Có một quy tắc cũ trong cờ vua rằng người chơi nên “ăn về phía trung tâm.” Abendroth theo chiến lược cổ điển, dùng tốt, tạo ưu thế ở giữa bàn cờ. Nhưng đúng như Tarrasch nói, “Luôn đặt xe phía sau các tốt, trừ khi làm thế là sai,” việc ăn về phía trung tâm là nước đi đúng ngoại trừ khi nó sai. Khi chuỗi nước đi kết thúc, chúng tôi mỗi người đã đổi hai tốt, số lượng quân vẫn cân bằng, và giống như một người đã nuốt độc nhưng vẫn tiếp tục nhai thịt mình, không nhận ra cái chết đã cận kề, Abendroth chẳng biết mình đã phạm phải một sai lầm chết người.
Hắn đáng lẽ phải di chuyển quân cờ vua của mình, anh chàng Đức này nghĩ rằng mình đang nắm ưu thế. Khi chúng tôi tiến đến cuối trận, quân tốt của anh ấy đứng một mình ở mép bàn cờ, chạy về hàng tám, nơi nó có thể biến thành quân Queen và tấn công phòng thủ của tôi. Abendroth quá chú tâm vào việc có quân Queen thứ hai nên ông ấy vui vẻ chấp nhận các trao đổi mà tôi đề xuất. Làm sao ông ấy có thể thua khi đang tấn công với hai quân Queen chứ? Chỉ tập trung vào quân tốt của mình, ông ấy không nhận ra cho đến khi quá muộn rằng tôi cũng có một quân tốt lọt vào trung tâm bàn cờ. Cuối cùng, quân tốt của tôi được thành quân cờ Queen trước một nước so với quân tốt của ông ta. Hai quân Queen thật khó đánh bại trừ khi đối thủ của bạn có quân Queen thứ hai trước.
Abendroth vẫn chưa nhận ra trò chơi đã kết thúc, nhưng nó đã kết thúc. Tôi liếc nhìn Vika, ngốc nghếch tự hào về chiến thắng sắp tới của mình, và thấy tay cô ấy đã trượt vào trong bộ đồ bảo hộ. Cô ấy sẽ không chờ tôi hành động nữa, cô ấy đang với tay lấy dao; và Kolya đặt tay lên mép bàn, sẵn sàng đứng dậy và tấn công khi cô ấy làm vậy. Ánh mắt tôi chạm vào Vika và tôi biết rõ ràng rằng nếu tôi ngồi yên, cơ thể rách nát của cô ấy sẽ sớm nhỏ giọt những giọt cuối cùng trên sàn linoleum loang lổ.
Trong khi Abendroth suy nghĩ về bàn cờ và đám quân Queen hiếm hoi, tôi giả vờ gãi bắp chân, từ từ luồn tay vào bốt. Đây không phải là một làn sóng can đảm, mà ngược lại — nỗi sợ cái chết của Vika đã lấn át tất cả những nỗi sợ khác của tôi. Abendroth nheo mắt nhìn quân cờ vua của ông ta và tôi thấy sắc mặt của ông thay đổi khi hiểu ra sự thật về vị trí của mình. Tôi tưởng thất bại sẽ làm anh tức giận. Thay vào đó, một nụ cười đã làm sáng khuôn mặt ông và trong một khoảnh khắc tôi có thể thấy ông ta trông như thế nào khi còn là một cậu bé con.
“Thật tuyệt,” anh ấy nói, ngẩng đầu nhìn tôi. “Lần sau tôi sẽ không uống nhiều như thế đâu.”
Những gì ông ấy nhìn thấy trên khuôn mặt tôi khiến ông ấy bối rối. Ông liếc quanh bàn và nhìn thấy tay tôi đang móc vào bên trong chiếc ủng. Tôi lóng ngóng với cán dao và cuối cùng giật con dao ra khỏi vỏ. Trước khi tôi kịp vung, Abendroth lao tới, hất tôi khỏi ghế xuống sàn, ghìm tay cầm dao của tôi bằng tay trái và với tay phải nhắm tới khẩu súng trong bao của ông.
Nếu tôi kịp rút dao ra nhanh hơn, nếu tôi may mắn cắt trúng tĩnh mạch cổ hắn, nếu điều kỳ diệu đó xảy ra, Vika, Kolya và tôi đã chết. Các binh sĩ sẽ giơ MP40 lên và xóa sổ chúng tôi. Sự cảnh giác của Abendroth — hay sự vụng về của tôi, tùy theo cách nhìn — đã cứu chúng tôi. Khi các binh sĩ lao tới để giúp Sturmbannfuhrer, người không cần sự giúp đỡ, họ đã bỏ qua các tù nhân khác. Chỉ trong một khoảnh khắc, nhưng điều đó là đủ rồi.
Abendroth rút súng tự động của mình ra. Nghe thấy tiếng ồn ào ở cuối phòng, hắn nhìn về hướng đó. Dù thấy gì đi nữa cũng khiến hắn lo lắng hơn là cảnh tên Do Thái ốm yếu, gầy gò đang quằn quại dưới mình. Hắn ngắm mục tiêu—Vika hay Kolya, tôi không trông thấy. Tôi la lên và với tay kéo nòng súng bằng tay trái, tát vào nòng chỉ ngay khi hắn bóp cò. Súng giật và tiếng nổ làm tôi gần như điếc. Abendroth gầm gừ và cố giật súng ra khỏi tay tôi đang bám chặt. Chống lại hắn chẳng khác gì đánh nhau với gấu, nhưng tôi vẫn bám chắc vào nòng súng bằng tất cả sức lực còn lại. Những giây đó là một hỗn loạn của tiếng ồn và bạo lực, tiếng la hét bằng tiếng Đức và những nòng súng lóe sáng, tiếng gõ giày trên sàn linoleum.
Bực bội vì cái nắm cứng đầu của tôi, Abendroth đấm mạnh vào bên đầu tôi bằng tay trái. Tôi đã từng trải qua vài lần va chạm và vật lộn khi lớn lên ở Kirov, nhưng đó là kiểu đánh nhau vụng về, không đổ máu mà bạn mong đợi từ những cậu bé thuộc câu lạc bộ cờ vua. Chưa ai từng đánh tôi vào mặt. Căn phòng mờ đi, đom đóm bay ngang tầm nhìn của tôi, khi Abendroth giật lấy súng tự động khỏi tay tôi và chĩa vào mắt tôi.
Tôi ngồi dậy và đâm mũi dao sâu vào ngực anh ta, xuyên qua túi áo khoác ngực, dưới cụm huy chương, lưỡi dao cắm sâu đến tận phần bảo vệ ngón tay trên cán dao màu bạc.
Abendroth run rẩy và chớp mắt, nhìn xuống chuôi đen. Hắn vẫn có thể bắn một viên đạn xuyên qua đầu tôi, nhưng trả thù cho cái chết của chính mình dường như không quan trọng với hắn. Hắn trông thất vọng, môi cong xuống, và cuối cùng trông bối rối, chớp mắt đều đặn, hơi thở gấp gáp. Hắn muốn đứng dậy, nhưng chân hắn mềm nhũn và ngã sang một bên, ngã khỏi con dao trong tay tôi, khẩu súng rơi khỏi những ngón tay lỏng lẻo. Hắn mở to mắt - cảnh tượng như một người đàn ông ngái ngủ cố gắng tỉnh dậy - đặt lòng bàn tay lên sàn linoleum, cố bò ra khỏi cảnh tượng bẩn thỉu, phớt lờ sự náo động xung quanh. Hắn không đi được bao xa.
Tôi quay lại và thấy Kolya đang vật lộn trên sàn với một trong những binh sĩ Đức, cả hai đều cố gắng kiểm soát khẩu súng tiểu liên của người Đức. Lúc đó tôi coi Kolya là một chiến binh vô địch, nhưng không ai nói với binh sĩ đó và anh ta dường như đang chiếm ưu thế. Tôi không nhớ mình đã đứng dậy hay chạy đến giúp, nhưng trước khi tên lính đó kịp chĩa súng MP40 và bắn hết băng đạn vào ngực Kolya, tôi đã leo lên lưng người đàn ông đó, đâm dao vào và rút ra, hết lần này đến lần khác.
Cuối cùng Vika cũng kéo tôi ra khỏi người đàn ông đã chết. Bộ đồ bảo hộ của cô ấy ướt đẫm máu và trước khi lý trí kịp suy nghĩ, tôi đoán cô ấy bị bắn vào bụng. Tôi nghĩ mình không nói gì rõ ràng, nhưng cô ấy lắc đầu, dỗ dành tôi và nói, "Tôi không bị thương. Đây, cho tôi xem tay anh."
Tôi không hiểu yêu cầu đó. Tôi giơ tay phải lên, vẫn nắm chặt con dao dính máu, nhưng cô ấy nhẹ nhàng đẩy xuống, nắm lấy cổ tay còn lại của tôi, và giữ tay trái tôi giữa hai lòng bàn tay. Lần đầu tiên tôi nhận ra mình đã mất một nửa ngón trỏ. Vika quỳ xuống bên cạnh một trong những binh sĩ đã chết - cậu bé có nốt ruồi, mắt nhìn chằm chằm không hồn lên trần nhà, cổ họng rách toạc - và cắt một dải len từ quần. Cô quay lại với tôi và buộc nó quanh ngón tay tôi, một chiếc băng để cầm máu.
Kolya đã lấy được hai khẩu MP40. Cậu ném một khẩu cho Vika, giữ lại khẩu còn lại cho mình, và giật cái thùng trứng trên bàn. Chúng tôi có thể nghe thấy giọng Đức vang lên từ chỗ khác trong tòa nhà, những sĩ quan bối rối tự hỏi liệu tiếng súng họ nghe trong giấc ngủ có phải là mơ hay thật. Kolya trượt mở một trong những cửa sổ bốn ô kính và bò ra mép cửa sổ.
“Nhanh lên,” cậu ấy nói, ra hiệu cho chúng tôi theo hắn. Anh nhảy xuống và tôi vội chạy theo. Khoảng cách từ tầng hai không quá cao và tuyết dưới cửa sổ dày khoảng một mét. Tôi mất thăng bằng khi đạp xuống đát, ngã sấp mặt vào tuyết. Kolya giúp tôi đứng dậy và phủi tuyết trên mặt. Chúng tôi nghe thấy một loạt một loạt tiếng súng từ phòng hội nghị. Một lúc sau, Vika nhảy khỏi cửa sổ, khói bốc lên từ nòng súng tiểu liên của cô ấy.
Chúng tôi chạy khỏi trạm cảnh sát cũ bị cháy. Những cột đèn đường không sáng, uốn cong phía trên chúng tôi như những dấu hỏi. Tiếng hò hét từ trụ sở Đảng cũ càng lúc càng dữ dội và tôi tưởng như đạn sẽ bắt đầu xé nát không khí, nhưng chẳng có viên nào tới. Những lính canh đứng trước cửa chắc đã chạy vào bên trong khi nghe tiếng súng; đến khi họ nhận ra sai lầm thì chúng tôi đã biến mất trong bóng tối.
Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã đến rìa thị trấn nhỏ. Chúng tôi rẽ khỏi con đường và chạy qua những cánh đồng nông trại đông lạnh, vượt qua những bóng dáng của những chiếc máy kéo bỏ hoang. Trở lại Krasnogvardeysk, chúng tôi có thể nghe tiếng động cơ ô tô gầm gừ và những chiếc lốp quấn xích lăn qua tuyết. Trong khoảng cách mờ ảo phía trước, chúng tôi có thể nhìn thấy bìa đen của khu rừng rộng lớn đang chờ đón chúng tôi, để che giấu chúng tôi khỏi mắt kẻ thù.
Tôi chưa bao giờ là người yêu nước đúng nghĩa. Bố tôi sẽ không bao giờ cho phép chuyện đó khi ông còn sống, và cái chết của ông đã đảm bảo rằng nguyện vọng của ông được thực hiện. Thành phố Piter chiếm được nhiều tình cảm và lòng trung thành của tôi hơn cả đất nước. Nhưng tối hôm đó, khi chạy qua những cánh đồng lúa mì chưa cày mùa đông, với quân xâm lược Phát xít phía sau và khu rừng Nga tối tăm trước mặt, tôi cảm nhận một luồng tình yêu thuần khiết dành cho đất nước.
Chúng tôi chạy về phía rừng, lao qua những cây lúa mì, dưới ánh trăng lên và những vì sao ngày càng xa, chỉ có một mình dưới bầu trời vô thần.
Chương 3
Một giờ sau bình minh, hai tên lính gác mới mở cửa phòng giam, lôi chúng tôi ra khỏi giường và khóa còng vào cổ tay. Họ phớt lờ câu hỏi của tôi nhưng có vẻ thích thú khi Kolya yêu cầu một tách trà và một món trứng tráng. Chắc hẳn những trò đùa rất hiếm hoi trong nhà tù Crosses, bởi vì trò đùa ấy cũng không phải là quá hay, nhưng bọn lính gác vẫn cười khi đẩy chúng tôi dọc theo hành lang. Đâu đó có tiếng rên rỉ, một tiếng rên trầm thấp và dai dẳng, như tiếng còi tàu vọng lại từ nơi xa.
Tôi không biết chúng tôi đang đi đến giá treo cổ hay phòng thẩm vấn. Đêm qua tôi không hề chợp mắt; ngoài một ngụm rượu từ bình của tên lính Đức, tôi chưa hề uống gì kể từ khi rời khỏi mái nhà của Kirov; một cục u to bằng nắm tay trẻ sơ sinh đã sưng lên nơi trán tôi va vào trần nhà— thật sự là một buổi sáng tồi tệ, có lẽ là một trong những buổi sáng tồi tệ nhất của tôi— nhưng tôi vẫn muốn sống. Tôi muốn sống và tôi biết mình không thể đối diện với cái chết một cách thanh thản. Tôi sẽ quỳ xuống trước đao phủ hay đội xử bắn và cầu xin sự tha thứ vì tuổi trẻ của mình, kể ra những giờ dài tôi đã phục vụ trên mái nhà chờ bom, những chướng ngại vật tôi đã giúp xây dựng, những con mương tôi đã đào.
Tất cả chúng tôi đều đã làm vậy, tất cả đều phục vụ cho chính nghĩa, nhưng tôi là một đứa con thực sự của Piter, và tôi không đáng phải chết. Tôi đã làm hại ai chứ? Chúng tôi chỉ uống rượu của một tên lính Đức đã chết— vì chuyện đó mà các người muốn kết liễu đời tôi sao? Muốn thắt sợi dây thừng thô ráp quanh cổ tôi và dập tắt bộ não tôi mãi mãi chỉ vì tôi đã lấy một con dao ư? Đừng làm vậy, đồng chí. Tôi không nghĩ rằng mình có vĩ đại gì, nhưng tôi đáng có một kết cục tốt hơn thế này.
Bọn lính gác dẫn chúng tôi xuống một cầu thang đá, những bậc thang đã bị mài nhẵn bởi hàng trăm ngàn gót giày. Một ông lão quấn một chiếc khăn len xám dày hai vòng quanh cổ ngồi phía bên kia song sắt chặn lối xuống. Ông ta cười móm mém và mở cổng. Một lát sau, chúng tôi bước qua cánh cửa gỗ nặng nề và bước ra ánh sáng mặt trời, rời khỏi nhà tù Crosses mà vẫn còn nguyên vẹn và sống sót.
Kolya, không mấy ấn tượng với việc được tạm tha, hốt một nắm tuyết sạch bằng đôi tay bị cùm và liếm nó. Sự táo bạo đó khiến tôi ghen tị, cũng như ý nghĩ về nước lạnh trên lưỡi mình. Nhưng tôi không muốn làm gì khiến bọn lính gác tức giận. Việc chúng tôi được thả ra khỏi Crosses có vẻ như một sai lầm kỳ quặc và tôi sợ rằng chỉ cần làm gì sai, tôi sẽ bị nhốt trở lại ngay lập tức.
Bọn lính gác hộ tống chúng tôi đến một chiếc xe GAZ đang chờ sẵn, động cơ của nó gầm gừ, ống xả phun ra luồng khói bẩn, hai người lính ngồi ở ghế trước nhìn chúng tôi mà không chút tò mò, mũ lông kéo sụp xuống trán.
Kolya nhảy lên ghế sau mà không cần ai ra lệnh. "Thưa các quý ông, đến nhà hát opera nào!"
Bọn lính gác, đã mất phẩm chất sau nhiều năm làm việc ở Crosses, lại bật cười trước trò đùa của Kolya. Nhưng bọn lính trong xe thì không. Một tên quay lại, nhìn chằm chằm vào Kolya.
"Ngươi nói thêm một lời nữa là ta bẻ gãy cánh tay chó chết của ngươi. Nếu là ta quyết định, thì giờ trong đầu ngươi đã có một viên đạn rồi. Đồ đào ngũ chết tiệt."
Hắn quay sang tôi. "Còn mày, lên xe đi, thằng nhãi con."
Bọn lính gác cười phá lên. Đây là trò giải trí buổi sáng của họ. Hôm nay họ không có kế hoạch tra tấn ai, không có răng nào để nhổ, không có móng tay nào để bứt khỏi giường móng tay đẫm máu, nên họ tìm niềm vui trong việc nhìn tôi, thằng nhãi con, lúng túng chui vào ghế sau bên cạnh Kolya.
Chiếc xe lao đi rất nhanh, không hề quan tâm đến những mảng băng trơn trên đường. Chúng tôi phóng dọc theo bờ sông Neva đóng băng. Tôi kéo cổ áo lên cao để che mặt khỏi cơn gió lạnh buốt thổi qua dưới tấm mui bạt. Kolya dường như không bận tâm đến cái lạnh. Anh ta nhìn chằm chằm vào ngọn tháp của Nhà thờ Thánh John Baptist bên kia sông mà không nói gì.
Chúng tôi rẽ lên Cầu Kamennoostrovsky, những vòm thép cũ của nó phủ đầy sương giá, cột đèn ven đường rủ xuống những chùm băng dài. Qua Đảo Kamenny, chiếc xe chỉ giảm tốc một chút khi đi vòng qua một hố bom lớn đã phá nát mặt đường, rồi tiến vào một con đường dài rợp bóng gốc cây đoạn, đỗ trước một dinh thự gỗ nguy nga với hàng hiên có cột trắng.
Kolya quan sát tòa nhà. "Nhà Dolgorukov từng sống ở đây," anh ta nói khi chúng tôi bước xuống xe. "Chắc chẳng ai trong các người biết đến dòng họ Dolgorukov."
"Đám quý tộc bị bẻ gãy cổ ấy à," một tên lính nói, vẫy khẩu súng trường ra hiệu cho chúng tôi đi về phía cửa trước.
"Một số thì vậy," Kolya thừa nhận. "Nhưng một số thì từng nằm chung giường với các hoàng đế."
Dưới ánh sáng ban ngày, Kolya trông như thể anh ta bước ra từ một trong những tấm áp phích tuyên truyền được dán trên các bức tường khắp thành phố; những đường nét trên khuôn mặt anh ta thật anh hùng— chiếc cằm cứng cáp, sống mũi thẳng, mái tóc vàng rủ xuống trán. Anh ta là một kẻ đào ngũ có vẻ ngoài ưa nhìn.
Những người lính hộ tống chúng tôi lên hiên nhà, nơi các bao cát đã được chất cao bốn feet để tạo thành một ổ súng máy. Hai người lính ngồi gần súng của họ, chuyền tay nhau một điếu thuốc. Kolya hít hà không khí và nhìn chằm chằm một cách thèm thuồng vào mẩu thuốc lá được cuốn bằng tay. “Thuốc lá thật đấy,” anh ta nói, trước khi những người lính vũ trang đẩy cánh cửa trước và dồn chúng tôi vào trong.
Tôi chưa bao giờ bước vào một dinh thự trước đây, chỉ đọc về chúng trong các tiểu thuyết: những điệu nhảy trên sàn gỗ lát, những người hầu múc súp từ những chiếc bát bạc, người cha nghiêm khắc trong thư viện đầy sách cảnh báo cô con gái đang khóc không được đến gần chàng trai có xuất thân thấp kém. Nhưng dù ngôi nhà cũ của dòng họ Dolgorukov vẫn trông lộng lẫy bên ngoài, cuộc cách mạng đã thay đổi toàn bộ nội thất bên trong. Sàn đá cẩm thạch in dấu hàng ngàn vết đôi giày bốt lấm bùn, chưa được lau dọn trong nhiều tháng. Giấy dán tường ám khói cuộn lên khỏi chân tường. Không có bất kỳ món nội thất nào còn sót lại, không có bức tranh sơn dầu hay bình hoa Trung Quốc nào từng được đặt trên các kệ gỗ tếch.
Hàng chục sĩ quan mặc quân phục vội vã đi từ phòng này sang phòng khác, lao lên cầu thang đôi uốn cong đã mất đi lan can và các thanh chắn, có lẽ đã bị dỡ xuống làm củi đốt từ nhiều tuần trước. Nhưng bộ quân phục của họ không thuộc Hồng quân.
Kolya nhận thấy tôi đang nhìn chằm chằm. “NKVD. Có thể họ nghĩ chúng ta là gián điệp.”
Tôi không cần Kolya nói mới nhận ra những người đàn ông đó thuộc NKVD. Từ khi còn nhỏ, tôi đã biết bộ đồng phục của họ trông như thế nào, với chiếc mũ có đỉnh xanh lam viền đỏ và khẩu súng ngắn Tokarev đeo bên hông. Tôi đã học cách sợ hãi khi nhìn thấy những chiếc xe Packard của họ đậu trước cổng nhà Kirov— những “Con Quạ Đen” chờ đón một công dân kém may mắn nào đó rời khỏi nhà mình. NKVD đã bắt ít nhất mười lăm người từ tòa nhà của tôi trong khi tôi còn sống ở đó. Đôi khi, những người bị bắt quay về sau vài tuần, đầu cạo trọc, khuôn mặt tái nhợt và vô hồn, tránh ánh mắt tôi khi họ tập tễnh bước lên cầu thang về căn hộ của mình. Những con người gãy đổ trở về nhà chắc hẳn biết rằng họ đã may mắn và hiếm hoi thế nào, nhưng họ không thể hiện bất kỳ niềm vui nào khi sống sót. Họ biết điều gì đã xảy ra với cha tôi và không thể nhìn thẳng vào mắt tôi.
Những người lính tiếp tục đẩy chúng tôi tiến lên cho đến khi chúng tôi bước vào một căn phòng kính phía sau cùng của ngôi nhà, những khung cửa sổ kiểu Pháp cao vút cho phép quan sát rõ quang cảnh sông Neva và những tòa chung cư ảm đạm, vững chãi ở khu vực Vyborg bên kia sông. Một người đàn ông lớn tuổi ngồi một mình bên chiếc bàn gỗ đơn giản đặt ngay giữa phòng. Ông ta giữ ống nghe điện thoại giữa mặt và vai để có thể vừa nghe vừa viết lên tờ giấy bằng một cây bút.
Ông ta liếc nhìn chúng tôi khi chúng tôi đứng đợi ở ngưỡng cửa. Trông ông ta giống như một cựu võ sĩ quyền Anh với chiếc cổ to bè và sống mũi dẹt, méo mó. Những quầng thâm dưới đôi mắt trũng sâu, cũng như những nếp nhăn hằn sâu trên trán. Mái tóc hoa râm của ông ta được cạo sát da đầu. Ông ta có thể khoảng năm mươi tuổi, nhưng trông như thể có thể bật dậy khỏi ghế và hạ gục tất cả chúng tôi mà không cần bỏ đồng phục. Ba ngôi sao kim loại sáng lấp lánh trên ve áo khoác của ông ta. Tôi không biết chính xác ba ngôi sao đó có ý nghĩa gì, nhưng chúng vẫn nhiều hơn bất kỳ ai khác trong dinh thự này. Ông ta ném cuốn sổ tay lên bàn và tôi nhận ra rằng ông ta không hề ghi chép gì, như tôi đã tưởng, mà chỉ vẽ những chữ X chồng chéo lên nhau cho đến khi toàn bộ tờ giấy bị phủ kín. Vì lý do nào đó, điều này khiến tôi thấy sợ hãi hơn cả bộ đồng phục hay khuôn mặt bặm trợn của ông ta. Một người vẽ những bức tranh về ngực đàn bà hay con chó là người mà tôi có thể hiểu. Nhưng một người chỉ vẽ toàn chữ X?
Ông ta đang nhìn chúng tôi, Kolya và tôi, và tôi biết rằng ông ta đang đánh giá chúng tôi, kết án chúng tôi vì tội lỗi của mình và tuyên chúng tôi án tử, tất cả trong khi vẫn lắng nghe giọng nói từ bên kia đường dây. “Tốt,” cuối cùng ông ta nói, “Tôi muốn xong chuyện trước trưa. Không có ngoại lệ.”
Ông ta gác máy và mỉm cười với chúng tôi, và nụ cười đó trông hoàn toàn không phù hợp với khuôn mặt ông ta, cũng giống như việc một người đàn ông và chiếc bàn gỗ trơ trọi xuất hiện giữa căn phòng kính tuyệt đẹp của dinh thự quý tộc. Viên đại tá (bây giờ tôi đoán chắc rằng đây chính là viên đại tá mà các binh lính đã nhắc đến đêm qua) có một nụ cười đẹp, hàm răng đáng ngạc nhiên là rất trắng, khiến khuôn mặt thô bạo của ông ta chuyển từ đe dọa thành thân thiện ngay lập tức.
“Kẻ đào ngũ và kẻ cướp bóc! Lại đây, chúng ta không cần còng tay nữa. Tôi không nghĩ hai thằng này sẽ gây rắc rối đâu.” Ông ta ra hiệu cho những người lính, họ miễn cưỡng rút chìa khóa ra và tháo cùm tay chúng tôi.
“Tôi không phải kẻ đào ngũ,” Kolya nói.
“Không à? Đi đi,” ông ta ra lệnh cho những người lính, không thèm nhìn họ. Bọn họ vâng lệnh, rời khỏi phòng, để chúng tôi lại một mình với viên đại tá. Ông ta đứng dậy và bước đến gần chúng tôi, khẩu súng lục trong bao đập vào hông theo từng bước đi. Kolya đứng rất thẳng, tư thế chuẩn mực như một người lính, và tôi, không biết nên làm gì, cũng làm theo.
Viên đại tá tiếp tục bước tới cho đến khi khuôn mặt sứt sẹo của ông ta gần như chạm vào Kolya.
“Mày không phải kẻ đào ngũ, vậy mà đơn vị của mày báo cáo mày mất tích và mày lại bị bắt ở cách xa nơi lẽ ra cậu phải có mặt đến bốn mươi cây số.”
“À, chuyện đó có một lời giải thích đơn giản—”
“Còn mày,” ông ta quay sang tôi. “Một lính dù Đức rơi xuống khu phố của mày và mày không báo với chính quyền. Mày lại còn muốn làm giàu trên sự đau khổ của thành phố này. Cũng có một lời giải thích đơn giản cho chuyện đó à?”
Tôi cần nước. Miệng tôi khô đến mức có cảm giác như vảy da thằn lằn, và tôi bắt đầu thấy những tia sáng nhỏ lấp lánh bơi lội ở rìa tầm nhìn của mình.
“Thế nào?”
“Tôi xin lỗi,” tôi nói.
“Mày xin lỗi?” Ông ta nhìn tôi một lúc lâu rồi bật cười. “À, được thôi, mày xin lỗi, thế là ổn rồi. Chỉ cần mày xin lỗi, đó là điều quan trọng nhất. Nghe này, nhóc, mày có biết tao đã xử bắn bao nhiêu người không? Ý tao không phải ra lệnh cho ai đó làm, mà là chính tay tao, bằng khẩu Tokarev này—” Hắn vỗ vào khẩu súng trong bao. “Mày có muốn đoán không? Không à? Tốt, vì tao cũng không biết. Tao đã không còn đếm được rồi. Mà tao lại là người thích ghi nhớ mọi thứ. Tao biết chính xác đã ngủ với bao nhiêu phụ nữ, và tin tao đi, con số ấy không hề ít đâu. Mày đẹp trai đấy,” hắn nói với Kolya, “nhưng tin tao đi, mày sẽ không bao giờ theo kịp tao đâu, kể cả khi mày sống đến trăm tuổi, mà điều đó có vẻ khó xảy ra.”
Tôi liếc sang Kolya, chờ đợi anh ta nói điều gì ngu ngốc có thể khiến cả hai chúng tôi mất mạng, nhưng lần này, Kolya không nói gì cả.
“Xin lỗi là thứ mày nói với thầy giáo khi làm gãy một viên phấn,” viên đại tá tiếp tục. “Xin lỗi không có tác dụng với bọn cướp bóc và đào ngũ.”
“Chúng tôi chỉ nghĩ rằng hắn có thể có chút thức ăn trong người.”
Viên đại tá nhìn tôi thật lâu.
“Hắn có à?”
“Chỉ có chút rượu mạnh. Hoặc brandy... có thể là schnapps.”
“Mỗi ngày bọn tao xử bắn cả chục kẻ làm giả thẻ lương thực. Mày biết bọn chúng nói gì trước khi bị bắn không? Chúng nói là chúng đói. Tất nhiên là chúng đói! Ai mà không đói chứ. Nhưng điều đó không ngăn được bọn tao bắn lũ trộm cắp.”
“Tôi không ăn cắp của người Nga—”
“Mày lấy cắp tài sản của nhà nước. Mày có lấy gì từ cái xác không?”
Tôi ngập ngừng lâu nhất có thể. “Một con dao.”
“À. Một tên trộm trung thực.”
Tôi quỳ xuống, tháo bao dao khỏi mắt cá chân và đưa cho viên đại tá. Hắn nhìn chằm chằm vào lớp da thuộc của Đức.
“Mày mang thứ này suốt cả đêm à? Không ai lục soát mày sao?” Hắn thở dài một tiếng chửi thề nhẹ, đầy mệt mỏi vì sự kém cỏi của thuộc hạ. “Thảo nào chúng ta đang thua trận.”
Hắn rút con dao ra, đọc dòng khắc trên lưỡi dao. “MÁU VÀ DANH DỰ.” Hắn cười nhạt. “Cầu Chúa trừng phạt lũ khốn nạn đó.” “Mày biết cách dùng nó không?”
“Gì ạ?”
“Con dao ấy. Chém,” hắn nói, vung lưỡi thép qua không khí, “tốt hơn là đâm. Khó đỡ hơn. Nhắm vào cổ họng, nếu không được thì nhắm vào mắt hoặc bụng. Đùi cũng tốt, có nhiều tĩnh mạch lớn.” Hắn vừa nói vừa mô phỏng một cách mạnh mẽ. “Và đừng dừng lại,” hắn nhấn mạnh, di chuyển nhanh hơn, thép lóe sáng. “Đừng bao giờ ngừng lại; luôn giữ con dao di chuyển, luôn dồn đối thủ vào thế phòng thủ.”
Hắn tra lưỡi dao vào vỏ và ném nó cho tôi. “Giữ lấy. Mày sẽ cần đến nó.”
Tôi nhìn Kolya, anh ta chỉ nhún vai. Tất cả chuyện này quá kỳ lạ để có thể hiểu nổi, vậy nên tôi không cố gắng phân tích. Tôi quỳ xuống buộc lại con dao vào mắt cá chân.
Viên đại tá bước tới cửa sổ kiểu Pháp, nhìn ra lớp tuyết hôm qua đang bị gió cuốn bay trên dòng sông Neva đóng băng. “Cha của mày là nhà thơ.”
“Vâng,” tôi thừa nhận, đứng thẳng người và nhìn chằm chằm vào gáy hắn.
Bốn năm qua không ai ngoài gia đình tôi nhắc đến cha tôi. Tôi nói nghiêm túc đấy. Không một lời nào.
“Ông ấy làm thơ rất hay. Chuyện xảy ra thật… đáng tiếc.”
Tôi biết nói gì đây? Tôi nhìn xuống đôi bốt của mình và biết rằng Kolya đang nheo mắt nhìn tôi, cố đoán xem người cha bất hạnh của tôi là ai.
“Hai đứa bay chưa ăn gì hôm nay.” Viên đại tá nói, nhưng không phải một câu hỏi. “Trà đen và bánh mì nướng, thế nào? Có lẽ tao có thể kiếm đâu đó chút súp cá. Borya đâu?”
Một trợ lý bước vào phòng, một cây bút chì cài sau tai.
“Kiếm ít đồ ăn sáng cho hai thằng nhóc này.”
Borya gật đầu rồi biến mất nhanh như lúc xuất hiện.
Súp cá. Tôi chưa được ăn súp cá từ mùa hè. Ý nghĩ về món đó thật hoang dại và xa xỉ, như hình ảnh một cô gái trần truồng trên hòn đảo Thái Bình Dương.
“Lại đây.” Viên đại tá nói.
Hắn mở một trong những cánh cửa kiểu Pháp và bước ra ngoài trời lạnh. Kolya và tôi đi theo hắn dọc theo con đường sỏi chạy qua khu vườn lạnh giá, dẫn xuống bờ sông.
Một cô gái trong chiếc áo lông cáo đang trượt băng trên Neva.
Mùa đông bình thường, ta có thể thấy hàng trăm cô gái trượt băng vào chiều cuối tuần, nhưng đây không phải mùa đông bình thường. Mặt băng đã đông cứng nhiều tuần, nhưng ai còn sức để mà lượn vòng nữa?
Đứng trên nền bùn đóng băng, Kolya và tôi nhìn cô gái ấy như thể đang nhìn một con khỉ cưỡi xe đạp một bánh giữa phố.
Cô ấy đẹp một cách kỳ lạ, mái tóc đen rẽ ngôi giữa, buộc lỏng thành búi, hai má bị gió thổi đỏ ửng, tròn đầy và khỏe mạnh.
Mất vài giây tôi mới nhận ra tại sao cô ấy trông thật khác biệt, và rồi nó trở nên quá rõ ràng— dù ở khoảng cách xa cũng có thể thấy rằng cô gái ấy được ăn no.
Khuôn mặt cô ấy không có vẻ tiều tụy và tuyệt vọng. Cô có sự duyên dáng điềm tĩnh của một vận động viên; những cú xoay người thật chặt và nhanh; cô không hề mệt.
Đôi chân cô chắc hẳn rất đẹp— dài, trắng, và mạnh mẽ— và tôi cảm thấy thằng nhỏ của mình cứng lên lần đầu tiên sau nhiều ngày.
“Cô ta sẽ kết hôn vào thứ Sáu tới,” viên đại tá nói. “Một tên bị thịt mà cô ta sắp cưới, tao nói vậy đấy, nhưng thôi kệ. Hắn là người của Đảng, hắn có thể chu cấp cho cô ta.”
“Đó là con gái ông à?” Kolya hỏi.
Viên đại tá cười, để lộ hàm răng trắng trên khuôn mặt bầm dập của hắn. “Mày không nghĩ cô bé ấy giống tao à? Không, không, nó may mắn đấy. Nó có gương mặt của mẹ và tính khí của cha— con bé này sẽ chinh phục cả thế giới.”
Chỉ đến lúc đó tôi mới nhận ra hàm răng của viên đại tá là răng giả. Và tôi biết, chắc chắn, rằng người đàn ông này đã từng bị tra tấn.
Họ đã đưa ông ấy vào trong một cuộc thanh trừng nào đó, gọi ông là kẻ theo chủ nghĩa Trotsky, một kẻ Bạch Vệ hay một kẻ đồng tình với phát xít, nhổ răng ông ra khỏi miệng, và đánh đập ông cho đến khi mắt ông chảy máu, cho đến khi ông tiểu ra máu và đại tiện ra máu, cho đến khi có lệnh từ một văn phòng nào đó ở Moscow: Chúng tôi đã phục hồi danh dự cho người đàn ông này, hãy để ông ta yên, ông ta lại là một trong số chúng ta.
Tôi có thể hình dung ra điều đó bởi tôi đã tưởng tượng về nó rất nhiều lần, mỗi khi tôi tự hỏi về những ngày cuối cùng của cha tôi. Ông bất hạnh vì là một người Do Thái, một nhà thơ, và có chút danh tiếng, từng là bạn của Mayakovsky và Mandelstam, nhưng lại là kẻ thù cay đắng với Obranovich và những kẻ khác mà ông coi là cái lưỡi của bộ máy quan liêu, những kẻ gieo rắc những vần thơ cách mạng và gọi cha tôi là kẻ kích động, là ký sinh trùng chỉ vì ông viết về thế giới ngầm Leningrad, dù trên danh nghĩa— thế giới ngầm Leningrad không hề tồn tại. Hơn thế nữa, ông còn cả gan đặt tên cho cuốn sách của mình là Piter, biệt danh của thành phố, cái tên mà mọi người dân địa phương đều dùng, nhưng bị cấm trong mọi văn bản Xô Viết bởi vì “Saint Petersburg” là sự kiêu ngạo của một vị Sa hoàng, được đặt theo tên vị thánh bảo trợ của bạo chúa xưa.
Một buổi chiều mùa hè năm 1937, họ bắt cha tôi từ văn phòng của tạp chí văn học nơi ông làm việc. Họ không bao giờ trả lại ông nữa. Cuộc gọi từ Moscow chưa bao giờ đến với ông; phục hồi danh dự không phải là một lựa chọn.
Một sĩ quan tình báo có thể có giá trị trong tương lai đối với nhà nước, nhưng một nhà thơ suy đồi thì không. Ông có thể đã chết trong nhà tù Crosses, ở Siberia, hoặc đâu đó giữa hai nơi ấy, chúng tôi không bao giờ biết được. Nếu ông bị chôn cất, cũng không có bia mộ; nếu ông bị hỏa táng, cũng không có bình tro nào.
Suốt một thời gian dài, tôi giận cha mình vì đã viết ra những lời nguy hiểm như vậy; có vẻ thật ngu ngốc khi một cuốn sách lại quan trọng hơn việc giữ lại để gõ vào sau đầu tôi khi tôi ngoáy mũi. Nhưng sau này, tôi quyết định rằng ông không cố tình xúc phạm Đảng, không có ý thức như cách Mandelstam đã làm (Mandelstam với sự dũng cảm điên rồ của ông, viết rằng Stalin có những ngón tay béo như những con sên, một bộ ria mép như hai con gián). Cha tôi không biết rằng Piter lại nguy hiểm cho đến khi những bài phê bình chính thức được viết ra. Ông nghĩ rằng mình chỉ viết một cuốn sách mà chỉ khoảng năm trăm người sẽ đọc, và có lẽ ông đã đúng, nhưng chỉ cần một trong năm trăm người đó tố giác ông, và thế là xong.
Viên đại tá thì vẫn sống sót, và khi nhìn ông ta, tôi tự hỏi liệu ông ta có thấy kỳ lạ không khi đã từng ở rất gần miệng cá mập nhưng bằng cách nào đó lại bơi được về bờ, rằng ông ta, người từng chờ đợi lòng thương hại của người khác nay có thể tự quyết định liệu có ban phát nó hay không. Ông ta dường như không bận tâm vào lúc này; ông quan sát con gái mình trượt băng, vỗ đôi bàn tay đầy vết sẹo khi cô bé xoay tròn.
"Vậy là, đám cưới sẽ diễn ra vào thứ Sáu. Ngay cả bây giờ, ngay giữa tất cả những điều này—" viên đại tá nói, vung tay ra hiệu về phía Leningrad, về nạn đói, về chiến tranh, "—con bé vẫn muốn một đám cưới thực sự, một đám cưới đàng hoàng. Điều này thật tốt, cuộc sống phải tiếp tục, chúng ta đang chiến đấu với lũ man rợ nhưng ta vẫn phải giữ được nhân tính, vẫn phải là người Nga. Vậy nên sẽ có âm nhạc, có khiêu vũ... và một chiếc bánh."
Ông ta nhìn chúng tôi từng người một, như thể từ bánh mang một ý nghĩa trọng đại và ông muốn chúng tôi hiểu điều đó.
"Đây là truyền thống, vợ tôi nói vậy, chúng ta cần một chiếc bánh. Một đám cưới không có bánh là điềm xấu. Trước giờ tôi đã dành cả đời để chống lại những mê tín ngu muội này—bọn linh mục đã dùng chúng để giữ dân chúng trong sự ngu dốt và sợ hãi—nhưng vợ tôi... bà ấy muốn có bánh. Được thôi, làm bánh thì làm bánh. Mấy tháng nay bà ấy đã tích trữ đường, mật ong, bột mì, và mọi thứ khác."
Tôi suy nghĩ về điều đó—những bao đường, những hũ mật ong, bột mì—hẳn là bột mì thật chứ không phải thứ bột mốc meo vớt từ một con tàu bị đánh chìm. Chỉ riêng chỗ bột của bà ấy có lẽ cũng đủ để nuôi sống cả nửa khu Kirov trong hai tuần.
"Bà ấy có mọi thứ cần thiết, chỉ thiếu trứng." Một lần nữa, ánh mắt đầy ẩn ý. "Trứng," viên đại tá nói, "rất khó tìm."
Chúng tôi đứng lặng trong vài giây, nhìn con gái ông ta xoay vòng.
"Hạm đội có thể có," Kolya nói.
"Không. Họ không có."
"Họ có thịt bò hộp. Tôi đã đổi một bộ bài lấy ít thịt bò hộp từ một thủy thủ—"
"Họ không có trứng."
Tôi không nghĩ mình là kẻ ngu ngốc, nhưng phải mất một lúc rất lâu tôi mới hiểu viên đại tá đang nhờ cậy điều gì, và lâu hơn nữa để gom đủ can đảm hỏi ông ta.
"Ông muốn bọn tôi tìm trứng ư?"
"Một tá," ông ta đáp. "Bà ấy chỉ cần mười quả, nhưng tôi nghĩ chắc sẽ có quả bị vỡ, có quả bị hỏng."
Ông ta thấy vẻ bối rối của chúng tôi, và ông mỉm cười, nụ cười tuyệt vời của ông, tay siết chặt vai chúng tôi, đủ mạnh để khiến tôi đứng thẳng hơn. "Đám lính của tao nói rằng không có trứng ở Leningrad, nhưng tao tin rằng ở Leningrad có tất cả mọi thứ, ngay cả bây giờ, và tao chỉ cần những người phù hợp để tìm ra nó. Một cặp đạo chích."
"Chúng tôi không phải kẻ trộm," Kolya nói, đầy chính nghĩa, nhìn thẳng vào mắt viên đại tá. Tôi chỉ muốn đấm cậu ta. Đáng lẽ ra chúng tôi đã chết từ lâu, thân thể đông cứng, chất lên một chiếc xe trượt tuyết cùng với đống xác của ngày hôm đó. Chúng tôi đã được ân xá. Mạng sống của chúng tôi được trả lại để đổi lấy một nhiệm vụ đơn giản. Có thể hơi kỳ lạ, nhưng vẫn chỉ là một việc đơn giản. Và giờ cậu ta sắp làm hỏng mọi thứ—cậu ta đang đòi lấy viên đạn của mình, điều đó đã tệ rồi, nhưng cậu ta còn đòi luôn viên đạn của tôi, điều đó còn tệ hơn nhiều.
"Không phải kẻ trộm ư?" Viên đại tá nhướng mày. "Tụi mày đã bỏ đơn vị—không, không, im lặng, đừng nói gì cả. Bọn mày đã bỏ đơn vị, và ngay khoảnh khắc bọn mày làm vậy, bọn mày đã tự tước bỏ quyền lợi của một người lính Hồng quân—quyền mang súng, quyền mặc chiếc áo khoác đó, đôi ủng đó. Mày là một kẻ trộm. Còn mày, Mũi To, mày đã lục soát một cái xác. Đó là xác của một tên lính Đức nên tao không thấy bị xúc phạm cá nhân, nhưng hôi của vẫn là ăn trộm. Đừng chơi trò giả bộ nữa. Hai người đều là trộm. Những tên trộm tồi, đúng vậy, những tên trộm vụng về, chắc chắn rồi, nhưng tụi mày may mắn. Những tên trộm giỏi thì chưa bị bắt."
Ông ta quay lưng đi về phía ngôi nhà. Kolya và tôi vẫn đứng đó, dõi theo con gái viên đại tá, bộ lông cáo của cô ấy lấp lánh dưới ánh mặt trời. Chắc chắn cô ấy đã thấy chúng tôi, nhưng không hề để tâm, không thèm liếc mắt một lần. Chúng tôi chỉ là lính của cha cô ấy, hoàn toàn tẻ nhạt. Chúng tôi nhìn cô ấy lâu nhất có thể, cố ghi khắc hình ảnh ấy vào tâm trí để dùng trong những lần thủ dâm sau này, cho đến khi viên đại tá quát lên và chúng tôi vội vã chạy theo ông ta.
"Tụi mày còn thẻ lương thực chứ?" ông ta hỏi, sải bước dài, khoảng nghỉ của ông ta đã kết thúc, sẵn sàng cho một ngày dài làm việc. "Đưa đây."
Tôi luôn ghim thẻ lương thực vào túi trong áo khoác. Tôi tháo ghim và thấy Kolya rút thẻ của cậu ấy từ trong chiếc tất gấp lại. Viên đại tá nhận lấy chúng.
"Tụi mày mang trứng về cho tôi trước bình minh thứ Năm, tụi mày sẽ lấy lại thẻ. Nếu không—ừm, tụi mày có cả tháng Giêng để ăn tuyết, và sẽ chẳng có thẻ nào đợi tụi mày vào tháng Hai đâu. Đó là chưa kể nếu một trong số lính của tao tìm thấy và giết tụi mày trước khi tháng Hai đến. Mà tao phải nói, bọn họ rất giỏi việc đó."
"Họ chỉ không giỏi tìm trứng," Kolya nói.
Viên đại tá mỉm cười. "Tao thích mày, nhóc. Mày sẽ không sống lâu đâu, nhưng ta thích mày."
Chúng tôi bước vào phòng kính. Viên đại tá ngồi xuống bàn làm việc và nhìn chằm chằm vào chiếc điện thoại màu đen. Ông ta nhướng mày, như chợt nhớ ra điều gì đó, mở ngăn kéo bàn, rút ra một lá thư gấp gọn rồi đưa cho Kolya.
"Đây là giấy miễn trừ lệnh giới nghiêm cho tụi mày. Nếu ai gây rắc rối, cứ đưa cái này ra và đi tiếp. Và đây, cái này nữa..."
Ông ta lấy ra bốn tờ 100 rúp từ ví và đưa cho Kolya. Kolya liếc nhìn lá thư và số tiền rồi nhét vào túi. "Tháng Sáu vừa rồi, số tiền này có thể mua được cả ngàn quả trứng," viên đại tá nói.
"Và tháng Sáu tới nó cũng sẽ như vậy," Kolya đáp. "Fritz sẽ không trụ qua mùa đông đâu."
"Với những người lính như mày," viên đại tá cười khẩy, "chúng ta sẽ sớm phải trả tiền trứng bằng đồng mark Đức mất."
Kolya định mở miệng phản bác, nhưng viên đại tá lắc đầu.
"Tụi mày hiểu đây là một món quà chứ? Nếu các cậu mang về một tá trứng trước thứ Năm, ta sẽ trả lại mạng sống cho tụi mày. Tụi mày có hiểu sự quý giá của món quà này không?"
"Hôm nay là ngày mấy, thưa ông?"
"Hôm nay là thứ Bảy. Tụi mày đã đào ngũ vào thứ Sáu. Khi mặt trời mọc vào ngày mai, sẽ là Chủ Nhật. Từ giờ trở đi bọn mày có thể tự theo dõi ngày tháng không? Được chứ? Tốt."
Borya quay lại với bốn lát bánh mì nướng đặt trên một chiếc đĩa xanh. Bánh mì được phết thứ gì đó bóng nhẫy—có lẽ là mỡ lợn—trông béo ngậy và ngon lành. Một trợ lý khác bước vào phòng kính phía sau anh ta, mang theo hai tách trà nóng hổi. Tôi chờ đợi một trợ lý thứ ba mang theo bát súp cá, nhưng anh ta không bao giờ đến.
"Ăn nhanh đi" viên đại tá nói. "Bọn mày còn phải đi bộ nhiều đấy."
Chương 4
“Mũi Bự, tao khoái trí lắm. Ông già mày là ai vậy, Mũi Bự?”
“Mày không biết ông ấy đâu.”
“Nếu ông ấy đã xuất bản thơ thì tao biết ổng.”
“Thôi bỏ đi.”
“Sao mày dễ nổi nóng quá vậy?”
Chúng tôi lại vượt qua cầu Kamennoostrovsky, lần này thì đi bộ. Kolya dừng lại giữa cầu, tay đeo găng bám trên thành cầu, nhìn xuống dòng sông về phía dinh thự Dolgorukov. Con gái Đại Tá không còn trượt băng nữa, nhưng Kolya cũng ngắm một lúc, hy vọng nàng sẽ xuất hiện lần nữa.
“Nàng mỉm cười với tao” hắn nói.
“Nghèo mà ham, mày mơ hão huyền gì thế, nàng còn không thèm để mắt đến chúng ta nữa là.”
“Bạn nhỏ của tôi ơi, chắc mày đang ghen tị phải không, nhưng chắc chắn nàng cười với tao. Đoán xem tao đã gặp nàng ở đâu rồi, có thể ở trong trường Đại Học. Tao cũng có chút danh tiếng.”
“Như một thằng đào ngũ?”
Kolya quay trở lại trừng mắt nhìn tôi. “Tao sẽ đấm gãy răng, nếu mày còn gọi tao là thằng đào ngũ lần nữa.”
“Tao sẽ đâm con dao này vào mắt mày, thử đi thì biết.”
Kolya không coi thường lời hăm dọa của tôi nên quay mặt ngắm dòng sông. “Tao sẽ đấm mày ngã trước khi kịp rút dao, rất nhanh.”
Tôi tính rút dao ra ngay cho hắn thấy ai nhanh hơn, nhưng cơn giận của hắn qua rất mau và tôi cũng muốn đi cho lẹ.
Chúng tôi qua khỏi cầu, về lại đất liền, đi tới hướng nam trên con đường Pesochnaya, dòng sông ở bên phải, tuyến đường xe lửa rỉ xét đi Phần Lan nằm bên trái. Xe lửa đã ngừng chạy từ hồi tháng 9, khi tụi Đức bao vây thành phố và cắt tất cả các tuyến đường sắt – Phần Lan, Mạc Tư Khoa, Vitebsk, Warsaw, Baltic – Tất cả đã bị hư hại nặng và không còn dùng được nữa. Thành phố chỉ còn nối kết với mọi nơi nhờ đường hàng không, nhưng ít máy bay qua lọt vòng tuần tra của không quân Đức Luftwaffe.
“Chúng ta vẫn có thể chạy trốn được. Tuy hơi khó, vì không có thẻ khẩu phần.” Kolya đang suy tính. “Bọn mật vụ NKVD không đáng lo lắm, Trong quân đội chúng nó kháo nhau rằng ‘Cảnh sát không tìm thấy mấy con điếm trong nhà thổ’. Nhưng không thể không có thẻ khẩu phần … khó nhỉ.”
“Phải tìm cho ra trứng gà,” tôi nói với hắn. Chúng tôi đang đi dưới ánh mặt trời và thở không khí tự do nhờ lệnh của Đại Tá; nếu giá phải trả cho sự tự do là một tá trứng gà, chắc phải tìm cho ra một tá trứng gà khốn kiếp đó. Không có khoản nào để thương lượng hay tròng tréo cả.
“Tìm ra trứng gà là giải pháp hay nhứt, tao đồng ý. Nhưng không có nghĩa là chúng ta không còn đường nào khác. Có thể không còn trứng gà trong thành phố. Rồi sao? Mày còn gia đình ở đây chứ?”
“Không.”
“Tao cũng thế. Đó cũng là điều tốt. Chỉ phải lo chính bản thân thôi.”
Những thông cáo gián đầy tường của mấy nhà kho đã bị cháy sạch bên trong:” Bạn đã ghi danh vào đội Nhân Dân Xung Phong chưa?” Không có chung cư nào trong vùng này và đường xá vắng ngắt, không một bóng người đi bộ dưới bầu trời xám xịt. Chúng tôi giống như là hai kẻ cuối cùng sống sót sau cuộc chiến. Hai chiến sĩ duy nhất còn lại của thành phố, với con dao găm của tôi và nắm đấm nhanh nhẹn của Kolya để chống nhau với bọn quân phiệt Đức.
“Chúng ta vẫn còn hy vọng ở chợ Haymarket,” Kolya nói. “Tao đến đó cách đây vài tháng. Vẫn còn có bơ và phó mát, có thể có cả một chút trứng cá caviar nữa.”
“Thế tại sao mấy thằng tay chân của Đại Tá không kiếm ra trứng?”
“Đó là chợ đen. Một nửa là hàng ăn cắp. Có những đứa trao đổi thẻ khẩu phần, toàn là những dịch vụ phạm pháp. Chúng không bán cho kẻ nào mặc đồng phục. Đặc biệt là đồng phục mật vụ NKVD.”
Nó nói có vẻ hợp lý. Hắn huýt gió một điệu nhạc của riêng mình chẳng có nhịp điệu gì cả và chúng tôi cứ theo hướng nam mà đi về phía chợ Haymarket. Mọi sự đều tốt đẹp, án tử hình không còn là mối bận tậm nữa. Tôi có nhiều đồ ăn trong bụng hơn cả mấy tuần lễ trước đây, và nước trà đậm giúp tôi thêm hăng hái. Tôi cảm thấy chân cẳng mạnh mẽ hẳn lên, đủ để đưa tôi đi tới bất cứ nơi nào. Đâu đó, có một người có một tá trứng gà, rồi thế nào mình cũng sẽ tìm ra. Nhưng bây giờ hãy cứ tận hưởng hình ảnh sống động của cô bé con gái Đại Tá đang trượt băng trần như nhộng trên sông Neva, chiếc mông trắng nhởn lóng lánh dưới ánh mặt trời.
Kolya vỗ lưng tôi với nụ cười đểu cáng, như thể hắn nhìn thấu qua chiếc sọ bằng thủy tinh của tôi.
“Con nhỏ trông tuyệt diệu phải không? Chắc mày muốn thử một cái chứ gì?”
Tôi chẳng nói chẳng rằng, nhưng Kolya có vẻ hay nói chuyện một mình.
“Bí quyết để chiếm được trái tim phụ nữ là sự tính toán chính xác thời gian thờ ơ với nàng.”
“Mày nói gì?”
“Văn hào Ushakovo. Đó là một hàng trong tác phẩm The Courtyard Hound. Úi dào, mày chưa từng đọc The Courtyard Hound mà.” Hắn thở dài thườn thượt, chán nản cho sự vô tâm của tôi. “Ông già mày là một thành viên trong nhóm văn đàn nhưng lại để mày mù chữ. Buồn nhỉ.”
“Sao mày cứ nói về ông già tao mãi thế?”
“Radchenko, vai chánh trong truyện, là một người tình tuyệt vời. Rất nhiều người ở khắp nơi trong Mạc Tư Khoa tìm đến ông ta để xin chỉ giáo về khoa chinh phục phụ nữ. Ông ta chẳng bao giờ rời giường ngủ chỉ nằm đó uống trà – “
“Giống như Oblomov”
“Chẳng giống chút nào, tại sao người ta luôn nói ‘giống như Oblomov?”
“Bởi vì nghe y chang như Oblomov.”
Kolya đứng lại và nhìn xuống tôi. Hắn cao hơn tôi cả cái đầu và vai rộng gấp đôi tôi, bóng hắn bao trùm cả tôi với đôi mắt hăm dọa.
“Tất cả trường Đại Học đều đề cao Goncharov một cách điên cuồng, ông ta chẳng bằng nửa Ushakovo. Oblomov thì chẳng đáng gì. Oblomov chỉ là tấm gương đạo đức trong sách khổ chữ lớn dạy cho bọn con nít sao cho lớn lến chúng nó không lười biếng. Còn Radchenko là một trong những nhân vật vĩ đại trong văn chương. Ông ta và Raskolnikov cả Bezukhov nữa, xem nào, có thể bao gồm Chichikov luôn.”
“Mày đang miệt thị tao.”
“Mày đáng bị miệt thị.”
Tôi tiếp tục đi về phía nam, Kolya vẫn khích động như thường lệ, riết rồi hắn cũng nguôi ngoai. Định mệnh đã trói buộc chúng tôi với nhau, không thể chối cãi được. Chúng tôi sẽ dinh với nhau như đôi vợ chồng cho đến ngày Thứ Năm.
Dòng sông neva đông đá, phủ một lớp tuyết. Phía bên kia sông có thể nhìn thấy tượng thiên thần màu vàng vẫn còn gắn trên vòm nhà thờ Thánh Phê Rô và Thánh Phao Lồ mặc dầu người ta đồn rằng quân Đức đã treo giải thưởng huy chương Iron Cross cho tụi pháo binh nếu chúng có thể bắn đổ bức tượng. Kolya chỉ về phía khu thành cổ Petrograd bằng cái hất cằm của hắn. “Hồi đó tao đóng quân ở trong cái pháo đài khi sở thú thành phố bị thả bom.”
Tôi hỏi “Tao nghe nói mấy con khỉ đột chạy rông trong thành phố, và cả mấy con cọp Siberia nữa … “
“Đó là chuyện ba xạo, chẳng có con nào thoát ra ngoài.” Kolya trả lời.
“Có thể một vài con thoát ra được, sao mày dám chắc như vậy?”
“Chẳng có con nào. Nếu mày muốn tự kể một câu chuyện đẹp để giúp cho dễ ngủ, thì cứ làm, nhưng đó chỉ là chuyện xạo thôi.” Hắn nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống đất. “Bọn Đức đốt sạch cả khu vực. Con voi Betty … Tao mê con voi đó lắm. Tao đã thăm nó biết bao lần khi còn con nít. Ngắm nó tắm bằng cách, hút nước lên cái vòi rồi phun trên lưng ... Nó thật là dễ thương. Mày không nghĩ vậy phải không, nó bự khủng khiếp, nhưng rất dễ thương.”
“Nó chết rồi hả?”
“Tao vừa nói với mày cái gì? Tất cả đều chết. Mất mấy giờ Betty mới chết hẳn, Cách nó rống lên rên rỉ …Lúc đó tao đang trong phiên gác, và chỉ muốn chạy đến bắn cho nó một phát vào tim. Chấm dứt sự khổ đau của nó. Mày chẳng bao giờ muốn nghe một con voi kêu thảm thiết khi chết đâu.”
Chắc đi bộ cả 6 cây số mới đến Haymarket, vượt cây cầu Liteiny, ngang qua Công Viên Mùa Hè trong đó những cây du và cây xồi đã bị chặt xuống bằng rìu, rồi đến nhà thờ Spilled Blood với mặt gạch bóng láng và cái vòm tròn hình củ hành tây cao hẳn lên, xây trên vùng đất mà Hryniewiecki đã đổ máu cùng với Hoàng Đế Alexander Đệ Nhị. Càng đi về phía nam, phố xá càng đông đảo hơn; mọi người đều mặc ít nhất 3 lớp áo, nghiêng theo chiều gió mà đi, mặt mày hốc hác, nhăn nheo và xanh xao vì thiếu chất sắt. Khu nhà ga xe điện Nevsky Prospekt mọi cửa hàng đều đóng kín từ mấy tháng nay. Chúng tôi thấy hai người đàn bà vào trạc tuổi 60 đi sát chạm vai nhau, mắt nhìn xuống đường để tránh những mảng băng đá có thể làm chết người. Một người đàn ông với bộ râu rậm và cứng đáng nể, tay xách một một thùng trắng đựng đầy đinh đen thùi. Một chú bé con, không quá 12 tuổi, kéo chiếc xe trượt tuyết bằng sợi dây thừng. Có một thân hình bé bỏng quấn chăn nằm trong xe, chiếc chân không chút máu lòi ra lê trên tuyết đã đóng băng. Chông sắt đóng dính xuống mặt đường, những khối xi măng cốt sắt xếp thành từng hàng để chống xe tăng địch. Một tấm cáo thị rất lớn dán trên tường: “COI CHỪNG! PHÍA ĐƯỜNG BÊN NÀY RẤT NGUY HIỂM TRONG KHI QUÂN ĐICH THẢ BOM.”
Nevsky trước chiến tranh là trung tâm thành phố, xây dựng lên để cạnh tranh với những khu du lịch nổi tiếng của Luân Đôn và Paris, những gian hàng bên lề đường bày bán hoa đào, kẹo sô cô la, đám đàn ông mang tạp dề đứng sau quày hàng của tiệm Eliseyev’s cắt cá tầm nướng và thịt con chồn hương, tháp đồng hồ của Tòa Đô Chánh kêu to hơn bất cứ tiếng động nào khác để nhắc nhở mọi người đúng giờ giấc. Những chiếc xe Packard đen sang trọng chạy vụt qua, bóp kèn inh ỏi, chở theo những đảng viên quan trọng từ cuộc họp này sang cuộc họp khác. Ngay cả khi bạn không có tiền để mua xắm hay chẳng có nơi nào quan trọng phải đến, Nevsky vẫn là nơi hấp dẫn để dạo chơi. Vào độ tháng Sáu mặt trời vẫn chói chang đến tận nửa đêm và không ai muốn bỏ phí ánh sáng. Bạn có thể ngắm mấy cô gái xinh đẹp nhất thành phố đang dán mắt trên cửa kiếng những tiệm sang trọng, mắt các cô đang đánh giá những bộ quần áo mới tung ra thị trường chào hàng, ăn cắp kiểu thời trang để về nhà may lấy, nếu họ có thể dấu diếm đủ vải từ xưởng may. Dù cho bạn không nói lời nào với các cô, dù bạn chỉ ngắm họ từ xa …
Kolya hỏi tôi “Mày chưa cắt chỉ phải không?”, cắt ngang dòng tư tưởng của tôi, rất đúng lúc làm tôi giựt mình.
Tôi hỏi ngược lại một cách rất ngu xuẩn “Tao à? Mày nói cái gì?”
“Tao nói rằng mày chưa bao giờ ngủ với đàn bà.”
Bạn biết không, đôi khi chẳng có gì phải nói dối; trò chơi đã kết thúc trước khi bắt đầu.
“Tại sao mày quan tâm?”
“Này, Lev, tại sao chúng ta không là bạn với nhau? Mày nghĩ sao? Chúng ta sẽ phải dính với nhau cho đến khi tìm ra trứng gà, hãy làm thân đi nhá, được không? Mày là thằng nhỏ rất lý thú, hơi khó chịu, một chút nhạy cảm theo kiểu Do Thái của mày, nhưng tao thích mày. Và nếu mày đừng có lúc nào cũng chống đối, tao sẽ dạy mày nhiều thứ.”
“Về con gái?”
“Đúng, về con gái, về văn chương, về cờ Vua.”
“Mày bao nhiêu tuổi, 19 phải không? Tại sao lúc nào mày cũng làm ra vẻ thông thạo mọi thứ.”
“Tao 20, Và không phải thông thạo mọi thứ. Chỉ con gái, văn chương và cờ Vua thôi.”
“Thế thôi?”
“Hừ, nhảy đầm nữa. Tao là số một về nhảy đầm.”
“Mày muốn đánh cá cái gì cho một bàn cờ Vua?”
Kolya liếc tôi và mỉm cười. Hắn thở dài, hơi thở làm thành làn khói bay khỏi đầu.
“Tao sẽ lấy con dao của mày.”
“Tao được gì?”
“Mày chẳng được gì cả, vì mày chẳng thể nào thắng được.”
“Cứ giả thử tao thắng đi.”
“Tao còn độ 100 gram xúc xích.”
“100 gram xúc xích đẻ đổi lấy con dao Đức này à, còn khuya.”
“Tao có mấy tấm hình …”
“Hình gì vậy?”
“Hình con gái. Gái Pháp. Mày nên học những cái gì phải học.”
Hình mấy đứa con gái Pháp đáng giá để chơi một ván cờ Vua. Tôi chẳng phải lo mất con dao. Có rất nhiều người ở Peter có thể thắng tôi, nhưng tôi biết tên từng người. Cha tôi đã từng là vô địch của thành phố khi Ông còn là sinh viên; khi tôi còn bé, mỗi ngày thứ Năm và Chủ Nhật Ông thường dắt tôi đi đến câu lạc bộ cờ Vua Spartak Chess Club ở khu Palace of The Pioneers. Khi tôi 6 tuổi, huấn luyện viên của câu lạc bộ tuyên bố tôi là một tài năng. Trong nhiều năm tôi là một trong số những em bé đứng đầu toán những tay chơi trẻ, thắng nhiều huy chương và mề đay trong những cuộc tranh tài Leningrad Oblast. Cha tôi hãnh diện lắm, nhưng Ông rất khiêm tốn không muốn để cho ai biết sự quá quan tâm của Ông về việc tranh giải và Ông không để cho tôi trưng bày những giải thưởng trong căn chung cư chúng tôi ở. Lúc tôi 14 tuổi, tôi bỏ câu lạc bộ vì hiểu rằng tôi chỉ là một tay chơi khá chứ không thể là một quán quân được. Đám bạn bè chơi trong câu lạc bộ Spartak, mà tôi từng hạ chúng khi còn trẻ, bây giờ họ đều thắng tôi rất xa, tiến lên bậc cao hơn mà tôi không thể đạt được dù tôi đã chơi không biết bao nhiêu bàn, đọc bao nhiêu sách, bỏ ra bao nhiêu đêm nghiền ngẫm những bàn cờ rắc rối trên giường ngủ. Tôi giống như một dương cầm thủ điêu luyện, biết phím nào phải gõ, nhưng không thể sáng tác một bản nhạc cho riêng mình. Một tay chơi cờ sáng giá hiểu rằng hắn không thể nào biết hết nước cờ; hắn phân tích bàn cờ và biết được làm sao hoàn thiện hơn nước cờ của mình trước khi cái đầu có thể sắp xếp giải thích bước đi của mình. Tôi không có cái bản năng đó. Cha tôi rất bất mãn khi tôi từ bỏ câu lạc bộ, nhưng tôi không buồn chút nào. Chơi cờ trở nên thú vị bội phần khi tôi không còn lo ngại vị trí của mình trong bảng sắp hạng.
Kolya dừng lại trước tiệm Kvissisana Café nhìn qua khung cửa kính có dán chéo bằng băng keo. Bên trong hoàn toàn trống rỗng, không thấy một cái bàn nào cả, chẳng có gì cả ngoài sàn nhà bằng plastic và tấm bảng treo trên tường vẫn còn ghi những món đặc biệt của tháng 8.
“Có lần tao dẫn một em đến ăn ở đây. Sườn cừu cốt lết ở đây ngon nhất thành phố.”
“Rồi mày mang em về nhà và làm tình với em?” Tôi chỉ cốt chế nhạo hắn thôi, nhưng ngay lúc đó tôi sợ rằng thật sự dám hắn đã làm y như vậy.
“Không,” Kolya trả lời, vừa nhìn bóng mình trong cửa kính và tém gọn lại mấy lọn tóc vàng vào chiếc mũ lông đen. “Tụi tao làm tình trước khi ăn tối. Ăn xong tụi tao uống rượu ở nhà hàng Europa. Em mê tao điên cuồng, nhưng tao thích cô bạn của em hơn.”
“Sao mày không dẫn cô bạn đó đi ăn?”
Kolya cười, một nụ cười kiêu ngạo đối với kẻ dưới tay thật thà.
“Thờ ơ có tính toán. Mày cần học hỏi thêm.”
Chúng tôi tiếp tục đi về phía Nevsky. Mới có một giờ chiều nhưng mặt trời đã xuống thấp ở phương Tây, bóng chúng tôi kéo dài trước mặt.
Hắn nói “Nào, hãy bắt đầu từ từ nhé, những điều căn bản. Mày đã thích em nào chưa?”
“Chẳng có em nào đặc biệt cả.”
“Ai nói cần em nào đặc biệt? Mày còn trinh, cần cái đùi ấm áp, và tiếng đập mạnh của trái tim, không phải Tamara Karsavina.”
“Có con nhỏ tên Vera, em sống cùng chung cư với tao. Nhưng nó thích thằng khác.”
“Được. Bước thứ nhất, không cần để ý đến thằng khác, để ý về Vera thôi. Em có gì đặc biệt không? Tai sao mày thích em?”
“Tao cũng chẳng biết, chỉ vì em sống cùng khu chung cư với tao.”
“Đó cũng là lý do, còn gì nữa không?”
“Em chơi đàn Cello.”
“Nhạc cụ đẹp. Mắt em màu gì?”
“Tao không biết.”
“Mày không thích em. Mày không biết mắt em màu gì, có nghĩa là mày không thích em.”
“Tao thật tình thích em, nhưng em luôn để ý đến thằng Grisha Antokolsky, vậy ý mày là gì?”
“Được,” Kolya nói, rất kiên nhẫn với nhiệm vụ buồn nản, “Mày nghĩ mày thích em vì em không thích mày. Có thể hiểu được, nhưng tao cho mày biết, mày không thích em. Thôi hãy quên Vera đi.”
Quên Vera, chắc không khó. Suốt 3 năm nay tôi đã cố tưởng tượng xem Vera trông ra sao nếu nàng trần truồng, nhưng chỉ vì phòng em ở dưới tôi 2 tầng, và một lần trong hồ tắm thiếu niên, tôi đã thấy núm vú của em khi cái dây của chiếc áo tắm tuột ra. Nếu không vì Vera hốt hoảng lúng túng ở chiếc cửa sắt khu chung cư Kirov, tôi đã không phải lang thang trên đường phố Piter với thằng lính điên đào ngũ này, để tìm trứng gà. Em chẳng hề ngó lại khi những người lính bắt được tôi. Cô ta chắc đang dỡn hớt với thằng Grisha ở một góc tối nào đó của khu chung cư Kirov trong khi tôi bị giam trong nhà tù Crosses.
“Con gái Đại Tá rất đẹp. Tao thích nàng.”
Kolya liếc tôi khoái chí.
“Đúng, con gái Đại tá đẹp thật. Tao thích sự lạc quan tếu của mày. Nhưng nàng không phải để cho mày.”
“Thì nàng cũng có phải để cho mày đâu.”
“Chưa chắc, nếu mày thấy cách nàng nhìn tao.”
Chúng tôi đi ngang qua một đám thiếu niên với thang leo và những thùng sơn trắng, chúng đang bận rộn bôi xóa nhũng bảng tên đường và số nhà. Kolya dừng lại và nhìn chăm chú.
“Ê thằng kia!” hắn hét thật to với một thằng nhóc đứng gần nhất, thằng bé mặc không biết bao nhiêu lớp áo, tưởng nó mập lắm cho đến khi nhìn thấy mặt nó nhăn nheo, đôi mắt đen sáng ngời, trên hốc mắt sâu hoắm như một ông già. Rất ít trẻ con cỡ tuổi thằng bé còn ở lại thành phố; hầu hết đã di tản từ tháng 9. Những đứa còn ở lại hầu như là con nhà nghèo hoặc mồ côi chẳng có bà con chi ở phía Đông.
“Mày làm cái quỷ gì thế?” Kolya hỏi. Hắn quay nhìn tôi, ngạc nhiên vì sự khinh thường của thằng bé. “Mấy thằng ranh con đang phá hoại Đại Lộ. Ê! Nhóc con!”
“ĐM nói gì thế?” thằng bé mắt đen trả lời, vừa bôi số nhà trên cửa của một tiệm sửa đồng hồ.
Dù là thằng Kolya đi nữa cũng phải thối lui vì thái độ của thằng bé. Hắn bước tới bên thằng bé, nắm vai và xoay người nó lại.
“Mày đang đối đáp với lính Vệ Binh Đỏ, nhóc con – “
“Kolya,’ tôi gọi hắn.
“Mày nghĩ bây giờ là lúc đùa nghịch hả? Mày và mấy thằng bạn ma cà bông của mày muốn chạy cà nhỏng – “
“Mày hãy bỏ tay ra khỏi người tao ngay,” thằng bé đáp.
“Bây giờ mày lại hăm dọa tao hả? Tao đã từng bắn vào lính Đức 4 tháng rồi, bây giờ mày lại dám hăm dọa tao?”
“Kolya,” Tôi gọi hắn lần nữa, lần này to tiếng hơn. “Chúng nó chỉ làm theo lệnh thôi, để đánh lạc đường tụi Đức.”
Kolya nhìn từ thằng bé mắt đen, đến cái bảng tên đường đã bị xóa, rồi đến tôi.
“Sao mày biết.”
“Bởi vì tao cũng đã làm việc này cách đây hai ngày.”
Kolya thả thằng bé con ra, nhóc con nhìn hắn chòng chọc một hồi rồi trở lại tiếp tục làm việc của nó.
“Ờ, rất hay,” Kolya nói, và chúng tôi tiến về khu chợ Haymarket.
Chương 5
Nếu cần mua, bán, hay đổi chác cái gì, ai cũng đến chợ Haymarket. Trước chiến tranh, những sạp hàng bày trên đường ở Haymarket, người ta gọi là Đại Lộ Nevsky của đám bình dân. Sau khi bị bao vây, khi những gian hàng sang trọng đã đóng cửa từ từ từng cái một, những tiệm ăn nổi tiếng cũng khóa chặt và mấy ông hàng thịt không còn gì trong tủ lạnh, thì chợ trời Haymarket trở nên phát đạt. Vợ các tướng tá đổi dây chuyền hổ phách lấy vài bao bột mì. Đảng viên cao cấp trả giá với nông dân, họ là những người mang nông phẩm len lỏi vào được thành phố, ví dụ một bộ đồ cổ bằng bạc đổi được bao nhiêu khoai lang tây. Nếu cuộc mặc cả kèo nài quá lâu, bọn nông dân sẽ khua tay đuổi khéo dân phố thị và bỏ đi. “Thôi không đổi chác gì nữa, về ăn muỗng nĩa của mấy người đi,” họ sẽ nói như vậy với một cái nhún vai khinh bỉ. Cuối cùng nông dân luôn được giá họ muốn.
Chúng tôi đi từ sạp hàng này đến sạp hàng khác, nhìn thử đống giày da, vài đôi còn dính máu của những người chủ cũ. Súng trường Tokarev và súng ngắn thì rất rẻ, chỉ cần vài Rubles hay 200 gram bánh mì cũng mua được. Súng Luger và lựu đạn thì đắt hơn nhưng vẫn có thể kiếm được nếu bạn hỏi đúng người. Một sạp hàng bán một ly đất với giá 100 Rubles, người ta gọi là bùn Badayev, đó là đất lấy được từ kho hàng thực phẩm đã bị bom thả xập, lẫn với đường ngọt đã chảy.
Kolya dừng lại một xập hàng chủ nhân là một người ốm yếu, lưng còng, với cái băng che mắt, ngậm chiếc tẩu thuốc không mồi lửa, bán những chai rượu trắng không dán nhãn.
“Cái gì đây?” Kolya hỏi.
“Vodka.”
“Vodka? Làm bằng gì?”
“Gỗ.”
“Đó không phải là Vodka, bạn ơi, đó là cồn làm từ gỗ.”
“Có mua hay không?”
“Chúng mình đến đây đâu phải để mua thứ đó,” tôi bảo Kolya, hắn phớt lờ.
“Thứ này làm người ta mù mắt.” Hắn nói với chủ nhân sập hàng.
Người độc nhãn lắc đầu, chán nản với sự kém hiểu biết của hắn, nhưng vẫn cố gắng vớt vát một hy vọng cuối cùng để bán món hàng.
“Hãy lọc qua lớp vải,” ông ta nói. “7 lớp vải, sau đó, sẽ an toàn.”
“Nghe như thuốc rượu dành cho thần thánh,” Kolya nói. “Nên gọi nó là ‘7 lớp tội lỗi’. Đó là cái tên hay cho một ngụm rượu.”
“Có muốn mua không?”
“Tôi sẽ mua một chai nếu ông chịu uống với tôi một chút.”
“Còn quá sớm.”
Kolya nhún vai. “Tôi sẽ mua một chai nếu ông chịu uống một hớp. Nếu không, làm sao tin được, chiến tranh làm tôi trở thành đa nghi.”
“200 Rubles một chai.”
“100 Rubles. Cùng uống nhá.”
“Mày đang làm gì vậy?” Tôi hỏi hắn, nhưng hắn không thèm nhìn tôi.
Chàng Độc Nhãn đặt chiếc tẩu lạnh ngắt trên bàn, lấy một ly uống trà, và nhìn quanh quẩn sập hàng để kiếm miếng vải.
“Đây,” Kolya nói, đồng thời đưa ra một chiếc khăn tay trắng. “Tương đối sạch sẽ.”
Chúng tôi dòm chàng Độc Nhãn gấp cái khăn 3 lần, phủ trên miệng ly. Hắn rót rượu lên từ từ. Mặc dù ở chỗ trống và gió thổi mạnh, vẫn ngửi thấy giống như mùi thuốc độc, hay mùi thuốc tẩy để lau sàn nhà trong một hãng xưởng nào đó. Chàng Độc Nhãn để cái khăn qua một bên, bây giờ nó bám đầy những chất như bọt xà bông. Hắn cầm ly lên và nhắp một ngụm, rồi đặt lên mặt bàn, nét mặt không hề thay đổi.
Kolya xem xét kỹ mực rượu trong ly để chắc chắn rằng người bán đã uống một chút. Vừa lòng, hắn cầm ly lên và chúc tụng chúng tôi.
“Chúc mừng Mẹ vĩ đại của dân tộc Nga!” Hắn nốc cạn ly rượu làm bằng bột gỗ, đặt mạnh ly lên bàn, chùi mép bằng sống bàn tay, và bịt miệng. Hắn nắm chặt vai tôi để khỏi ngã, mắt mở lớn, nước mắt trào ra.
“Mày đã giết tao,” hắn nói, không thốt nổi thành lời, ngón tay chỉ về phía anh chàng Độc Nhãn.
“Tao không nói mày phải uống nhanh như thế,” hắn trẳ lời, không một chút ngạc nhiên, đặt chiếc tẩu vào miệng. “Một trăm Rubles.”
“Lev…Lev mày còn đó không?” Mặt Kolya hướng về phía tôi, nhưng mắt đờ ra, nhìn thẳng tôi.
“Thật buồn cười, đóng kịch dở quá!”
Kolya cười lớn và đứng thẳng lên. “Không lừa được tên Do Thái, đáng lẽ tao phải biết trước như vậy. Thôi được. Trả tiền nó đi.”
“Cái gì?”
“Trả đi,” hắn nói, hướng về phía người đàn ông bán hàng. “Trả hắn tiền.”
“Tao làm gì có tiền.”
“Đừng có xạo với tao thằng nhóc.” Kolya gầm lên, nắm chặt cổ áo khoác của tôi và lắc mạnh cho đến khi tôi cảm thấy tất cả khớp xương rung lên kêu lách cách. “Tao là lính Vệ Binh Đỏ và sẽ không tha thứ cho hành động ăn trộm nào!”
Bất thình lình hắn buông tôi ra, thọc tay vào túi áo khoác của tôi, lôi ra những mảnh giấy vụn, một đoạn dây và miếng vải vụn, chả có cái gì giống như tiền cả. Kolya thở dài và hướng về phía người bán hàng.
“Hình như là chúng tôi không có tiền. Chắc phải hủy bỏ cuộc buôn bán thôi.”
Người Độc Nhãn banh áo khoác ra cho chúng tôi thấy cái cán của chiếc dao găm Phần Lan rồi nói: “Mày tưởng mày là lính, thì tao sẽ không xẻ mày ra từng mảnh à?”
“Tao đã có một ly thuốc độc trong bụng rồi, sao không thử đi.”
Kolya mỉm cười và chờ anh chàng trả lời. Chẳng có gì trong đôi mắt xanh của hắn, không sợ hãi, giận dữ, hay kích động của một trận ẩu đả sắp sảy ra – không có tí gì cả. Điều này khiến tôi biết rằng hắn có một đặc ơn Trời cho: Hắn rất bình tĩnh khi đối diện với hiểm nguy. Quanh nó, người ta thường phản ứng với sự kinh hãi bằng thái độ: kiên nhẫn, bấn loạn, giả vờ vui vẻ, hay bao gồm hai trong ba thứ đó. Nhưng tôi tin rằng Kolya chả bao giờ tin tưởng hoàn toàn bất cứ điều nào. Hắn cho rằng chiến tranh thật nực cười: Sự dã man của Tụi Đức, lời tuyên truyền láo khoét của đảng, những viên đạn lân tinh đan xéo nhau chiếu sáng bầu trời đêm. Đối với hắn, tất cả dường như là chuyện của ai khác chẳng dính dáng gì tới hắn, đó là một chuyện chi tiết thậy kinh ngạc mà hắn chẳng may quàng phải và không thể thoát ra được.
“Đi đi kẻo tao cắt cái môi mày ra,” chàng Độc Nhãn kêu lên, gặm cái cán của chiếc tẩu, tay đặt trên cán của con dao găm. Kolya chào và bước qua sập hàng kế, thoải mái và không lo lắng gì cả như thể cuộc trao đổi vừa rồi đàng hoàng và không có gì khúc mắc. Tôi đi theo hắn, tim đập thình thịch trong lồng ngực.
“Này, lo đi kiếm trứng gà thôi nhá,” tôi nói. “Tại sao mày phải đi lòng vòng chọc giận người ta?”
“Tao cần ngửi nước đái quỷ, tao đã ngửi rồi, bây giờ thấy tỉnh táo trở lại.” Hắn hít vào thật sâu và thở ra với đôi môi mím lại, ngắm hơi nước bay cao lên không trung. “Hai chúng mình đáng lẽ đã chết tối qua. Mày có hiểu không? Mày có hiểu chúng ta đã rất may mắn không? Nên hãy cứ vui sống thoải mái.”
Tôi dừng lại bên xập hàng của một mụ già nhà quê, quấn chiếc khăn trên đầu, bán mấy miếng thịt tái xám. Kolya và tôi nhìn chăm chú vào miếng thịt, tương đối còn tươi, lóng lánh mỡ, nhưng chúng tôi chẳng cần biết thịt gì.
“Bà có trứng gà không?” Tôi hỏi bà già.
“Trứng gà?” Nghiêng mình về phía trước để nghe cho rõ. “Đã hết từ tháng 9 đến giờ.”
“Chúng tôi cần một tá,” Kolya hỏi, “và sẽ trả giá cao.”
Bà già nói “Dù tụi bay có thể trả 1 triệu Rubles, cũng không có trứng trong thành phố Piter.”
“Ở đâu có?”
Bà ta nhún vai, những nếp nhăn hằn sâu trên mặt giống như được khắc vào đó. “Tôi có thịt, nếu muốn mua, 300 hai miếng. Không có trứng.”
Chúng tôi đi từ sập hàng này qua sập hàng khác, hỏi xem có trứng không, nhưng không một ai trong Haymarket thấy một quả trứng nào từ tháng 9. Một vài người đưa ra giả thuyết nơi nào có thể tìm được trứng như là một vài sỹ quan cao cấp được cung cấp từ Mạc Tư Khoa bằng máy bay; nông dân ở ngoài thành phố cung cấp cho tụi Đức, cùng với bơ và sữa tươi, để đổi lấy mạng sống; một lão già sống gần khu vực Narva Gate nuôi gà trong chuồng đặt trên sân thượng. Tin đồn cuối cùng này nghe vô lý quá, nhưng thằng nhóc cung cấp tin cho chúng tôi quả quyết đó là sự thật.
“Giết con gà, may ra sống được một tuần. Nếu bạn giữ nó, mỗi ngày một quả trứng, cộng thêm với khẩu phần hàng ngày, bạn có thể sống đến mùa hè.”
“Phải cho gà ăn nữa chứ,” Kolya nói. “Ai có thức ăn cho gà?”
Một thằng nhỏ với mái tóc đen quăn tít rủ ra ngoài chiếc mũ Thủy Thủ của hải đội Hoàng Gia, lắc đầu như thể nghe một câu hỏi rất đần độn.
“Gà ăn bất cứ cái gì. Một muỗng mạt cưa, nó chỉ cần có nhiêu đó thôi.”
Thằng nhóc bán thứ mà người ta gọi là kẹo thư viện, làm bằng cách xé cái bìa cuốn sách, gỡ keo dán gáy sách, nấu ra rồi làm thành từng thanh nhỏ cuốn trong giấy. Ăn giống như sáp, nhưng có chất đạm trong keo dán sách, chất đạm nuôi sống con người, và sách trong thư viện thành phố biến mất như chim bồ câu.
“Mày nhìn thấy mấy con gà đó?” Kolya hỏi nó.
“Em tôi thấy, ông già ngủ trong chuồng ban đêm với cây súng săn. Mọi người trong tòa nhà đó đều muốn ăn cắp gà của lão.”
Kolya nhìn tôi và tôi lắc đầu. Thời bị Đức bao vây chúng tôi đều nghe cả chục chuyện bất khả tín khác nhau trong ngày, chuyện một ông hàng thịt bí mật cất dấu những đùi thịt bò đông lạnh, chuyện những chiếc tủ lạnh đựng đầy hộp trứng cá caviar và xúc xích bê. Luôn luôn là anh, em hay con cô cậu của một người nào đó đã nhìn thấy mấy cái kho tàng này. Người ta tin vào những câu chuyện đó vì nó hợp với lòng tin vững chắc rằng có một số người, ở một nơi nào đó, ăn uống phủ phê trong khi dân trong thành phố thì chết đói. Và dĩ nhiên họ luôn luôn đúng – Con gái Đại Tá có thể không ăn ngỗng quay mỗi ngày, nhưng chắc chắn là có ăn bữa tối no đủ mỗi ngày.
“Lão già không thể ở trong chuồng gà cả ngày đêm,” tôi bảo với thằng nhóc. “Ông ta phải đi lãnh khẩu phần. Ông ta phải đi lấy nước và dùng nhà vệ sinh. Có khi người nào đó đã ăn cắp mấy con gà của lão từ lâu rồi.”
“Lão già tiểu trên mái nhà, tôi không biết nó ra phía bên kia lúc nào, nhưng có thể lão nuôi gà như thế đó.”
Kolya gật đầu, cảm phục lối nuôi gà của lão, nhưng tôi tin rằng thằng bé đặt chuyện ra thôi.
Thình lình Kolya hỏi tôi, “lần cuối mày đi cầu là lúc nào?”
“Không nhớ. Chắc cách nay một tuần?”
“Còn tao thì đã 9 ngày rồi. Tao đếm mỗi ngày. 9 ngày! Chừng nào đi được tao sẽ mở tiệc ăn mừng và mời những cô sinh viên đẹp nhất của trường Đại Học đến dự.”
“Mời con gái Đại Tá nữa chứ.”
“Tao sẽ mời, đương nhiên rồi. Tiệc ăn mừng đi cầu của tao chắc chắn sẽ hơn tiệc cưới cô nàng đang sửa soạn.”
“Bánh mì khẩu phần đi cầu làm đau đít.” Thằng nhỏ tóc quăn góp ý, “ba tôi nói họ cho toàn cellulose.”
“Mình tìm lão già với bầy gà ở đâu bây giờ?”
“Tôi không biết địa chỉ. Nếu anh đi về hướng Đại lộ Stachek từ Narva Gate, anh sẽ đi ngang một tòa nhà có tấm bích chương vĩ đại của Zhdanov (37) dán trên tường, lão ở đó.”
Tôi hơi bực mình, nói với Kolya “Có đến nửa thành phố dán hình Zhdanov trên tường, chúng ta phải cuốc bộ 3 cây số để tìm mấy con gà không bao giờ có.”
Hắn vỗ vai thằng nhóc và nói, “nó không nói dối đâu. Nếu không, chúng mình trở lại bẻ gẫy hết mấy ngón tay của nó. Nó biết tụi mình là mật vụ NKVD mà.” Thằng bé trả lời “Các anh không phải là mật vụ NKVD.” Kolya móc lá thư của Đại Tá trong túi áo khoác ra và phát trên má thằng nhóc.
“Này xem đây, lá thư của Đại Tá Mật Vụ NKVD cho phép cho chúng tao đi tìm trứng gà. Mày nghĩ sao đây? ”
“Anh còn một lá thư khác của Stalin, cho phép cho anh chùi đít cho sạch phải không?”
“Trước hết Ổng ấy phải cho phép tao đi ỉa cái đã.”
Tôi không ở lại lâu để nghe hết lời đối đáp. Nếu Kolya muốn lang thang khắp thành phố để kiếm mấy con gà hoang đường ấy, đó là việc của hắn, nhưng mà trời sắp tối rồi, tôi chỉ muốn về nhà thôi. Tôi đã không chợp mắt hơn 30 tiếng đồng hồ rồi. Tôi quay đầu đi về phía khu chung cư Kirov và cố nhớ xem tôi đã dấu bao nhiêu bánh mì dưới mấy miếng gạch trong nhà bếp. May ra con bé Vera có gì cho tôi. Cô bé đã nợ tôi khi cô ta chạy mất biệt không hề quay đầu lại, mặc dù tôi vừa cứu cô ta. Có thể cô nàng và tụi nhóc đó nghĩ là tôi đã chết rồi. Tôi tự hỏi không biết cô ta đã phản ứng ra sao, có khóc không? có úp mặt vào ngực thằng Grisha khi hắn an ủi cô, hay đẩy hắn ra xa, giận dữ, vì chính hắn đã bỏ cô ta, chạy mất tiêu, trong khi tôi ở lại và cứu cô ta khỏi bị tử hình. Và chắc là Grisha đã nói, “Tôi biết, tôi biết, tôi là đồ hèn nhát, tha lỗi cho tôi,” và dĩ nhiên cô nàng tha lỗi cho hắn vì nàng luôn luôn làm như vậy, rồi Grisha lau nước mắt cho ả, và nói chúng nó không bao giờ quên tôi và sự hy sinh của tôi. Nhưng mà chúng sẽ quên thôi, trong vòng một năm là cùng, chẳng đứa nào hình dung ra mặt mũi tôi ra sao.
“Ê thằng nhỏ kia, mày là đứa đi tìm trứng phải không?”
Đang bị ám ảnh với những ý nghĩ bi phẫn hoang tưởng, mất một hồi, tôi mới biết là có người đang hỏi tôi. Tôi quay lại, thấy một anh chàng khổng lồ, râu ria xồm xoàm, nhìn tôi chăm chăm, hai tay khoanh trước ngực, gập tới, gập lui trên gót đế giày. Hắn là người khổng lồ to lớn nhất tôi chưa từng thấy, cao hơn và ngực nở nang hơn Kolya nhiều. Chỉ hai cái tay không của hắn cũng đủ đập bể cái sọ tôi như đập bể trái hồ đào. Râu ria hắn dầy, đen và bóng như được bôi mỡ. Tôi tự hỏi không biết bao nhiêu đồ ăn mới đủ cho hắn mỗi ngày, làm sao hắn còn giữ được đầy đủ bắp thịt trên người.
“Ông có trứng gà?” Tôi hỏi ông ta, mắt nhấp nháy nhìn lên.
“Mày có gì đổi lại?”
“Tiền. Chúng tôi có tiền, chờ một tí, để tôi kiếm thằng bạn đã.”
Tôi chạy lại về Haymarket. Lần đầu tiên từ khi gặp Kolya, tôi thật vui mừng nhìn thấy cái đầu tóc vàng của nó. Hắn vẫn còn tán dóc với thằng nhóc tóc soăn, có thể đang tả lại giấc mơ vẻ vang về vụ đi cầu.
“Ô kìa, thằng nhóc đây rồi! “hắn la lên mừng rỡ khi thấy tôi. “Tao tưởng mày đã bỏ tao đi rồi.”
“Có một tên nói rằng hắn có trứng gà.”
“Tuyệt vời!” Kolya quay lại nói với thằng bé. “Nhóc con, rất hân hạnh nói chuyện với mày.”
Chúng tôi đi trở lại chỗ hồi nãy, ngang qua những sập hàng, bây giờ đã khóa chặt vì trời sắp tối. Kolya trao cho tôi một viên kẹo thư viện còn bọc trong giấy.
“Này bạn hiền, tối nay chúng ta ăn tiệc lớn.”
“Thằng nhóc đó cho mày?”
“Cho tao? Nó bán cho tao thì có.”
“Bao nhiêu?”
“Hai cái 1 trăm.”
“1 trăm?” Tôi nhìn hắn đang bóc giấy kẹo và cắn một miếng, nhăn mặt thưởng thức mùi vị. “Rồi, mình còn lại 300 phải không?”
“Đúng vậy, tính toán như thần, đáng khâm phục.”
“Tiền đó để mua trứng.”
“Nào, nếu không có gì trong bụng thì làm sao mình có thể đi tìm trứng được.”
Gã râu rậm đứng chờ chúng tôi bên cạnh Haymarket, vẫn khoanh tay trên ngực. Ông ta đánh giá Kolya khi chúng tôi lại gần, như những tay võ sĩ quyền anh lượng sức đối thủ khi lên đài.
“Chỉ hai đứa mày thôi à?”
“Chứ ông cần bao nhiêu người?” Kolya trả lời, cười với gã khổng lồ. “Tôi nghe nói ông bán trứng gà?”
“Tao bán mọi thứ. Mày trả tao bằng cái gì?”
“Chúng tôi có tiền,” tôi nói, tin chắc là chúng tôi đã bàn bạc về vấn đề này rồi.
“Bao nhiêu?”
“Đủ thì thôi,” Kolya nói. “Chúng tôi cần một tá.”
Gã râu rậm huýt gió. “Tụi bay thật may mắn, tao chỉ còn đúng 1 tá.”
“Mày thấy không?” Kolya vừa nói vừa bóp vai tôi. “Có khó khăn gì đâu.”
Gã khổng lồ băng qua đường, “đi theo tao.”
“Đi đâu vậy?” Tôi hỏi trong khi vẫn bước theo.
“Tao cất mọi thứ trong nhà. Ngoài này không an toàn. Cứ vài ba ngày đám lính tráng lại tới, chúng lấy mọi thứ, ai nói lôi thôi chúng bắn tuốt. “
“Phải rồi, lính tráng họ ở ngoài kia đánh quân thù để bảo vệ thành phố,” Kolya nói. “Họ không thể chiến
đấu nếu chẳng có gì trong bụng.”
Gã khổng lồ liếc chiếc áo khoác lính của Kolya và đôi giày trận.
“Còn cậu tại sao không bảo vệ thành phố?”
“Tôi có nhiệm vụ đặc biệt cho Đại Tá, ông không cần phải quan tâm.”
“Ông Đại Tá này ra lệnh cho cậu và thằng bé kia nhiệm vụ tìm trứng gà, thế thôi sao?” Gã khổng lồ cười rộn rã chế diễu chúng tôi. Chiếc răng của hắn sáng lóng lánh như hột xí ngầu chưa khắc số nổi lên giữa đám râu ria đen xì. Hắn chẳng tin Kolya, dĩ nhiên, ai mà tin được?
Chúng tôi đi bộ dọc theo con kinh Fontanka đã đóng băng, mặt nước đá bừa bãi những xác chết vô thừa nhận, có nhũng xác được tẩm liệm và cột đá cho chìm xuống, những xác khác đã bị lột hết quần áo ấm, mặt trắng dã ngó lên bầu trời nhá nhem tối. Gió nổi lên, lại bắt đầu một đêm nữa và tôi nhìn xác người đàn bà gió thổi mái tóc vàng óng bay vắt ngang qua mặt. Nàng chắc đã hãnh diện về mái tóc của mình, chăm sóc gội một tuần hai lần, chải cẩn thận 20 phút trước khi đi ngủ. Bây giờ mái tóc đang cố gắng che chở cho nàng, dấu bộ mặt đang tàn rữa của nàng khỏi những cái nhìn xa lạ.
Gã khổng lồ dẫn chúng tôi tới một tòa nhà gạch 5 tầng, tất cả cửa sổ được che kín bằng ván ép. Tấm bích chương vĩ đại cao hai tầng lầu vẽ bà mẹ trẻ đang ẵm đứa con đã chết, đi ra từ một tòa nhà đang bốc cháy. Hàng chữ viết: “HÃY GIẾT HẾT NHŨNG KẺ SÁT NHÂN”. Lấy chìa khóa từ trong túi áo khoác, gã khổng lồ mở cửa và chờ chúng tôi vào nhà. Tôi kéo tay áo Kolya trước khi hắn kịp bước qua ngưỡng cửa.
“Sao ông không mang trứng xuống đây?” tôi hỏi gã khổng lồ.
“Tao biết cách buôn bán nên mới còn sống. Và tao không buôn bán trên đường phố.”
Tôi cảm thấy sợ đến thót dái lên, nhưng sinh ra và lớn lên trong thành phố Piter, tôi không phải là thằng ngốc, tôi cố gắng giữ giọng nói bình thản.
”Tôi không buôn bán với người lạ trong chung cư của hắn.”
“Bình tĩnh, bình tĩnh nào.” Kolya cười toe toét. “Không cần phải nghi ngờ nhau. Một tá trứng gà thôi mà, cho giá đi.”
“Một ngàn.”
“Một ngàn Rubles? Cho một tá trứng gà?” tôi cười. “Chắc là trứng Fabergé (38).”
Gã khổng lồ vẫn còn giữ cửa mở, nhìn xuống tôi vẻ bực bội. Tôi im ngay.
“Người ta bán một ly đất ở đàng kia 100 rubles,” hắn nói với tôi. “Cái nào tốt hơn, một ly đất hay một quả trứng gà?”
“Nghe đây,” Kolya nói, “ông có thể đứng đây trả giá với chú nhỏ Do Thái của tôi, hay chúng ta nói chuyện đàng hoàng. Chúng tôi chỉ có 300 Rubles thôi, bán không?”
Gã khổng lồ vẫn nhìn tôi trừng trừng. Hắn chẳng thích tôi từ đầu, bây giờ hắn lại biết tôi là người Do Thái, tôi có thể thấy hắn muốn lột da mặt của tôi ra. Hắn đưa đôi tay hộ pháp ra trước mặt Kolya ra dấu đòi tiền.
“A, không được, cái này tôi phải đồng ý với bạn tôi,” Kolya nói vừa lắc đầu. “Trước hết, đưa trứng ra rồi sẽ có tiền.”
“Tao không mang ra đây được. Mọi người đều đói và mọi người đều có súng.”
“Ông to khủng khiếp như vầy mà nhát thế.” Kolya chế diễu hắn.
Gã khổng lồ nhìn Kolya với chút tò mò, như thể ông ta không tin mình vừa nghe lời chế diễu từ miệng hắn. Cuối cùng ông ta cũng cười nhe hàm răng trắng nhởn như những hột xí ngầu.
“Có một người đàn ông chết úp mặt dưới kia”, ông ta nói vừa hất cằm về phía con kinh Fontanka. “Không phải vì đói, không phải vì lạnh. Sọ của hắn bị đập bằng một cục gạch. Tui bay muốn hỏi tại sao tao biết phải không?”
“Tôi hiểu ý ông,” Kolya nói, có vẻ rất đồng ý. Gã khổng lồ nhập vào bóng tối trong đại sảnh của tòa nhà. “Để chiếm được đồ quý giá, dùng viên gạch là nhanh nhất.”
Kolya đập nhẹ trên lưng tôi và bước vào bên trong.
Với kinh nghiệm bản thân, có cái gì giục tôi hãy chạy nhanh đi. Tên khổng lồ này đang dẫn chúng tôi vào cái bẫy. Nó chả vừa tự thú rằng nó là kẻ sát nhân đó sao. Còn Kolya lại dại dột cho nó biết hắn có bao nhiêu tiền trên người. Chẳng là bao nhiêu, nhưng vẫn là 300 Rubles và 2 thẻ khẩu phần – mà tên không lồ tin rằng chúng tôi còn giữ - vào những ngày đó thì cũng đủ để bị giết rồi.
Nghĩ cho cùng, chúng tôi có còn lựa chọn nào khác đâu? Đi về Narva Gate để tìm lão già trong truyền thuyết với cái lồng gà của lão? Chúng tôi đã mạo hiểm bước vào tòa nhà, nhưng nếu không kiếm ra trứng cho sớm, chúng tôi cũng chết thôi.
Tôi bước theo Kolya. Cửa chánh đóng lại sau lưng. Bên trong tối thui, không đèn đóm gì cả chỉ còn chút ánh sáng yếu ớt còn sót lại của một ngày sắp tàn, lọt qua mấy kẽ hở của tấm ván ép che cửa sổ. Tôi nghe tên khổng lồ bước phía sau tôi, và tôi quỳ gối xuống sẵn sàng rút con dao găm ra. Nó bước qua tôi và leo nhanh lên cầu thang, nhảy từng hai bậc. Kolya và tôi nhìn nhau. Khi tên râu rậm vuột khỏi tầm mắt, tôi rút con dao Đức ra ngay và dấu vào túi áo khoác. Kolya nhướng mày, có thể là khâm phục hành động của tôi, cũng có thể chế diễu tôi. Chúng tôi bước lên thang lầu, từ từ từng bậc một, nhưng vẫn thở hổn hển khi lên tới lầu hai.
“Ông lấy trứng ở đâu?” Kolya hỏi tên khổng lồ, hắn đã ở trên chúng tôi một tầng thang chẳng khó khăn gì. Hắn và con gái Đại Tá là 2 người khỏe mạnh nhất trong thành phố mà tôi thấy trong mấy tháng nay. Tôi tự hỏi không biết hắn lấy khí lực ở đâu ra.
“Tôi biết một nông dân làm trong nông trại gần Mga.”
“Tôi tưởng tụi Đức đã chiếm Mga rồi.”
“Đúng. Tụi Đức cũng thích trứng gà của người nông dân. Chúng nó đến nông trại mỗi ngày và lấy hết trứng, nhưng bạn tôi vẫn dấu được một ít. Không dấu được nhiều sợ chúng biết.
Gã khổng lồ ngừng ở lầu 4 và gõ trên cửa.
“Ai đó?”
“Tôi đây,” hắn trả lời. “Với lại hai khách hàng.”
Tôi nghe tiếng then cửa kéo ra và cửa mở. Một mụ đàn bà đội chiếc mũ lông của đàn ông và mang chiếc tạp dề hàng thịt dính đầy máu nháy mắt với tôi và Kolya, trong khi chùi mũi bà ta bằng lưng bàn tay có mang bao.
Kolya hỏi “Tôi không biết làm sao ông có thể giữ cho trứng khỏi đông đá, bởi vì tôi sợ rằng chúng tôi không dùng trứng đông đá được.”
Mụ đàn bà nhìn Kolya như thể nó vừa nói tiếng Nhựt Bổn.
“Chúng tôi giữ trứng gần ấm nấu nước,” tên khổng lồ trả lời. “Thôi nhanh lên, cho xong chuyện đi.”
Gã ra dấu cho chúng tôi vào nhà. Mụ đàn bà im lặng bước qua một bên nhường lối đi, Kolya bước ngay vào, không lưỡng lự gì cả, nhìn quanh mỉm cười, như thể hắn vừa được mời vào nhà của người bạn gái mới quen. Tôi chần chừ ngoài cửa cho đến khi gã khổng lồ đặt tay lên vai tôi. Thực sự hắn không đẩy, nhưng với bàn tay hộ pháp của hắn, nào có khác gì. Với ngọn đèn dầu trong căn phòng chung cư nhỏ xíu, bóng người in ngoằn nghoèo trên tường, ngang qua tấm thảm xần xùi trên nền nhà, cái ấm đun nước bằng đồng ở góc nhà, và một khăn trải giường màu trắng treo phía xa cuối phòng - tôi đoán có lẽ ngăn làm phòng ngủ. Khi gã khổng lồ đóng cửa lại, tấm khăn trắng rung lên như phần dưới của chiếc váy đàn bà tốc lên trong gió. Trong một thoáng trước khi tấm khăn trắng đứng yên, tôi nhìn thấy những gì phía trong đó – không phải giường ngủ, không có bàn ghế gì hết, chỉ là những mảng thịt trắng hếu, treo trên nhũng cái móc, máng lên cái ống sưởi bằng những sợi dây sắt, mấy tấm nylon trải trên sàn nhà để hứng máu rơi. Trong một tích tắc, tôi nghĩ đó là thịt heo, có thể cái đầu tôi cố thuyết phục hai con mắt tôi rằng cái nó đang nhìn thấy không phải là sự thật: Cái đùi đã lột da chỉ có thể là cái đùi người đàn bà, cái sườn của đứa bé, một cánh tay bị cắt mất ngón đeo nhẫn.
Con dao găm đã nằm trong tay tôi trước khi nghĩ rằng mình cần tới – có cái gì chuyển động phía sau tôi và tôi phóng tới, rạch một đường, cố hét lên nhưng không thành lời gì, cổ họng tắc nghẽn. Tên khổng lồ kéo ra một đoạn ống sắt dài khoảng hai gang tay từ trong áo khoác; hắn nhảy ra xa khỏi tầm tay của tôi, nhanh hơn bất kỳ một người to lớn như hắn có thể làm được, tránh né mũi dao găm một cách dễ dàng.
Mụ vợ lôi ra từ trong túi tạp dề một con dao chặt thịt to bản. Mụ rất nhanh nhẹn, nhưng Kolya lại là kẻ nhanh nhất, hắn xoay người bằng chân sau và đấm một cú tay phải vào hàm, khiến mụ đổ nhào trên sàn nhà.
“Chạy nhanh lên” Kolya la to.
Tôi phóng vội ra, tưởng rằng cửa đã khóa, nhưng không, tôi cũng nghĩ rằng cái ống sắt sẽ bổ nát đầu tôi, nhưng cũng không; và tôi đã ra ngoài hành lang, chạy vọt xuống cầu thang, phóng xuống gần như hết cả những bực thang rồi đáp xuống bên dưới. Tôi nghe một tiếng la rất lớn giận dữ không thành lời của tên khổng lồ và tiếng thình thịch của đôi giày đinh dưới chân hắn, nện trên sàn nhà khi hắn chạy ngang căn phòng. Tôi ngừng lại, tay vẫn nắm thành cầu thang, không kịp thở, không muốn chạy xa hơn nữa, không thể nào trèo trở lại căn chung cư của đứa ăn thịt người. Tôi nghe một tiếng vang khủng khiếp của một cây sắt đập trên sọ người hay sàn nhà.
Tôi đã phản bội Kolya, bỏ rơi hắn khi hắn không có vũ khí trong tay, trong khi tôi có con dao thật tốt. Tôi cố gắng bắt đôi chân tôi di chuyển, mang tôi trở lại bãi chiến trường, nhưng tôi run đến nỗi không thể kềm chế cánh tay cầm dao của tôi. Lại thêm nhiều tiếng hét nữa, thêm tiếng chạm của ống sắt trên cái gì không biết? Những mảnh vụn rớt từ trần nhà trên đầu tôi. Tôi đứng hèn nhát trên cầu thang, cố tin rằng Kolya đã chạy mất rồi, tin rằng tôi không thể nào chạy nhanh để thoát khỏi bàn tay tên khổng lồ - Vợ hắn sẽ xẻo tôi ra bằng vài nhát dao chuyên nghiệp với con dao nặng nề của mụ, chẳng bao lâu những phần thân thể tôi sẽ bị treo lên sợi dây xích sắt khi những giọt máu cuối cùng nhỏ trên miếng plastic.
Tiếng la hét vẫn tiếp diễn, bức tường rung lên, Kolya chưa chết. Tôi cầm con dao bằng hai tay, và bước lên cầu thang một bước. Tôi có thể lẻn vào căn chung cư trong khi tên ăn thịt người không để ý, đâm con dao vào lưng hắn – nhưng lưỡi dao hình như quá mỏng manh, quá nhỏ để giết tên khổng lồ. Có thể làm hắn xây xát chút đỉnh, chảy một chút máu, và có thể hắn sẽ quay lại tóm lấy mặt tôi, móc mắt tôi ra khỏi sọ.
Tôi bước thêm một bước nữa, và Kolya văng ra khỏi căn chung cư, đôi giày của hắn trợt trên nền nhà, thiếu chút nữa hắn đã vượt qua cầu thang. Hắn quay trở lại, phóng xuống cầu thang, nắm cổ áo tôi và kéo tôi theo.
“Chạy nhanh, thằng khờ! Chạy lẹ.”
Chúng tôi chạy, và mỗi khi tôi khựng lại hay gần vấp té một chỗ trơn trợt, bàn tay của Kolya luôn sẵn sàng đỡ tôi lấy lại thăng bằng. Tôi nghe tiếng la hét trên đầu, nghe thân hình nặng nề khủng khiếp nện từng bước phía sau chúng tôi, nhưng tôi không hề nhìn lại, và chưa bao giờ chạy nhanh như thế. Giữa lúc kinh hoàng đó, những tiếng la hét, những bước chân nặng nề, những tiếng chát chúa của đế giày chúng tôi trên sàn gỗ, còn có cái gì khác, rất quái lạ. Kolya đang cười vang.
Chúng tôi thoát theo cửa chính ra ngoài đường đêm tối đen, những tia sáng vô định của đèn pha phòng không đã đan chéo vào nhau trên bầu trời. Lề đường vắng tanh; không thấy ai quanh đó có thể giúp chúng tôi được. Hai đứa tôi chạy ra giữa đường, vượt nhanh qua 3 dãy phố thỉnh thoảng quay lại nhìn xem tên khổng lồ có đuổi theo sau không, chẳng thấy hắn đâu, nhưng cũng không dám chậm lại chút nào. Cuối cùng, thấy một chiếc xe quân đội chạy tới, chúng tôi chặn lại và đưa hai tay lên cao khiến người tài xế phải đạp thắng gấp, bánh xe trợt trên mặt đường đóng băng. “Tránh ra, mấy thằng chết tiệt!” Người tài xế la to.
“Đồng chí Sĩ Quan,” Kolya nói một cách bình tĩnh, tay dơ cao, vô cùng quả quyết, “Có tụi ăn thịt người trong tòa nhà đàng kia. Chúng tôi mới chạy thoát từ đó ra.”
“Tòa nhà nào cũng có tụi ăn thịt người cả” người tài xế nói. “Chào mừng quý vị tới Leningrad. Bây giờ tránh ra!”
Một giọng nói khác từ trong xe, “Chờ một chút.” Một Sĩ Quan bước ra. Ông ta giống như một giáo sư toán học hơn là một quân nhân, với bộ ria mép muối tiêu tỉa gọn gàng, cái cổ mong manh. Ông ta quan sát quân phục của Kolya rồi nhìn thẳng vào mắt hắn.
“Tại sao cậu không ở tại trung đoàn của cậu?” Ông ta hỏi.
Kolya móc bức thư của Đại Tá và trao cho vị Sĩ Quan. Tôi thấy thái độ của ông ta thay đổi. Ông gật đầu và ra dấu cho chúng tôi lên xe.
“Chỉ đường.”
Năm phút sau tôi và Kolya bước vào căn chung cư của hai tên ăn thịt người, lần này có 4 lính bảo vệ, họ chĩa súng trường Tokarev vào các góc nhà. Mặc dầu đứng giữa đám lính trang bị súng ống, sự sợ hãi gần như nhận chìm tôi. Khi tôi nhìn bộ xương sườn treo lủng lẳng trên sợi dây xích, cái đùi và cánh tay đã bị lột da, tôi chỉ muốn nhắm mắt lại và không bao giờ mở ra nữa. Kiên cường như những người lính, thường quen mang những xác chết tan ra từng mảnh của đồng đội ngoài chiến trường, thế mà họ cũng phải quay mặt không dám nhìn sợi dây xích lắc lư.
Tên khổng lồ và vợ hắn đã trốn mất, Chúng bỏ lại tất cả, ngọn đèn dầu vẫn còn sáng, bình nấu trà vẫn còn nóng, nhưng chúng đã chạy mất trong đêm tối. Người sĩ quan lắc đầu, đảo mắt chung quanh căn phòng. Những lỗ hổng trên tường mở ra toang hoác do thanh sắt đánh phải, giống như những chiếc miệng đang ngáp. “Chúng ta ghi tên vợ chồng chúng nó vào danh sách, tịch thu thẻ khẩu phần, mọi thứ, nếu bắt được chúng, chẳng qua là chó ngáp phải ruồi thôi. Không có mấy cảnh sát thời buổi này nữa đâu.”
“Chúng sẽ ẩn nấp ở chỗ nào?” Kolya hỏi. “Hắn là thằng khốn kiếp to con nhất trong thành phố Piter.”
Một người lính nói “Vậy thì mày cầu mong là mày thấy nó, trước khi nó thấy mày” trong khi rờ ngón tay vào cạnh tả tơi của lỗ hổng lún trong tường.
Chương 6
“Mày quả thực đã cho con mẹ ấy đo ván,” Tôi nói với Kolya. Chúng tôi lê bước về phía bắc ngang qua tháp đồng hồ của trạm xe điện Vitebsk, nhà ga hoành tráng nhất trong những nhà ga xe điện của Leningrad, dù đã bốn tháng qua không còn chuyến xe nào nữa và những cửa kiếng vân hoa cũng đã bị che bằng ván ép.
“Một cú đích đáng, phải không? Tao chưa đánh đàn bà bao giờ, nhưng thật là đáng kiếp.”
Chúng tôi muốn nói chuyện, thoải mái và tự nhiên như hai thiếu niên bàn về một trận tranh tài quyền anh. Chỉ có mỗi cách đó thôi. Không thể để quá nhiều sự thực chen vào cuộc đấu láo, cũng không thể thú thực với cái miệng những gì mắt đã thấy. Chỉ cần hé mở cánh cửa chừng một phân thôi, thế nào cũng sẽ ngửi thấy mùi thối um bên ngoài và những tiếng kêu gào điếc tai. Không mở cửa. Chỉ chuyên tâm vào việc thường ngày, đó là kiếm thức ăn, nước uống, và củi đốt. Để dành những thứ khác cho đến khi cuộc chiến chấm dứt.
Dù còi hụ báo giờ giới nghiêm chưa vang lên, nhưng cũng chẳng còn mấy chốc. Chúng tôi quyết định ngủ qua đêm ở căn chung cư Kirov, tôi biết nơi đó có đủ củi vụn để gầy một ngọn lửa đàng hoàng, một ấm đầy nước sông để pha trà. Thật ra chạy có xa lắm đâu, thế mà mới vừa qua cơn hoảng loạn, bây giờ tôi cảm thấy mệt mỏi như một lão già. Bắp thịt chân nhức mỏi vì phải chạy chối chết. Bữa ăn sáng với Đại Tá đã đời thật nhưng nó cũng làm bao tử tôi dãn to ra, và rồi cơn đói lại kéo về. Bây giờ nó trộn lẫn với cảm giác buồn nôn, vì tôi không thể quên được hình ảnh bộ xương sườn của đứa trẻ. Khi tôi gặm cái kẹo thư viện đã đông cứng, tôi có cảm giác như nhai miếng da khô và cố gắng nuốt khỏi cổ.
Kolya đi khập khiễng bên tôi, chân hắn cũng đau đớn như tôi, nhưng dưới ánh trăng, trông hắn thư thái chẳng chút lo âu. Có thể tâm trí hắn bình an hơn vì hắn đã chiến đấu một cách can đảm, dốc toàn lực và quyết thắng, trong khi tôi đứng hèn nhát ở trên cầu thang tối đen, chờ được hắn cứu.
“Này, Tao cảm thấy tao … Tao muốn nói xin lỗi, tao đã chạy trốn và tao thấy có lỗi. Mày đã cứu tao.”
“Tao đã bảo mày chạy gấp đi mà.”
“Đúng, nhưng … đáng lẽ tao phải quay lại. Tao có con dao.”
“Mày có con dao à, ha…ha...” Hắn cười to. “Nó có thể giúp mày đấy. Nếu mày có thể tự thấy được lúc mày vung dao chém gã. Giống như David và Goliath, ha ha ha. Nó đã sẵn sàng ăn sống mày rồi.”
“Bỏ mày lại một mình, tao nghĩ chúng nó sẽ giết chết mày.”
“Ừ, chúng cũng nghĩ như vậy. Nhưng tao đã nói với mày tao có đôi tay thần tốc.” Hắn đấm vài cái trong không khí, miệng gầm gừ như một võ sỹ thứ thiệt: “Hứ…hự…”
“Tao không phải là kẻ hèn nhát. Tao biết lúc đó tao giống như một đứa hèn nhát, nhưng thực sự là không”.
“Nghe tao nói đây, Lev,” Hắn nói, trong khi quàng tay qua vai tôi, khiến tôi cũng phải bước nhanh theo hắn.
“Mày đâu có muốn lên căn chung cư đó, Tao là thằng nhà quê ngu ngốc cứ nhất định đi lên. Cho nên mày không nợ tao một lời xin lỗi nào cả. Tao cũng không nghĩ mày là kẻ chết nhát. Bất cứ ai còn một chút tinh khôn cũng phải chạy thôi.”
“Nhưng mày có chạy đâu”.
“Quod erat demonstrandum,” Hắn nói với một tràng tiếng La Tinh một cách khoái trí.
Tôi cảm thấy thoải mái hơn. Kolya đã bảo tôi hãy chạy trốn. Tên khổng lồ đó có thể chọc lủng sọ tôi dễ dàng như một đứa bé thọc ngón tay vào cái bánh dâu. Có thể tôi đã không hành động một cách anh hùng, nhưng tôi cũng đã không phản bội tổ quốc.
“Quả là một cú đấm tuyệt vời.”
“Tao nghĩ còn lâu lắm con mẹ ấy mới có thể nhai thịt con nít được nữa.”
Kolya phá lên cười tán thưởng câu nói hóm hỉnh của mình, nhưng chẳng được lâu. Lời nói đó dẫn chúng tôi trở về những miếng thịt tái ngắt, miếng plastic dính đầy máu. Chúng tôi sống trong thành phố mà những tên phù thủy chạy rông khắp nơi, mấy chị em mụ phù thủy Baba Yaga bắt cóc con nít và xẻ ra từng mảnh.
Tiếng còi báo động nổi lên như than van rên rỉ, sau đó các còi hụ khác cũng đồng thanh vang lên khắp thành phố.
“Rồi, tụi Đức đang đến đó,” Kolya nói, và chúng tối phóng nhanh, bắt thân thể mệt nhọc di chuyển lẹ hơn. Tiếng đại bác nổ ở phia nam, giống như tiếng trống đồng đánh từ xa khi tụi Đức bắt đầu pháo kích hằng đêm vào khu đại kỹ nghệ Kirov Works, một nửa số xe tăng, động cơ máy bay, và đại bác được chế tạo ở đó. Hầu hết các nam công nhân đã được đưa ra mặt trận vì thế phụ nữ phải thay thế để chạy máy tiện, máy ép. Khu kỹ nghệ chưa bao giờ ngừng nghỉ. Than vẫn cháy trong lò đốt, khói vẫn phun lên từ ống khói ngay cả khi bom xuyên qua nóc nhà, hay những khi phải mang xác các nữ công nhân ra khỏi chỗ làm, những bàn tay đã lạnh cứng vẫn còn nắm chặt dụng cụ.
Chúng tôi chạy vội qua khu Vitebsky Prospekt cũ kỹ nhưng sang trọng, với mặt tiền bằng đá trắng, những tượng đầu Dương Thần Xừng Dê gắn trên tiền đỉnh dinh thự như nhìn chúng tôi cười cợt. Những hình tượng đó đã khắc từ thời vua chúa xa xưa. Mỗi dinh thự đó đều có chỗ trú ẩn dưới tầng hầm để tránh bom; Người ta vội vã chạy xuống đó, hàng chục người vây quanh chiếc đèn dầu le lói chờ cuộc dội bom chấm dứt. Những trái đạn rơi gần đến nỗi có thể nghe được tiếng rít trong không khí. Tiếng hú của gió lọt quá cửa kính vỡ trong những căn chung cư bỏ hoang còn lớn hơn nữa, như thể Thượng Đế đã đồng lõa với bọn Đức để đánh xập thành phố của chúng tôi.
“Ngoài mặt trận, mày có thể đoán được dễ dàng trái đạn sẽ rơi xuống chỗ nào,” Kolya nói, tay thọc trong áo khoác ngoài, đang khi đi ngược chiều gió, mà mới vừa đây thôi gió còn ở phía sau chúng tôi. “Mày nghe tiếng rít của đạn, cũng biết được trái này rơi cách 100 mét về bên trái, trái kia rớt xuống sông.”
“Còn tao, chỉ vừa nghe tiếng động cơ, tao có thể phân biệt được chiếc máy bay Junkers hay Heinkel.”
“Hy vọng là vậy. Tiếng máy bay Junkers nghe như sư tử rống còn máy bay Heinkel như tiếng muỗi vo ve.”
“Nào, thử phân biệt máy bay Heinkel với Dornier xem. Tao đã chỉ huy đội chữa lửa trên …”
Kolya dơ tay lên ra dấu cho tôi im lặng. Hắn dừng lại bên cạnh tôi.
“Mày nghe gì không?”
Tôi lắng nghe, nhưng chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng gió đông rít lên từ khắp nơi, gió gom sức mạnh từ vịnh Phần Lan, và lùa vào mọi con đường trong thành phố. Tôi tưởng Kolya nghe tiếng đạn bắn về phía chúng tôi nên dõi mắt lên trời, như thể tôi nhìn thấy được thần chết đang bay đến và tránh được nó vậy. Cuối cùng gió cũng lắng dịu, tạm được một chút yên lặng như đứa trẻ sau cơn giận dữ. Những tiếng nổ về phía nam, cách xa vài cây số, cũng đủ làm mặt đường rung chuyển. Nhưng Kolya không để ý đến tiếng gió hú, hay tiếng đạn nổ mà nghe tiếng đàn Dương Cầm vang ra từ trong tòa nhà cổ. Tôi không thấy một ánh sáng nào xuyên qua cửa sổ, không đèn cầy, không đèn dầu. Những dân cư khác đã trốn dưới hầm trú ẩn (trừ những người quá yếu vì tuổi già hay vì đói), chỉ còn một thiên tài lạc loài nào đã chơi đàn trong bóng tối, chính xác và điêu luyện, phô trương những âm cuồng mạnh rồi tiếp theo với những âm nhẹ nhàng, như thể đang tranh luận với chính mình cùng với tiếng giận dữ của ông chồng và tiếng nhỏ nhẹ của bà vợ hiền xảy ra cùng một lúc. Âm nhạc là một phần rất quan trong đời sống tuổi thơ của tôi, tôi hay nghe nhạc trên radio hay trong những buổi hòa tấu của nhạc viện. Cha mẹ tôi là những người say mê cuồng nhiệt. Gia đình tôi chẳng có thiên tài âm nhạc nhưng rất hãnh diện về khiếu thưởng thức âm nhạc sành sỏi của mình. Tôi chỉ cần nghe vài âm giai là có thể nhận ra được bất cứ bản nhạc nào trong 27 nhạc-khúc của Chopin. Tôi biết hết nhạc của Mahler, từ tấu khúc Lieder eines fahrenden
Gesellen tới tấu khúc chưa hoàn tất thứ 10. Nhưng mà tấu khúc tôi nghe tối hôm đó, tôi chưa từng nghe bao giờ và cũng chẳng bao giờ được nghe lại lần nữa. Dù bị cản bởi kính cửa sổ, khoảng không gian và những cơn gió vô cùng tận, nhưng những nốt nhạc vẫn đủ sức vượt qua tất cả. Đó là giai điệu của chiến chinh. Chúng tôi đứng bên lề đường dưới ngọn đèn không ánh sáng, giăng đầy sương đêm, tiếng đại bác rền ở phía Nam, nguyệt mờ vì màn mây mỏng, lắng nghe tiếng đàn cho đến nốt cuối cùng. Khi bản đàn chấm dứt, tôi chợt thấy có điều gì không ổn: buổi trình tấu quá xuất sắc mà không được thừa nhận, người nhạc sĩ quá tài ba mà không được hoan hô. Chúng tôi im lặng một lúc lâu, nhìn về phía cửa sổ đen ngòm. Cuối cùng, nghĩ rằng sự tán thưởng đã đủ, chúng tôi tiếp tục lên đường.
“Thật may mắn, chưa ai bổ cây đàn của ông ta làm củi đốt,” Kolya nói.
“Người nào đó có lẽ là Shostakovich, ông ta chắc sống ở gần đây.”
Kolya trừng mắt nhìn tôi và nhổ toẹt nước miếng.
“Người ta đã di tản ông ta cách nay 3 tháng rồi.”
“Không phải đâu. Ông ta xuất hiện nhan nhản trên những bích chương dán tường, đội mũ lính cứu hỏa.”
“Đúng, một vị anh hùng, chỉ hiềm một nỗi là ông ta đang trốn ở Kuybishev, huýt gió mấy giai khúc thuổng của Mahler.”
“Shostakovich không ăn cắp nhạc của Mahler.”
“Tao tưởng mày phải bênh vực cho Mahler chứ,” Kolya nói, ném một cái nhìn xuống tôi với cặp môi cong cớn khôi hài, bây giờ thì tôi hiểu đó nghĩa là hắn sắp nói những lời chói tai, “Chẳng phải mày thích Do Thái hơn dân ngoại hả?”
“Họ đâu có ở hai phía khác nhau, Mahler đã sáng tác nhạc tuyệt vời, Shostakovich bây giờ cũng thế.”
“Tuyệt vời? Ha Ha. Ông ta chỉ sao chép thôi.”
“Mày dốt đặc, chẳng biết gì về âm nhạc cả.”
“Tháng chín tao nghe Shostakovich nói trên radio hô hào lòng yêu nước vĩ đại chống Phát Xít Đức, thế mà ba tuần sau ông ta đã trốn về Kuybishev ngồi ăn cháo lúa mạch.”
“Không phải lỗi của ông ta. Người ta không muốn ông ta phải chết ở đây nên bứng ông ta đi. Mày thử nghĩ xem, nếu ông ta chết, tinh thần chiến đấu sẽ ra sao?”
“Ồ, dĩ nhiên, nói về thảm kịch,” Kolya nói với giọng chua chát chế diễu. “Chúng ta không thể để những nhân vật có danh tiếng chết. Nếu tao có quyền, tao sẽ sử sự ngược lại. Đẩy những người nổi tiếng đó ra mặt trận. Shostakovich bị bắn vào đầu ư? Nghĩ xem, cả nước sẽ tức giận! cả thế giới sẽ tức giận! MỘT NHÀ SOẠN NHẠC ĐẠI TÀI BỊ GIẾT BỞI ĐỨC QUỐC XÃ. Mày nhớ không? Anna Akhmatova, bà ta cũng nói lăng nhăng trên radio động viên tinh thần phụ nữ của thành phố Leningrad hãy can đảm lên, hãy học cách bắn súng. Bây giờ bà ta ở đâu? Đang bắn tụi Đức chăng? Hừm … không đâu, tao không tin như vậy. Bà ấy đang làm việc trong khu Đại Kỹ Nghệ The Works, mài giũa vỏ đạn đại bác ư? Còn lâu, Bà ta đang ở Tashkent, bơm ra những lời thơ ca tụng mình, làm bà ta nổi tiếng.”
“Má tao và em tao cũng rời thành phố, nhưng điều đó không làm họ trở thành kẻ phản quốc.”
“Má và em mày không lên radio hô hào mọi người can đảm chống Đức. Này, tao không trông đợi mấy người nhạc sĩ, thi sĩ trở thành anh hùng. Tao chỉ không thích mấy người đạo đức giả thôi.”
Hắn quẹt mũi bằng lưng bàn tay mang bao da và liếc về phía nam, nơi những trái đại bác nổ soi sáng bầu trời.
“Tòa chung cư khốn kiếp của mày ở đâu vậy?”
Vừa bước qua góc đường Voinova, tôi đưa tay chỉ về phía chung cư Kirov, chẳng thấy gì cả, một lúc lâu, tôi vẫn chưa nghĩ là phải hạ tay xuống thấp. Nơi trước kia chung cư Kirov đứng sừng sững, bây giờ chỉ còn là đống gạch vụn, một ngọn đồi thật dốc với những mảng nền nhà bằng xi măng cốt sắt, sạn, xi măng và những thanh sắt cong queo, mảnh thủy tinh tung tóe khắp nơi lấp lánh dưới ánh trăng ngà.
Nếu đứng một mình chắc là tôi sẽ nhìn cảnh hoang tàn đó hằng giờ trong vô thức. Khu chung cư Kirov là cả cuộc đời của tôi. Vera và Oleg, Grisha. Lyuba Nikolaevna, người đàn bà độc thân ở lầu 4, chuyên coi chỉ tay và sửa quần áo cho tất cả phụ nữ ở trong khu. Một buổi tối mùa hè bà ta thấy tôi đọc truyện của H.G Wells trong cầu thang, hôm sau bà mang cho tôi một thùng sách với những tác phẩm của Robert Louis Stevenson, Rudyard Kipling, and Charles Dickens. Anton Danilovich, anh chàng coi sóc vệ sinh chung cư, sống ở tầng hầm, hay chửi mắng chúng tôi mỗi khi đám trẻ ném đá ra sân cỏ hay nhổ nước miếng từ trên sân thượng hoặc đắp những người tuyết thô tục bằng cách gắn những củ cà rốt làm bộ phận sinh dục đàn ông và đầu tẩy viết chì cho núm vú đàn bà. Zavodilov, anh chàng bị gán là du đãng, mất hai ngón tay của bàn tay trái và luôn huýt gió trêu chọc mấy cô gái, kể cả những cô gái tầm thường, có thể anh ta còn huýt gió to hơn với mấy cô đó để giúp họ lên tinh thần. Zavodilov, anh chàng thích vui chơi thâu đêm, nghe những bản nhạc jazz mới nhất, nhạc của Varlamov, Hot Seven hay Eddie Rozner; các thanh niên thiếu nữ để phanh áo nửa ngực cười đùa nhảy nhót ngoài hành lang làm người già khó chịu và làm tụi con nít cảm phục, đám con nít chúng tôi từng có ước vọng lớn lên sẽ giống như Zavodilov.
Đó là một tòa nhà cũ kỹ, luôn có mùi hôi của thuốc khử trùng, nhưng đó là nhà của tôi và tôi chưa bao giờ nghĩ nó sẽ xụp đổ. Tôi bươi trong đám tạp vụn đó, thỉnh thoảng cúi xuống hất mấy tảng xi măng qua một bên. Kolya kéo cánh tay tôi.
“Lev … đi với tao. Có một chỗ chúng mình có thể ngủ qua đêm.”
Tôi giựt tay ra và tiếp tục đào xới bằng tay. Hắn lại nắm tay tôi, lần này thì chặt hơn, để tôi không vuột ra được nữa.
“Không còn ai sống sót nữa đâu.”
“Làm sao mày biết được.”
“Nhìn kìa,” hắn chỉ tay về phía mấy cây cọc đỏ cắm rải rác khắp nơi. “Người ta đã đào xới ở đây rồi. Tòa nhà này có lẽ mới xụp đổ đêm hôm qua.”
“Tao còn ở đây đêm qua mà.”
“Mày ở trong nhà tù Crosses tối hôm qua chứ. Đi thôi, đi với tao.”
“Còn người sống sót. Đôi khi người ta có thể sống sót được mấy ngày, tao đã đọc ở đâu như vậy.”
Kolya quan sát đống đổ nát. Gió thổi lên một đám bụi mù.
“Nếu còn ai sống sót, mày cũng không thể lôi họ ra bằng hai bàn tay của mày. Nếu mày ở lại đây cả đêm cố làm như vậy chắc không còn sức cho ngày mai nữa đâu. Thôi đi. Tao có bạn bè gần đây. Chúng mình cần một chỗ qua đêm.”
Tôi lắc đầu. Làm sao tôi có thể bỏ nhà được?
“Lev … Mày đừng suy nghĩ gì cả, hãy đi theo tao, hiểu không? Nào theo tao.”
Hắn lôi tôi xuống từ đống đổ nát đó, tôi không còn sức để chống cự lại, quá mệt mỏi để buồn phiền, tức giận, hay phản kháng. Tôi muốn được ấm áp, ăn uống. Chúng tôi rời khỏi đống tạp vụn của khu chung cư Kirov, và tôi không còn nghe được tiếng bước chân của mình. Tôi đã trở thành một bóng ma. Không còn ai trong thành phố này biết đầy đủ tên họ của tôi. Tôi không cảm thấy thương sót vô hạn cho bản thân mình, chỉ là tò mò một cách vô thức rằng tôi vẫn còn sống, hơi thở của tôi vẫn còn thấy được dưới ánh trăng, thằng nhỏ dòng giống Cossacks này vẫn đi cạnh bên tôi, hắn thỉnh thoảng liếc nhìn tôi để bảo đảm rằng tôi vẫn tiếp tục đi, và canh chừng máy bay thả bom của Đức trên bầu trời.
Chương 7
“Vào đi,” tiếng người con gái vọng ra, “Cứ vào đi, cả hai sắp chết cóng rồi đó.”
Lúc thành phố chưa bị bao vây, cô bạn của Kolya chắc là đẹp lắm: mái tóc màu hung vàng xõa ngang lưng; môi nàng vẫn còn đầy đặn; và mỗi khi nàng cười, má bên trái lại điểm một lúm đồng tiền hình trăng lưỡi liềm. Nhưng điều bất thường là má bên phải lại không có một cái tương đương, cho nên tôi cứ chờ nàng cười để có thể nhìn thấy chiếc má lúm đơn độc đó.
Khi cửa vừa mở, Kolya hôn ngay lên hai má nàng, đôi má ửng hồng khiến nàng trông có vẻ khỏe mạnh được vài giây.
“Người ta nói anh đã chết rồi!”
“Còn lâu,” Kolya đáp lại. “Đây là bạn anh, Lev. Anh ta không cho anh biết thuộc dòng tộc nào và họ là gì, nhưng có thể anh ta sẽ nói với em đó. Anh có linh tính là em và anh ta hợp nhau đấy. Lev, đây là Sonya Ivanovna. Một trong những cô gái quen thời mới lớn của tao, bây giờ vẫn còn thân nhau.”
“Ha! Ha! Một cuộc chinh phục ngắn ngủi, phải không? Như Napoleon chinh phục Mạc Tư Khoa?
Kolya cười với tôi. Hắn vẫn choàng một tay giữ cô gái sát bên mình. Cô nàng mặc ba, bốn lớp áo ấm và choàng áo khoác ngoài của đàn ông, nhưng dù dưới mấy lớp áo dày cộm đó, tôi vẫn có thể thấy rằng nàng chẳng còn mấy da thịt.
“Đây chỉ là chuyện rủ rê cổ lỗ sĩ thôi, tao gặp nàng trong một lớp lịch sử nghệ thuật. Cắt nghĩa cho nàng những sự hư hỏng của các họa sĩ nổi tiếng, từ các bức vẽ thiếu niên của Michelangelo đến mấy bức vẽ bàn chân của Malevich – Mày có biết giai thoại này không? Malevich thường phác họa bàn chân của người tớ gái vào buổi sáng và dùng để thủ dâm ban đêm.”
“Xạo không à, chẳng ai biết chuyện đó bao giờ.” Nàng thanh minh với tôi.
“Cô ấy nghiên cứu mấy họa sĩ cường tráng này, chúng làm cô rạo rực, thêm vào đôi ngụm rượu vodka nữa, thế là xong. Tao đến bên cô, thấy vậy, và chinh phục được cô nàng.”
Nàng nghiêng người về phía tôi thêm một tí, sờ lên tay áo khoác ngoài của tôi và thì thầm:”Dù sao anh ta cũng đã đến đây rồi, tôi sẽ cho anh ta bao nhiêu đó thôi.”
Tôi không quen nghe đàn bà nói về chuyện trai gái. Mấy đứa bạn trai tôi quen thì nói không ngừng nghỉ, dù chẳng tên nào có đủ hiểu biết để nói về chuyện đó, còn bọn con gái thì chỉ nói cho nhau nghe thôi. Tôi tự hỏi không biết thằng Grisha đã làm gì con nhỏ Vera chưa nhỉ, rồi chợt nhớ ra cả hai đã chết mất rồi, còn nằm dưới đám mộ bia bằng nền xi măng bể đó. Sonya nhìn thấy khuôn mặt đau khổ của tôi lại tưởng tôi đang bối rối vì câu chuyện trơ trẽn của họ. Nàng cười với tôi rất dịu dàng, ánh lên chiếc má lúm đồng tiền.
“Đừng ngại, cưng ơi. Chúng tôi không phải là bọn ma cà bông đâu.”
Nàng hướng về phía Kolya và nói: “Cậu ta thật dịu hiền. Anh tìm thấy cậu ta ở đâu đó?”
“Hắn ở trong chung cư Kirov, gần đường Voinova.”
“The Kirov hả? Mới bị xập tối qua, thành thật chia buồn nghe, cậu bé đáng yêu.”
Nàng bọc lấy tôi trong vòng tay. Giống như tôi được người bù nhìn ôm vậy. Tôi không cảm thấy một thân hình đàn bà dưới lớp áo dày đó, mà chỉ là những lớp nỉ màu xám. Dầu sao cũng cảm thấy ấm áp vì có người phụ nữ đã quan tâm đến mình. Dù cho nàng chỉ làm theo phép lịch sự, tôi vẫn thấy xúc động.
“Vào đi,” nàng nói vừa cầm tay tôi, bao tay da chạm bao tay da. “Bây giờ, chỗ này là nhà của cậu. Nếu cậu cần nghỉ một đêm, một tuần, đây là chỗ ngủ của cậu. Ngày mai cậu có thể giúp tôi mang nước sông Neva lên đây.”
“Ngày mai chúng tôi có việc phải làm.” Kolya trả lời, nhưng nàng phớt lờ, dục chúng tôi vào phòng khách. Một đám 6 người đang ngồi thành nửa vòng tròn chung quanh lò đốt. Họ giống như một đám sinh viên đại học, thanh niên vẫn còn dáng dấp thể thao, để râu ria rậm rạp, thiếu nữ tóc ngắn và bông tai kiểu bụi đời. Họ đắp chung mấy cái chăn dầy, đang uống trà và nhìn chúng tôi, những kẻ mới đến, không một lời chào hỏi. Tôi thông cảm sự thiếu nhã nhặn đó. Người lạ, tối thiểu cũng gây khó chịu, tệ hại hơn, có thể gây đổ máu – Dù không có gì xảy ra đi nữa, họ vẫn muốn có đồ ăn.
Sonya giới thiệu chúng tôi, tên từng người theo vòng tròn, nhưng không ai nói một lời cho đến khi Kolya làm thân bằng cách mở mấy cái kẹo thư viện ra mời mọi người. Thật ra không thể nào có hứng thú nhai thứ kẹo đó nhưng ít ra vẫn còn cái gì để ăn, để cho máu tiếp tục lưu thông, và chẳng bao lâu cuộc chuyện trò lại tiếp tục.
Đám bạn của Sonya thực ra là Bác Sĩ Giải Phẫu và Y tá, không phải sinh viên Đại Học. Họ vừa xong ca trực 24 giờ, cưa chân tay, gắp đầu đạn từ xương bể nát, cố gắng chắp vá những thân thể không còn lành lặn, dù không có điện, thuốc mê, và tiếp máu. Ngay cả nước sôi để khử trùng dụng cụ mổ xẻ họ cũng không có đủ.
Sonya lên tiếng: “Cậu Lev này sống trong chung cư Kirov.” Nàng hất đầu về phía tôi với sự thông cảm. “Tòa nhà trên đường Voinova, bị trúng bom tối hồi hôm.”
Có vài người thì thầm xin lỗi, gật đầu nhẹ như chia buồn.
“Cậu có ở trong đó khi bom nổ không?”
Tôi lắc đầu, hướng về phía Kolya, hắn đang ghi vội điều gì đó trong cuốn sổ bằng đoạn viết chì, không hề để ý đến chúng tôi. Tôi hướng về đám Bác Sĩ và Y tá, họ đang đợi câu trả lời. Họ chỉ là những người xa lạ cần gì chia sẻ những sự thật đau lòng?
“Lúc ấy tôi đang ở với bạn bè.”
Timofei nói: “Một vài người sống sót.” Hắn là bác sĩ giải phẫu, dáng như một họa sĩ, mang cặp kiếng không niềng. “Tôi nghe ai đó nói như vậy trong nhà thương.”
“Thật hả? Bao nhiêu người?”
“Không biết, không lắng nghe kỹ. Xin lỗi, chỉ là … một trong những tòa nhà bị sụp đổ hằng đêm.”
Tin đồn có người sống sót khiến tôi lên tinh thần. Hầm tránh bom dưới thềm nhà rất kiên cố - nếu nhảy xuống kịp thời, may ra thoát được. Vera và 2 thằng sinh đôi luôn chạy xuống đó với gia đình khi còi báo động vang lên. Zavodilov anh chàng du đãng thì khác, tôi chưa bao giờ thấy hắn chạy xuống hầm. Hắn vẫn ngủ tỉnh bơ khi còi hụ hay trời sáng bảnh mắt, trán đắp khăn ướt lạnh và một cô gái trần như nhộng nằm bên cạnh. Có thể tôi tưởng tượng như vậy. Không, hắn không xuống hầm trú ẩn, dù sao hắn chẳng mấy khi ở nhà ban đêm, có lẽ đi làm những chuyện bí mật hay ăn nhậu ở nhà đám bạn bè trong nhóm tội phạm.
Sonya rót thêm hai chén trà nhạt đưa cho tôi và Kolya. Tôi cởi găng tay len ra, đó là lần đầu tiên từ khi ăn sáng ở văn phòng Đại Tá. Ly nước ấm làm tôi cảm tưởng đang có một cái gì sống động giữa hai bàn tay, một con vật nhỏ bé với nhịp tim đập và một linh hồn hẳn hoi. Tôi để hơi ấm phà vào mặt và trong giây lát không để ý Sonya đã hỏi tôi câu gì.
“Xin lỗi, cô hỏi gì cơ?”
“Tôi nói, gia đình của cậu có ở trong chung cư lúc đó không?”
“Không, họ đã đi khỏi hồi tháng 9 vừa qua.”
“Thế thì tốt. Gia đình tôi cũng vậy. Mấy thằng em tôi đã đi Mạc Tư Khoa cả.”
“Và bây giờ Bọn Đức cũng đang ở ngưỡng cửa Mạc Tư Khoa.” Pavel nói, anh chàng có khuôn mặt láu lỉnh, luôn nhìn về phía lò đốt, chẳng dòm tới ai. “Chúng sẽ chiếm Mạc Tư Khoa trong vài tuần.”
“Đế cho chúng chiếm.” Timofei nói. “Chúng ta chơi trò Rostopchin với bọn Đức, Hủy diệt tất cả trước khi rút lui. Xem chúng trú ẩn ở đâu? Lấy gì mà ăn? Mùa đông sẽ thanh toán chúng nó.
“Chơi trò Rostopchin … ư.” Sonya nhăn mặt như thể ngửi thấy mùi gì rất khó chịu. “Anh làm ông ta thành anh hùng đó.”
“Ông ta là một anh hùng. Cô chớ nên học sử ký từ tác giả Tolstoy.”
“Vâng, Vâng, Công tước Rostopchin, bạn của nhân dân.”
“Này đừng đem chính trị vào nghe, đây đang nói về chiến tranh, không phải đấu tranh giai cấp.”
“Không mang chính trị vào ư? Ai cần mang chính trị vào cơ? Anh nghĩ chính trị không xen vào chiến tranh sao?”
Kolya im lặng trong cuộc tranh luận, nhìn chén trà trong đôi tay rồi lên tiếng: “Bọn Đức sẽ không chiếm Mạc Tư Khoa.”
“Căn cứ vào thẩm quyền nào thế?” Pavel hỏi.
“Tôi chứ ai. Bọn Đức chỉ cách Mạc Tư Khoa 30 Cây số hồi đầu tháng 12, bây giờ thì đã xa ra 100 cây số rồi. Đoàn quân Wehrmacht chưa bao giờ rút lui. Chúng không biết cách rút lui. Cái mà chúng được huấn luyện và nghiên cứu trong sách vở là tấn công thôi. Tấn công, tấn công, tấn công. Bây giờ thì đi thụt lùivà chúng sẽ không ngừng đi lùi cho đến khi nằm ngửa lưng ở Bá Linh.”
Một lúc lâu, không ai nói một lời. Bọn đàn bà nhìn Kolya, mắt họ ngời sáng trên khuôn mặt ốm yếu. Họ đều có một chút thiện cảm với hắn.
“Xin lỗi, cho tôi hỏi câu này, đồng chí,” Pavel nói, giọng chế diễu, trong lối phát âm Đồng Chí. “Nếu bạn là nhân vật quan trọng trong quân đội, như bạn vừa nói, sao bạn lại ngồi ở đây với chúng tôi?”
“Tôi không tiết lộ sứ mạng bí mật của tôi được,” Kolya trả lời, rất bình tĩnh trước câu hỏi móc lò của anh chàng Bác Sĩ. Hắn nhắp một ngụm trà và ngậm trong miệng ngụm nước ấm một lúc. Chợt thấy Sonya vẫn đang hướng về hắn, bèn mỉm cười với nàng. Cả bọn im lặng. Không ai nhúc nhích, nhưng bầu không khí đã thay đổi với cặp diễn viên Sonya và Kolya lên sân khâu, dưới ánh đèn hội tụ, chúng tôi chỉ là đám khán giả thầm lặng đang tự hỏi không biết có nhìn được chút da thịt nào không? Trò mơn trớn đã bắt đầu rồi đấy, mặc dầu họ ngồi cách xa nhau, và thân thể bọc trong nhiều lớp len dầy cộm. Tôi ước mong một ngày nào đó, có cô gái cũng nhìn tôi đắm đuối như vậy, nhưng tôi biết chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra. Với đôi vai nhỏ hẹp, đôi mắt vừa canh chừng vừa sợ sệt như loài gặm nhấm, tôi không phải là đối tượng của hạng ham muốn xác thịt. Tệ nhất là cái lỗ mũi của tôi, cái lỗ mũi đáng ghét, cái lỗ mũi khoằm của hàng ngàn điều sỉ nhục. Thật là tệ hại, khi đã là người Nga gốc Do Thái, lại còn mang cái mũi của những hình biếm họa chống Do Thái nữa, nó ảnh hưởng sâu đậm đến sự tự ti. Phần lớn tôi rất tự hào về gốc Do Thái, nhưng không muốn mình trông giống Do Thái. Tôi muốn mình giống Aryan, tóc vàng, mắt xanh, vai rộng và cằm bạnh. Tôi muốn được giống như Kolya.
Kolya nháy mắt với Sonya và uống nốt tách trà. Hắn thở dài, nhìn đăm đăm vào xác trà ở đáy chén.
“Mày có biết đã 9 ngày rồi tao chưa đi cầu không?”
Tối hôm đó tất cả chúng tôi đều ngủ ngoài phòng khách, trừ Kolya và Sonya, họ ra dấu hiệu ngầm với nhau và biến mất vào phòng ngủ. Bọn tôi nằm sát nhau cho ấm và đắp chung mấy chiếc mền, cho nên dù lò đốt đã tắt ngúm lúc nào, tôi cũng không đến nỗi chết cóng. Trời lạnh không làm phiền tôi bằng tiếng rên rỉ nho nhỏ của Sonya. Tiếng rên rỉ đó không phải là bộc lộ khoái cảm, mà dường như Kolya đã làm tình để giải tỏa những đau khổ trong sáu tháng qua của nàng, giải tỏa sự đói và lạnh, nỗi sợ hãi bom đạn và bọn lính Đức. Sonya dễ thương và đáng yêu, nhưng sự sướng khoái của nàng nghe thật khó chịu – Tôi cũng muốn là người được giải tỏa cho người đẹp nào đó ra khỏi tình trạng chiến tranh bằng cái của chính mình. Nhưng thực tế, tôi đang nằm ngủ trên sàn nhà của một kẻ xa lạ, cạnh một tên đàn ông tôi không quen, hắn hay giật mình trong giấc ngủ và hôi mùi bắp cải luộc.
Tôi không tưởng tượng được cuộc làm tình lại kéo dài như thế - ai còn sức lực cho việc ấy? – nhưng hình như nó kéo dài cả nửa đêm, Sonya rên rỉ, Kolya thì thầm gì đó tôi không nghe được qua bức tường mong manh. Hắn có vẻ rất bình thản, như thể đang đọc cho nàng nghe một bài báo. Tôi tự hỏi không biết hắn nói cái khỉ gì với nàng. Bạn nói cái gì với người con gái khi đang làm tình? Thật lý thú để tìm hiểu điều đó. Có thể hắn đang đọc một đoạn văn của một tác giả mà hắn khâm phục một cách điên cuồng. Có thể hắn đang kể cuộc chiến đấu với vợ chồng tên khổng lồ ăn thịt người, nhưng chắc không phải vậy. Tôi nằm trằn trọc trong bóng tối, nghe hai người thì thầm, trong khi gió lộng qua khung cửa và tia lửa hồng cuối cùng bùng lên trong lò đốt. Âm thanh lẻ loi nhất trên trần thế là tiếng của hai kẻ đang làm tình với nhau.
Chương 8
Sáng hôm sau chúng tôi đứng trước một tòa nhà cách Narva Gate hai con đường, nhìn bức chân dung của Zhdanov cao ngất ngưởng. “Đúng nó rồi,” Kolya vừa lẩm bẩm vừa dậm chân tại chỗ để cho ấm, nhưng chẳng ăn thua gì, trời lạnh hơn hôm qua. Trên bầu trời xanh vô tận, lơ lửng một đám mây hình xương cá. Chúng tôi tiến đến trước nhà, dĩ nhiên cửa bị khóa chặt. Kolya đập ầm ầm trên đó, chẳng thấy ai trả lời. Chúng tôi đứng đó như những thằng ngốc, vỗ tay mang găng vào nhau, dấu cằm dưới mấy lớp gấp của khăn quàng cổ.
“Mình phải làm gì bây giờ?”
“Thế nào cũng có người ra vào chứ. Hôm nay mày làm sao vậy? Có vẻ hơi quạu cọ.”
“Tao chẳng làm sao cả.” Tôi trả lời hắn, nhưng chính tôi cũng nhận ra vẻ khó chịu trong giọng nói của mình. “Mất một giờ để đến đây, phải đợi thêm một tiếng nữa để vào trong nhà, cuối cùng chẳng có lão già nào với một lồng đầy gà cả.”
“Không, không phải vậy, có cái gì làm mày khó chịu. Có phải mày đang nghĩ về khu chung cư Kirov?”
“Dĩ nhiên là tao đang nhớ về khu chung cư Kirov rồi.” Tôi quạt lại, nổi sùng vì câu hỏi của hắn, bởi vì tôi chẳng hề nghĩ đến khu chung cư Kirov.
“Hồi mùa thu vừa rồi, chúng tao có một ông Thiếu Úy tên là Belak. Lính thứ thiệt 100%, cả đời là lính, ông ta từng đánh nhau với tụi Whites. Có một đêm ông ta thấy thằng lính nhóc con tên Levin đọc thư rồi khóc như cha chết mẹ chết. Đó là lúc chúng tao đang ở dưới giao thông hào bên ngoài Zelenogorsk, ngay trước khi tụi lính Phần Lan chiếm lại. Levin không nói nên lời chỉ la khóc thôi. Tụi Đức đã giết chết ai đó trong gia đình hắn, tao không nhớ rõ, có thể là mẹ hắn, cha hắn, hay cả gia đình không chừng. Belak lấy lá thư, gấp lại rất đàng hoàng nhét vào túi áo khoác thằng bé Levin và nói ‘Được rồi, cứ khóc cho đã đi. Nhưng sau đó, tao không muốn thấy mày khóc nữa cho đến khi Hitler bị treo cổ.”
Kolya với con mắt xa xăm, nghiền ngẫm về lời nói của ông Thiếu Úy. Chắc hắn nghĩ lời nói đó rất thâm thúy, còn tôi chỉ thấy đó là sự dàn dựng tuyên truyền, thứ lời nói mà cha tôi chúa ghét, loại đối thoại giả tạo mà mấy tên nhà báo của đảng viết trong những bài báo khích động kiểu như “Anh Hùng Ngoài Tiền Tuyến” mà tờ báo Truth for Young Pioneers thường đăng.
“Rồi tên lính trẻ đó nín khóc?”
“Ừ, hắn nín khóc ngay lập tức, chỉ sụt sịt chút đỉnh. Nhưng tối đó lại tiếp tục khóc. Nhưng ý tao không phải như vậy.”
“Thế thì là gì?”
“Không phải lúc để phiền não. Tụi Đức muốn chúng ta chết. Có khóc bao nhiêu đi nữa cũng chẳng giúp gì việc chống lại bọn chúng.”
“Ai khóc đâu, tao thì không.”
Kolya chẳng để ý gì đến lời tôi nói, hắn đang cố dùng móng tay nạy cái gì kẹt giữa hai răng cửa của hắn.
“Mấy ngày sau Belak đạp trúng mìn. Tan nát, mìn bẫy. Đó là cách người ta làm cho thân thể một con người…”
Giọng nói nó lạc đi, đang suy tưởng về cái thân xác tan tành của người cựu sĩ quan, và tôi cảm thấy hối hận vì đã xúc phạm ông Thiếu Úy trong tư tưởng. Có thể ông nói như con vẹt nhưng mục đích cố giúp người lính trẻ quên đi thảm kịch của gia đình, điều đó quan trọng hơn cả.
Kolya đập trên cửa lần nữa. Chờ một lúc, thở dài rồi ngắm đám mây cô đơn vắt ngang bầu trời.
“Tao muốn được sống ở Argentina một hay hai năm. Tao chưa bao giờ thấy biển, mày có bao giờ thấy chưa?”
“Chưa.”
“Mày quạu cọ quá đi, thằng Nhóc Do Thái. Sao vậy?”
“Hãy đi ngủ với con heo.”
“À, ra thế!” Hắn xô nhẹ tôi rồi nhảy ra xa, thủ tay như một võ sỹ quyền anh thứ thiệt, giống như sắp sửa đấu với tôi. Tôi ngồi xuống bực cửa. Chỉ làm một cử động nhỏ thế thôi cũng làm tôi hoa mắt. Sáng nay khi thức dậy, chúng tôi uống nhiều nước trà ở nhà Sonya, dù chẳng có tí gì dằn bụng, tôi vẫn cố để dành kẹo thư viện. Tôi nhìn lên Kolya, hắn đang ngắm tôi với vẻ e ngại.
“Mày thì thầm điều gì tối hôm qua?” Tôi hỏi hắn. “Khi mày ngủ với cô ta.”
Kolya nheo mắt, bối rối vì câu hỏi.
“Với ai? Với Sonya ấy à? Tao nói cái gì?”
“Mày nói với cô ta cả đêm”
“Khi chúng tao đang làm tình?”
Câu hỏi làm tôi ngượng ngùng. Tôi gật đầu. Hắn nhăn mặt.
“Tao không nhớ tao nói gì.”
“Mày nói suốt đêm.”
“Chuyện bình thường ấy mà, tao nghĩ vậy.” Một nụ cười hóm hỉnh bất ngờ nở trên khuôn mặt, hắn ngồi xuống bên tôi. “Dĩ nhiên rồi, nếu mày chưa từng viếng thăm một quốc gia nào đó, có thể mày chưa hiểu phong tục tập quán của họ. Mày muốn biết phải nói gì với người bản xứ.”
“Tao chỉ hỏi vậy thôi.”
“Ừ, nhưng mày hơi tò mò. Tại sao tò mò? Bởi vì mày hơi bối rối. Mày muốn xử sự đúng cách khi mày có cơ hội. Mày thông minh thiệt. Tao nói đàng hoàng đó, bỏ cái tính cau có đó đi. Mày chấp nhận lời khen ngợi khó khăn hơn những nguời tao đã quen biết. Này, hãy nghe đây, đàn bà không thích mấy người tình miệng câm như hến. Họ cho mình những gì quý giá nhất, và họ muốn biết mình ưa thích, biết ơn. Hãy gật đầu một cái để tao biết mày đang nghe.”
“Tao đang nghe mà.”
“Mỗi người đàn bà đều có người yêu lý tưởng và người tình ác mộng. Người tình ác mộng, hắn chỉ nằm trên người nàng, nghiền nát nàng với cái bụng của hắn, thụt ra thụt vào với cái đồ nghề của hắn, đến khi hắn xong việc. Hắn nhắm mắt thật chặt, chẳng nói một câu, căn bản là hắn chỉ xả tinh trùng vào người con gái tội nghiệp. Bây giờ nói đến người yêu lý tưởng – “
Chúng tôi nghe thấy tiếng xột xoạt của chiếc xe trợt tuyết trườn trên băng đóng cứng, quay lại thì thấy hai cô gái đang kéo chiếc xe đựng mấy thùng đá lấy từ sông lên. Họ tiến thẳng đến phía chúng tôi. Tôi đứng dậy, phủi tuyết trên áo choàng, cảm thấy nhẹ nhõm vì bài giảng thuyết của Kolya bị cắt ngang. Kolya đứng bên cạnh tôi.
“Mấy người đẹp! Các cô cần giúp mang nước đá lên không?”
Hai cô gái nhìn nhau dò ý. Họ khoảng cùng tuổi tôi, chị em ruột hay chị em họ gì đó, cùng khuôn mặt to, môi trên thô kệch. Họ là người của thành phố Piter, không tin cẩn khách lạ, thế mà chúng tôi lại định trèo lên bao nhiêu nấc thang lầu để lên phòng của họ với 4 thùng đá đó.
“Các anh muốn tìm ai?” một trong hai cô hỏi với vẻ nghiêm trang của một người quản thủ thư viện.
“Chúng tôi muốn nói chuyện với một vị nào đó về mấy con gà của ông ta.” Kolya, không hiểu vì lý do nào đó, trả lời một cách thành thực. Tôi trông đợi một tràng cười chế diễu của mấy cô gái, thế mà họ lại không.
“Ông ta sẽ bắn hai anh què giò nếu các anh leo lên đó.” Cô gái kia trả lời. “Ông ta không để ai lại gần mấy con gà đâu.”
Kolya và tôi liếc nhìn nhau. Hắn liếm môi rồi trở lại nhìn hai cô gái, nở một nụ cười quyến rũ nhất.
“Hãy để chúng tôi mang giúp các cô mấy thùng nước đá này, còn ông già đó, chúng tôi sẽ lo sau.”
Leo đến tầng thứ năm, mồ hôi thấm qua mấy lớp áo lạnh của tôi, cặp chân chim của tôi run lên, tôi bắt đầu hối hận vì quyết định của mình. Đáng lẽ phải chọn một cách khác dễ dàng hơn để vào tòa nhà. Chúng tôi nghỉ một lúc khá lâu mỗi lần đặt thùng nước đá xuống, thở hổn hển và duỗi bàn tay ra, lột găng tay xem thử cái quai của thùng nước hằn sâu thế nào vào bàn tay mình. Kolya khảo sát hai cô gái về thói quen đọc sách và khả năng đọc đoạn thơ mở đầu của Eugene Onegin. Theo tôi, hai cô chỉ là loài nhai lại, đọc thơ một cách vô hồn, không có tinh anh trong con mắt, cũng không có cảm xúc trong lời nói, nhưng Kolya thì không thấy nhàm chán. Hắn trò chuyện như thể hai nàng là những sinh vật dễ thương nhất trên đời, để làm cái đinh cho một buổi dạ hội, luôn nhìn cô này rồi lại cô kia, nói không ngừng. Đến tầng lầu 5, thì rõ ràng hai nàng đều “chịu” hắn rồi, và tôi cảm thấy rằng, hai cô đang tranh nhau xem ai hơn. Lòng ghen tị của tôi nổi lên, cái cảm giác bất công trộn lẫn với sự tức giận và tự ti mặc cảm – tại sao hai cô bé lại thích hắn? Một thằng đại khoác lác! Nhưng sao tôi lại ganh ghét với hắn vì sự chú ý của hai cô bé? Tôi không hề quan tâm về hai cô đó. Chẳng cô nào khiến tôi để ý. Tên đàn ông này mới cứu tôi hôm qua mà hôm nay tôi lại nguyền rủa hắn chỉ vì hai cô gái ngượng ngùng trước mặt hắn, mặt đỏ lên, cúi gằm nhìn sàn nhà và mân mê mấy cái nút áo của các cô.
Nhưng tôi thích Sonya. Nàng có má lúm đồng tiền nửa vầng trăng và ân cần đón tiếp tôi, cho tôi chỗ ngủ bất cứ khi nào cần, mặc dù một tuần nữa không có đồ ăn nàng sẽ chết – hình dáng chiếc sọ dừa của nàng dưới làn da gần như trong suốt thật dễ đoán. Có thể tôi thích nàng nhiều như vậy vì tôi đã gặp nàng 30 phút sau khi thấy những nấm mồ của khu chung cư Kirov. Có thể sự xuất hiện của nàng làm tôi không còn suy nghĩ nhiều về những người láng giềng của tôi đã bị chôn vùi dưới đống gạch đổ nát đó nữa.
Ngay cả khi những hình ảnh ấy có lướt qua đầu tôi, cũng không để lại một dấu vết gì, và tôi lại nghĩ đến cô con gái của Đại Tá, hay chính ông ta, hay tên khổng lồ với cái ống sắt đang rượt chúng tôi xuống những nấc thang lầu, và cả người đàn bà bán những ly đất Badayev ở chợ Haymarket. Nếu tôi có thoảng nghĩ về Kirov, thật ra tôi chỉ nghĩ về một tòa nhà với sân chơi thời tuổi nhỏ, với những hành lang dài khéo sắp xếp cho những cuộc chạy đua, những cầu thang, những kiếng cửa sổ đóng đầy bụi đến nỗi bạn có thể vẽ chân dung của mình trên đó, sân chơi mà tụi trẻ nhỏ thường tụ tập ở đó để chọi nhau bằng những nắm tuyết khi trận tuyết lớn đầu mùa đổ xuống. Chúng tôi chia làm hai phe chọi nhau, lầu 1 đến lầu 3 và lầu 4 đến lầu 6.
Bạn bè tôi và láng giềng – Vera, Oleg, Grisha, Lyuba Nikolaevna và Zavodilov – hình như không có thật nữa rồi, như thể cái chết đã xóa sạch cuộc đời của họ. Có thể tôi vẫn biết họ sẽ biến mất một ngày nào đó, cho nên tôi luôn giữ họ ở một khoảng cách, cười theo những chuyện tiếu lâm của họ, lắng nghe những toan tính của họ nhưng không bao giờ tin tưởng sự hiện hữu của họ. Tôi đã học được cách bảo vệ chính mình. Khi mật vụ đến bắt bố tôi, tôi vẫn còn là một đứa trẻ ngu ngốc, không hiểu tại sao một người đầy nghị lực, sáng giá như thế lại biến mất chỉ do một cái búng tay của một quan chức nào đó, như thể bố tôi chỉ là một làn khói thuốc nhẹ mà một tên lính gác nhàn rỗi nào đó trên tháp canh ở tận Siberia thở ra, một tên lính gác đang tự hỏi bạn gái của mình ở quê nhà có lang chạ với ai không, hắn đang nhìn bâng quơ khu rừng mùa đông, không biết rằng cơn lốc vĩ đại trên bầu trời sắp sửa nuốt chửng làn khói thuốc cong queo đó, cả anh lính và tất cả những gì trên mặt đất phía dưới.
Kolya nói lời từ giã với các cô gái, bỏ hai xô nước đá bên trong cánh cửa và ra dấu cho tôi làm theo.
“Cẩn thận trên đó nghe,” một cô nói, tôi đoán là cái cô nhanh nhẩu “Ông ta đã 80 tuổi nhưng bắn anh chỉ trong một giây thôi.”
“Tôi đã ở tiền tuyến chống quân Đức,” Kolya đáp trả, trấn an cô ta với nụ cười và cái nháy mắt. “Tôi nghĩ là tôi có thể đối phó được với ông già kỳ dị đó.”
“Khi trở xuống, các anh ghé lại ăn nhé, chúng tôi đang nấu súp,” cô gái kia lên tiếng. Cô gái nhanh nhẩu nguýt nàng một cái. Tôi tò mò tự hỏi không biết cô ta bực bội vì lời mời ăn hay vì cử chỉ lẳng lơ kia. Kolya và tôi leo lên cầu thang cuối cùng dẫn đến cánh cửa mở ra sân thượng.
“Tao bàn thế này nhá,” hắn nói với tôi. “Hãy để tao nói chuyện, tao biết cách đối phó với người già.”
Tôi đẩy cánh cửa mở ra, gió ập vào người chúng tôi hắt những mảnh vụn nước đá và cát vào mặt, bụi bặm của thành phố. Chúng tôi cúi đầu thấp và tiến tới, như hai tên Ả Rập du mục trong cơn bão cát. Trước mắt chúng tôi hiện ra một ảo ảnh, chỉ có thể là ảo ảnh mà thôi – cái chòi làm bằng những mảnh gỗ và lợp bằng giấy dầu, những khe hở được nhét kín bằng những miếng nỉ vụn và giấy báo cũ. Tôi chính tông là chú bé con lớn lên ở thành phố; chưa bao giờ đến một nông trại nào và chưa hề thấy con bò ra sao; nhưng tôi biết đó là cái chuồng gà. Kolya nhìn tôi, mắt chúng tôi ướt nhẹp vì gió, nhưng cả hai hét vang như hai thằng điên.
Một đầu chòi có chiếc cửa méo mó, không cài then. Kolya gõ nhẹ trên cánh cửa. Không có tiếng trả lời. “Có ai đó không? Đừng nổ súng nhá! Ha, ha! Chúng tôi chỉ tới thăm một chút thôi… Có ai không vậy? Thôi được, tôi sẽ mở cửa ra nhé. Nếu không đồng ý hay muốn nổ súng thì làm ơn lên tiếng đi.”
Kolya bước tránh qua một bên cửa, và ra dấu cho tôi cũng làm như vậy, hắn dùng mũi giày đẩy nhẹ mở cánh cửa. Chúng tôi chờ đợi một tiếng hét chửi rủa hay một tiếng súng chát chúa, nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Cảm thấy đã an toàn, chúng tôi hé mắt dòm vào. Bên trong tối thui, một ngọn đèn dầu leo lét treo trên tường. Sàn nhà phủ đầy những rơm rạ, bay mùi hôi cứt gà. Một bên tường đặt những lồng gà trống trơn, mỗi lồng lớn vừa đủ nhốt một con gà. Một thằng bé ngồi phía cuối chuồng gà, lưng dựa vào tường, đầu gối ôm vào ngực. Nó mặc một chiếc áo lông thỏ đàn bà, nhìn thật buồn cười nhưng chắc là ấm áp.
Một xác chết đàn ông ngồi dựa vào tường, trong đống rơm rạ, dưới những lồng gà, chân tay khô cứng chỉa ra ngoài giống như một hình múa rối. Ông ta có bộ râu trắng dài, bộ râu của một chính khách theo đuổi chủ thuyết vô chính phủ thời thế kỷ thứ 19, và làn da giống như sáp chảy ra từ một ngọn nến. Một khẩu súng shotgun lâu đời vẫn còn nằm ngang trên lòng ông ta. Theo hình dạng đó, chắc ông ta đã chết cách đây nhiều ngày.
Kolya và tôi trố mắt nhìn cảnh thê lương đó và chúng tôi cảm thấy hối hận như đã xâm phạm gia cư bất hợp pháp. Kolya thì không cảm thấy xấu hổ như tôi. Hắn bước vào trong cái chòi và quỳ bên cạnh cậu bé, hai tay nắm lấy đầu gối.
“Này cậu lính bé con, không sao chứ? Bé có cần nước uống không?”
Thằng bé chẳng thèm nhìn hắn. Cặp mắt xanh hình như to hẳn ra trên khuôn mặt ốm đói của nó. Tôi bẻ một miếng kẹo thư viện, bước vào chuồng gà và đưa cho nó. Mắt nó lờ đờ quay về phía tôi. Hình như nó đang nhận dạng tôi cùng với miếng kẹo trong tay tôi trước khi quay mặt đi chỗ khác. Mắt đã thất thần rồi.
“Đây có phải ông nội bé không?” Kolya hỏi chú bé.
“Chúng ta nên mang ông ra ngoài đường. Ngồi mãi một mình bên ông thì không tốt chút nào đâu.”
Thằng bé cố gắng lắm để mở miệng ra. Đôi môi của nó nứt nẻ như gắn chặt vào nhau.
“Ông tôi không muốn rời xa mấy con gà.”
Kolya liếc nhìn những lồng gà trống trơn.
“Bây giờ thì không cần nữa đâu. Đi thôi, có mấy cô bé dễ thương dưới kia sẽ cho bé ăn súp và nước uống.”
“Tôi không đói,” thằng bé nói, và tôi biết nó đã quyết rồi.
“Hãy đi với chúng tôi,” tôi dỗ thằng bé. “Ở đây lạnh lắm. Chúng tôi sẽ sưởi ấm cho bé, và kiếm nước cho bé uống.”
“Tôi phải coi sóc bầy gà.”
“Gà mất cả rồi,” Kolya nói.
“Không mất tất cả đâu.”
Tôi không nghĩ rằng thằng bé sống qua khỏi ngày mai, nhưng tôi không muốn nó chết ở đây, bên cạnh xác chết râu ria và những lồng gà trống trơn. Chết chóc đầy rẫy trong thành phố: chồng chất từng lớp cao phía sau nhà xác thành phố; đốt trong đống lửa bên cạnh nghĩa địa Piskarevsky; nằm rải rác trong hồ nước đông đá Ladoga, hay làm mồi cho mấy con hải âu, nếu thực sự còn sót lại con hải âu nào. Nhưng chọn nơi đây để giã từ trần thế thì thật cô liêu hơn bất cứ nơi nào tôi từng thấy.
“Xem đây,” Kolya nói, vừa lắc một lồng gà trống rỗng. “Không còn gì cả. Em là một đứa canh gác cẩn thận, em đã bảo vệ bầy gà, nhưng không còn con nào cả. Đi với chúng tôi thôi.”
Kolya chìa tay đeo găng ra, nhưng thằng bé chẳng thèm đếm xỉa tới.
“Ruslan đáng lẽ đã bắn hai người rồi.”
“Ruslan?” Kolya liếc nhìn xác lão già. “Ruslan là một lão già dữ dằn phải không? Tôi cũng đoán được mà. Tôi rất mừng vì em rất hiền lành.”
“Ông bảo tôi tất cả mọi người trong chung cư này đều muốn ăn cướp gà của chúng tôi.”
“Ông ta nói đúng.”
“Ông còn nói họ sẽ lên đây, cắt cổ chúng tôi nếu không đề phòng. Họ sẽ bắt trộm gà để nấu súp. Cho nên một trong hai chúng tôi phải luôn luôn tỉnh thức để canh chừng với cây súng này.”
Thằng bé nói với giọng đều đều, không hề nhìn chúng tôi, mắt nó mơ hồ và không tập trung. Bây giờ tôi có thể thấy nó run như cầy sấy, ngay cả khi nó không nói, răng nó cũng đánh lập cập vào nhau. Những mảng da màu nâu nhạt chảy dài xuống hai cái má và cổ hắn như thể một cố gắng tuyệt vọng của thân thể thằng bé ráng giữ cho hắn ấm áp.
“Ông bảo đám gà sẽ giúp chúng tôi sống qua ngày cho dến khi thành phố được giải tỏa. Đôi cái trứng mỗi ngày cộng thêm khẩu phần ăn, thế cũng đủ. Nhưng mà đàn gà không đủ ấm.”
“Nhóc con, em hãy quên mấy con gà đó đi. Đi thôi, đưa tay đây”
Thằng bé vẫn làm lơ không thèm để ý bàn tay của Kolya đang dang ra cho nó. Cuối cùng, Kolya ra dấu cho tôi giúp thằng bé. Nhưng tôi vừa nhìn thấy một cái gì chuyển động ở nơi mà đáng lẽ không có gì phải chú ý, cái gì cựa quậy dưới lớp áo lông của thằng nhóc, giống như trái tim vĩ đại của nó đang đập mạnh đến nỗi có thể thấy được từng nhịp lên xuống.
“Em có cái gì trong đó vậy nhóc con?” tôi hỏi nó.
Thằng bé vỗ nhẹ trên lớp áo lông, như thể trấn an vật gì bên trong. Lần đầu tiên tia mắt nó chạm vào mắt tôi. Nó yếu ớt như vậy, chỉ còn vài li nữa là tới đích, tôi có thể thấy được sự cứng rắn và bướng bỉnh của nó di truyền từ lão già.
“Ruslan đáng lẽ đã bắn các anh rồi.”
“Đúng vậy, em cứ nói vậy hoài, em còn giữ được một con gà phải không? Con cuối cùng đó.” Kolya nhìn tôi. “Mỗi ngày, một con gà đẻ được mấy cái trứng?”
“Bố ai mà biết được?”
“Nghe đây nhóc, anh trả em 300 rubles cho con gà đó, chịu không?”
“Người ta đã từng trả 1.000 đó. Ông bao giờ cũng nói không. Gà có thể giúp chúng tôi sống qua mùa đông. Tiền bạc thì làm gì được?”
“Mua đồ ăn được chứ? Con gà đó sẽ chết như những con khác nếu em giữ nó ở đây.”
Thằng bé lắc đầu. Cuộc thương lượng làm thằng bé thêm mệt mỏi và chán nản, mí mắt xụp xuống nhiều hơn.
“Được rồi, cái này chịu không? Đưa cho tao,” Kolya nói với tôi đồng thời giựt miếng kẹo thư viện trong tay tôi. Hắn gộp chung với miếng xúc xích cuối cùng và 300 rubble rồi để tất cả trên đùi thằng bé.
“Đó là tất cả gia tài của bọn anh. Nào, nghe anh nói, em sẽ chết ở đây nếu cứ ngồi lì ra như thế. Em cần phải ăn và rời khỏi sân thượng này. Bọn anh sẽ đưa em xuống với mấy cô gái ở tầng lầu 5 – “
“Tôi không thích họ.”
“Em có phải cưới mấy cô đó đâu mà sợ. Chúng mình sẽ đưa tiền cho họ và họ sẽ cho em ăn và ngủ một vài đêm ở đó để lấy lại sức khỏe.”
Thằng bé chỉ còn đủ sức lắc đầu nhẹ mấy cái, nhưng chí đã quyết. Hắn sẽ không rời khỏi đây.
“Em ở lại đây để bảo vệ con gà này ư? Lấy cái gì để nuôi nó chứ?”
“Tôi ở lại vì Ruslan.”
“Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết. Em hãy đi theo bọn anh.”
Thằng nhóc bắt đầu cởi nút áo choàng. Nó giữ con gà màu nâu ở ngực giống như giữ một bé sơ sinh còn bú sữa. Một con gà bé bỏng buồn thảm nhất trên đời tôi chưa bao giờ thấy, lấm lem và ngơ ngác. Một con chim sẻ khỏe mạnh cũng có thể xé nó ra từng mảnh trong một trận đấu.
Thằng nhóc đưa con gà cho Kolya. Hắn nhìn chòng chọc vào nó không phải biết làm gì, nói gì. “Cầm lấy đi,” thằng bé nói. Kolya nhìn tôi rồi nhìn thằng bé. Tôi chưa bao giờ thấy hắn bối rối như vậy.
Thằng bé nói: “Tôi không thể nuôi sống đám gà này. Hồi tháng 10, chúng tôi có cả thảy 16 con. Bây giờ chỉ còn một con này thôi.”
Chúng tôi muốn có con gà quá chừng, nhưng bây giờ thằng bé cho không như vậythì lại thấy có gì không ổn.
“Cầm lấy đi, tôi chán nó lắm rồi.”
Kolya cầm lấy con gà từ tay thằng bé, dang ra xa, sợ nó sẽ cào vào mắt bằng đôi chân như móc sắt. Nhưng con gà không dữ tợn, nó nằm hiền lành trên bàn tay của Kolya, run rẩy trong khí lạnh, cặp mắt lờ đờ nhìn vào khoảng không.
“Hãy giữ cho nó ấm áp,” thằng bé lên tiếng.
Klolya nhét con gà vào trong áo khoác, nó nằm giữa những lớp nỉ nhưng vẫn có một khoảng không gian bé nhỏ để thở.
“Hãy đi đi,” thằng bé nói.
“Đi theo tụi tao,” tôi thuyết phục thằng bé lần cuối mặc dù vẫn biết là vô ích thôi. “Lúc này mày không nên ở đây một mình.”
“Tôi không ở đây một mình, đi ngay đi.”
Tôi nhìn Kolya và hắn gật đầu. Chúng tôi hướng ra chiếc cửa lệch. Lúc đi ra tôi quay đầu nhìn lần cuối, thằng bé ngồi đó yên lặng trong chiếc áo khoác đàn bà.
“Tên em là gì?”
“Vadim.”
“Cám ơn em, Vadim.”
Thằng bé gật đầu, cặp mắt xanh thẳm, và quá lớn trên gương mặt nhợt nhạt ốm yếu.
Chúng tôi để nó ở lại một mình trong chuồng gà với xác chết của lão già và những chiếc lồng gà trống rỗng, ngọn đèn dầu leo lét, 300 ruble và thức ăn không đụng tới trong lòng nó trên chiếc áo khoác lông thỏ.
Chương 9
Sonya gom được một mớ gỗ vụn từ xà nhà bị vỡ tan của một trường điều dưỡng ở Vasilevsky Island đã bị bom đánh sập. Chúng tôi ngồi trước lò sưởi ấm, uống trà nhạt và ngắm con gà yếu đuối. Tôi đã dùng một hộp bánh bằng thiếc cũ chế ra một ổ gà và trải giấy báo vụn làm ổ. Con gà nằm cuộn tròn trong đó, đầu gục xuống ngực, không thèm ngó ngàng tới nắm hột kê tôi đã vãi trên mảnh giấy báo cũ, tờ báo Muscovit đăng bài động viên tinh thần chiến đấu dũng cảm. Tiên sư Moscow! Trong thành phố Piter, người ta nghĩ rằng nếu có một cuộc bao vây xảy ra, tốt hơn hết nên xảy ra ở đây vì chúng tôi có thể chịu đựng được dù bất kể ở tình huống nào. Còn đám công chức hạm ở thủ đô sẽ đầu hàng mấy tên chỉ huy lính Đức nào gần nhất nếu bọn họ không được cung cấp món cá tầm hằng tuần. Oleg vẫn thường nói: “Bọn họ tệ như tụi Tây” mặc dù hắn biết là hơi quá đáng.
Kolya đặt tên con gà là “Cục Cưng”, nhưng cũng chẳng có tác dụng gì, nó nhìn chúng tôi với cặp mắt đờ đẫn và nghi ngờ.
“Nó cần phải có gà trống mới đẻ trứng được phải không?” tôi hỏi bâng quơ. Sonya trả lời: “tôi không nghĩ vậy.” Nàng vừa nói vừa cậy một vảy da khô trên môi, “Tôi nghĩ rằng con trống cấy tinh trùng vào trứng nhưng con mái tự mình đẻ trứng. Cậu tôi trông coi một trại nuôi gà hợp tác xã ở Mga.”
“Vì vậy chị biết rành về gà hả?”
Nàng lắc đầu. “Tôi còn chưa bao giờ đến Mga cả.”
Chúng tôi đều là trẻ con lớn lên ở thành phố. Tôi chưa hề biết vắt sữa bò, hay xúc phân bò hoặc đánh đống cỏ khô. Hồi ở trong chung cư Kirov, chúng tôi luôn chế nhạo mấy người nông dân trong hợp tác xã, với mái tóc xấu xí và cái cổ đầy tàn nhang. Bây giờ đổi đời, bọn nông dân thoải mái ăn thịt thỏ, và heo rừng còn chúng tôi chỉ sống nhờ bánh mì khẩu phần trộn mạt cưa.
“Tới thứ Năm này, con gà mái không thể đẻ đủ 12 trứng đâu,” tôi nói, “chắc gì nó sống tới thứ Năm.”
Kolya ngồi trên chiếc ghế đẩu bằng sắt không có dựa lưng, hắn duỗi thẳng đôi chân dài, đang hí hoáy viết cái gì trong sổ tay với cây viết chì bé tí tẹo của hắn.
“Đừng nản chí,” hắn nói mà mắt không rời khỏi cuốn sổ tay. “Nó là con gà mái của thành phố Leningrad, trông vậy mà rất dẻo dai. Bọn Đức tưởng rằng có thể ăn mừng Giáng Sinh ở khách sạn Astoria phải không?”
Chúng đã in hằng ngàn thiệp mời dự lễ chiến thắng vĩ đại mà Hitler đã dự định tổ chức ở khách sạn Astoria sau khi chinh phục được “cái nôi của chủ nghĩa Bolshevic, thành phố của những tên ăn trộm và dòi bọ” như hắn từng tuyên bố trong một cuộc biểu dương thắp đuốc của quân Đức. Vệ Binh Đỏ đã tìm thấy một số thiệp mời trên thi thể của sĩ quan Đức. Thiệp mời đó đã được in lại trên báo chí cả hàng ngàn tờ và dán đầy tường khắp thành phố. Bộ Chính Trị không thể nào đưa ra lời tuyên truyền hay hơn thế. Chúng tôi ghét bọn Đức thậm tệ vì sự ngu si của chúng – Nếu thành phố rơi vào tay bọn chúng, đời nào chúng tôi để bất cứ khách sạn nào cho chúng ngồi thưởng thức ở quầy rượu và ngủ trong phòng sang trọng. Nếu thành phố sụp đổ, chúng tôi sẽ kéo khách sạn Astoria đổ theo thôi.
“Chắc là cô gà mái mắc cỡ đấy,” Sonya nói. “Nếu mà bọn mình cứ ngồi dòm chừng thế này thì cô nàng sẽ không chịu đẻ trứng đâu.”
“Hay là nó cần uống cái gì.”
“Ừ, thông minh đấy, hãy cho nó uống nước đi.”
Không ai nhúc nhích. Chúng tôi đều đói, và mệt lả, hy vọng kẻ khác sẽ đứng dậy và rót một ly nước. Ánh sáng đã nhạt dần trên bầu trời ngoài kia. Bọn tôi có thể nghe được tiếng kêu o o của những đèn pha phòng không bắt đầu khởi động, rồi từng chùm tia sáng từ từ rực lên. Một chiếc máy bay chiến đấu Sukhoi đơn độc lượn vòng thành phố, tiếng ầm ì của cánh quạt vang lên đều đều như thể bảo đảm rằng chúng tôi còn hiện diện.
“Nó giống như một đống cứt dơ bẩn, phải không?”
“Tôi nghĩ nó dễ thương chứ”, Sonya lên tiếng.”Nó giống bà tôi.”
“Hay là hãy lắc mạnh nó, may ra trứng sẽ rơi ra ngoài.”
“Nó cần uống nước.”
“Đúng rồi, lấy nước cho nó.”
Một tiếng đồng hồ qua đi. Cuối cùng Sonya mồi ngọn đèn dầu, vặn radio, và rót một chút nước sông vào cái đĩa, rồi đặt trong chuồng gà. Cục Cưng liếc mắt nhìn Sonya nhưng không có hành động gì để nhấp một chút nước. Sonya trở về chỗ ngồi và thở dài. Sau một lúc gom sức lực, nàng đi tới giá đan ở cạnh ghế ngồi, lượm một chiếc vớ rách, đôi que đan, cuộn len, và trái trứng bằng đất nung mà cô ấy đã nhét vào gót chiếc vớ làm căng những sợi len lên. Tôi ngắm những ngón tay xương xẩu của nàng làm việc. Mặc dầu là một cô gái xinh đẹp, nhưng bàn tay không có chút thịt nào và xanh xao giống như của thần chết. Dẫu sao nàng cũng biết mạng chiếc vớ rách. Chiếc que đan lấp lánh dưới ánh đèn, trồi lên hụp xuống đều đặn như ru tôi ngủ.
“Đố các cậu biết ai là con bé đê tiện? Natasha Rostov.” Kolya chợt hỏi, chẳng có đầu có đuôi gì cả.
Cái tên nghe rất quen, nhưng tôi không nghĩ ngay ra được.
Sonya nhăn mặt, nhưng không rời mắt khỏi que đan, “Phải cô gái trong cuốn Chiến Tranh Và Hòa Bình không?”
“Tôi không thể nào chịu nổi con điếm thúi đó. Ai cũng phải lòng cô ta - Tất cả mọi người, kể cả mấy thằng anh của nó – Nó chẳng là gì chỉ là một con khùng vô duyên. “
“Có thể đó là quan điểm của tác giả,” Sonya nói.
Tôi đã díu mắt lại rồi nhưng cũng mỉm cười. Bỏ qua những đặc điểm làm người khác khó chịu của hắn, tôi không khỏi có cảm tình với kẻ đã khinh bỉ một nhân vật tưởng tượng với tất cả lòng phẫn nộ như vậy.
Sonya đã đan kín lỗ hổng của chiếc vớ với bàn tay xương xẩu và khéo léo. Kolya dùng mấy ngón tay gõ nhịp trên ống quần của hắn, quay quắt với những ý nghĩ về Natasha Rostov và những bất công. Cục Cưng rùng mình trong chuồng ấm áp, rụt cổ vào như thể nó đang nằm mơ là một con rùa.
Nhà soạn kịch Gerasimov đang nói chuyện trên radio:” Những kẻ hèn nhát đáng chết! Những kẻ gây hoang mang đáng chết! Những kẻ đưa tin đồn thất thiệt đáng chết! Hãy đưa chúng nó ra xét xử. Kỷ luật. Can Đảm. Cương Quyết. Và nên nhớ điều này: Leningrad không sợ chết, cái chết sợ Leningrad.” Tôi khịt mũi và Kolya nhìn tôi thắc mắc.
“Sao vậy, mày không thích lão già Gerasimov?”
“Có gì mà thích?”
“Dầu sao ông ta cũng là một nhà ái quốc. Ông ta đang ở đây, trong thành phố Piter, không phải trốn an toàn ở nơi nào đó với Akhmatova.”
“Tôi đồng ý với Lev,” Sonya nói, đồng thời ném vài mẩu gỗ vụn vào lò sưởi. Than hồng óng lên tóc vàng của nàng và trong một giây, đôi tai xinh xắn của nàng hồng lên trong suốt. “Ông ta là cái loa của đảng, thế thôi.”
Tôi nói “Tệ hơn thế nữa,” và có thể nhận ra giọng giận dữ của mình. “Ông ta tự nhận là nhà văn nhưng lại rất ghét những người cầm bút – Ông ta chỉ đọc bài viết của họ và cố tìm những điều nguy hiểm, đả kích đảng trong đó. Và nếu ông ta cho là như vậy, thế là xong; ông ta sẽ tố cáo họ trước Bộ Chính Trị, ông ta tấn công họ trên báo chí, đài phát thanh. Một người nào đó trong bọn họ nói “Gerasimov là một thành viên trong chúng ta, nên khi Gerasimov nói người cầm bút nào đó là mối đe dọa, thì nhà văn đó chắc chắn là một mối đe dọa rồi…”
Tôi ngưng lại nửa chừng. Giọng bực tức của tôi hình như âm vang trong căn chung cư nhỏ bé, dù tôi nghĩ có thể chỉ là tưởng tượng thôi, tôi bối rối vì đã thổ lộ quá nhiều, quá sớm. Sonya và Kolya nhìn tôi kinh ngạc – Nàng có vẻ lo lắng cho tôi, trong khi hắn hình như rất cảm phục tôi, như thể lâu nay hắn vẫn nghĩ tôi là thằng vừa câm vừa điếc, rồi bỗng nhiên nhận ra rằng tôi cũng biết diễn đạt tư tưởng.
“Ông già mày là Abraham Beniov, đúng không?” Tôi chẳng nói gì, nhưng Kolya cũng chẳng hỏi câu nào. Hắn gục gặc cái đầu như thể mọi sự thình lình trở nên rõ ràng.
“Đáng lẽ tao phải nghĩ ra sớm hơn. Tao không hiểu tại sao mày phải dấu diếm như thế. Ông ấy là một nhà thơ, nhà thơ chân chính, không có nhiều nhà thơ như vậy đâu, mày phải hãnh diện chứ.”
“Mày không cần phải bảo tao nên hãnh diện về ông ấy,” tôi phản bác lại. “Nếu mày hỏi tao một đống câu hỏi ngớ ngẩn, tao không muốn trả lời, đó là chuyện riêng của tao. Tao không muốn nói về gia đình với người lạ. Nhưng đừng bao giờ nói rằng tao phải hãnh diện về cha mình.”
“Được rồi,” Kolya trả lời, trong khi dơ cao tay lên, “Thôi mà, tao xin lỗi. Không phải tao nói vậy đâu. Tao chỉ muốn cho mày biết chúng mình không còn xa lạ nữa.”
“Tôi thật ngu,” Sonya nói. “Xin lỗi nghe, Lev – Tôi chưa bao giờ biết về bố của cậu. Ông ta là một nhà thơ hả?”
“Một nhà thơ lớn,” Kolya nói.
“Từ khá tới trung bình thôi, Ông thường nói như vậy. Bố bảo tôi, thế hệ của ông có Mayakovsky và vài người khác nữa, và ông ở ngay giữa với những người khác.”
“Không, không, không phải vậy. Ông ta là một cây viết tài ba. Thật vậy mà, Lev, không phải tao nói thế này để làm vừa lòng mày đâu: ‘Một nhà thơ kỳ cựu, nổi tiếng. Tao đọc được trong quán café.’ Thơ tuyệt vời.”
Thơ của Ông xuất hiện trong mọi tuyển tập, ít ra là những tuyển tập in trước năm 1937. Tôi đã đọc hằng chục lần từ khi người ta bắt ông đi, nhưng đã lâu lắm rồi mới lại được nghe có người nói về thơ của Ông.
“Và Ông ta đã bị … đã bị…” đưa đi, Sonya ra dấu với cái cằm của nàng. Đưa đi có thể là bất cứ điều gì: Đưa đi đày ở Siberia, đưa đi bắn vào đầu, một cách lặng lẽ do lệnh của Trung Ương Đảng. Chi tiết cụ thể thì chẳng bao giờ được rõ. “Ông ta bị loại bỏ?” Nàng hỏi và tôi gật đầu.
“Tôi thuộc lòng những bài thơ ấy,” Kolya nói, nhưng hắn cho tôi một đặc ân là không đọc thơ của Ông.
Cửa mở, Timofei bước vào, một trong những bác sĩ giải phẫu tôi đã gặp đêm hôm qua. Anh ta lại gần lò sưởi để sưởi ấm đôi tay. Khi nhìn thấy con gà trong thùng giấy, hắn cúi xuống xem xét nó, đôi tay để trên đầu gối.
“Kiếm thấy nó ở đâu vậy?”
“Kolya và Lev bắt nó từ một cậu bé ở gần Narva Gate.”
Timofei đứng dậy và cười với chúng tôi. Hắn lôi ra tử túi áo khoác hai củ hành lớn.
“Lấy được trong nhà thương. Không định chia cho ai, nhưng có lẽ chúng ta có món xúp ngon lành tối nay.”
“Cục Cưng không phải để nấu xúp đâu.” Kolya phản đối. “Chúng tôi cần nó đẻ trứng.”
“Trứng hả?” Timofei nhìn chúng tôi, rồi nhìn Cục Cưng, rồi quay lại chúng tôi. Hắn tưởng chúng tôi nói đùa.
“Mọi người đều chịu thua Cục Cưng,” Kolya nói tiếp, “nhưng tôi nghĩ nó có mang trong bụng. Anh có biết gì về gà mái không? Anh nghĩ từ nay đến thứ Năm nó có thể đẻ được một tá trứng không?”
“Cậu nói cái quái gì thế?”
Anh chàng bác sĩ càng có vẻ bực bội. Kolya nhìn trừng lại hắn, cảm thấy bị xúc phạm vì giọng điệu của hắn.
“Anh không biết tiếng Nga à? Chúng tôi đợi con gà đẻ trứng!”
Trong một lúc tôi nghĩ cuộc đấu võ miệng sẽ trở nên nguy hiểm hơn, đội quân Vệ Binh Đỏ sẽ bị thiệt hại; Chúng tôi cần bác sĩ giải phẫu mà cú đấm thần tốc của Golya có thể làm anh ta vỡ mặt. Cuối cùng Timofei cười lớn và lắc đầu, chờ cho chúng tôi cùng cười với anh ta.
“Cứ tha hồ cười,” tôi bảo anh ta. “Nhưng đừng đụng đến con gà mái của chúng tôi.”
“Nó không phải là con gà mái, anh khờ ơi, đó là một con gà trống.”
Kolya ngập ngừng, không biết có phải là Timofei nói đùa hay định đánh lừa chúng tôi để quăng con gà vào nồi xúp không. Tôi cúi về phía trước và nhìn chăm chú con gà. Tôi không hiểu tại sao lại nghĩ rằng nhìn chăm chú như vậy có thể giúp gì cho tôi. Tôi tìm cái gì, cái trứng dái nhỏ xíu hả?
“Anh nói nó không đẻ trứng hả?” Kolya hỏi và nhìn Timofei rất chăm chú.
Anh bác sĩ nói chậm rãi như thể đang trao đổi với những tên khờ.
“Đó là một con gà trống. Và cơ hội đẻ trứng thì không cao lắm.”
Chương 10
Món xúp tối hôm ấy mùi vị giống như hồi tháng Sáu, như trong những bữa ăn tối chúng tôi còn nhớ từ trước khi thành phố bị bao vây. Một chàng phi công của không quân Nga đang theo đuổi Sonya, đã tặng nàng 2 củ khoai chưa hư. Kolya phản đối rằng hắn không muốn ăn món quà tặng của tình địch, nhưng chẳng ai thèm quan tâm tới sự phản kháng đó như hắn mong đợi. Xúp gà lại có thêm khoai, hành tây, và thật nhiều muối, muối thì luôn luôn dư thừa. Chúng tôi rất vui mừng vì tối hôm đó mấy bác sĩ khác đã ngủ qua đêm ở chỗ khác. Sonya đổi một cánh gà và chén nhỏ nước gà luộc với người hàng xóm lấy chai rượu Vodka vẫn còn uống được. Bọn Đức lười biếng rót vài trái đại bác vào thành phố như muốn nhắc nhở rằng họ vẫn còn ở đó nhưng có nhiều việc khác quan trọng hơn phải làm tối nay. Tới nửa đêm thì cả bọn chúng tôi đã say vùi, bụng đầy ắp. Kolya và Sonya làm tình trong phòng ngủ, tôi và Timofei chơi cờ bên cạnh ánh sáng lò sưởi.
Giữa ván thứ hai, tôi đi quân hiệp sĩ, Timofei nhìn sững bàn cờ, ợ lên một tiếng và nói “Ôi, cậu giỏi thật.”
“Anh mới nhận ra à? Tôi thắng anh chỉ trong 16 bước ván trước.”
“Tưởng là vì say chứ … tôi bị bại rồi phải không?”
“Anh vẫn còn cầm cự được, nhưng không lâu đâu.”
Hắn lật quân cờ vua, ợ lên lần nữa, hài lòng với tiếng ợ của hắn, hài lòng vì trong bụng đầy ắp đồ ăn.
“Không có lý. Ừ nhỉ. Cậu không phân biệt được con gà trống hay gà mái, nhưng chơi cờ rất giỏi.”
“Ngày xưa tôi chơi hay hơn bây giờ.” Tôi đi dùm quân Vua của hắn về phải một bước, cố cứu vãn xem có thể kéo dài ván cờ được bao lâu.
“Cậu từng chơi hay hơn bây giờ à? Từ khi còn trong bụng mẹ hả? Cậu bao nhiêu tuổi rồi, 14 phải không?”
“Mười 17!”
“Cậu đã phải cạo râu chưa?”
“Cạo rồi”
Timofei có vẻ nghi ngờ.
“Tôi đã cạo râu mép … mùa đông nên mọc chậm.”
Sonya thở hổn hển trong phòng bên cạnh và bắt đầu cười giỡn, khiến tôi hình dung ra nàng, cái đầu ngửa ra sau, để lộ hẳn cổ ra ngoài, cặp nhũ hoa nhỏ nhắn với núm săn cứng.
“Tôi không hiểu họ lấy sức ở đâu,” Timofei nói, nằm ngửa trên nhiều lớp chăn và hai cánh tay duỗi thẳng. “Cứ cho tôi ăn xúp gà mỗi đêm, suốt đời tôi sẽ chẳng cần đàn bà.”
Hắn nhắm mắt chẳng bao lâu rơi vào giấc ngủ say, lại một tên dễ ngủ, bỏ tôi một mình cô đơn nghe những tiếng động của hai kẻ yêu nhau.
Kolya đánh thức tôi dậy trước khi trời sáng, đưa tôi một tách nước trà, mắt vẫn chăm chú nghiên cứu bàn cờ bỏ dở dang. Timofei vẫn nằm ngửa ngủ say sưa, miệng há, hai tay duỗi thẳng trên đầu giống như đang đầu hàng địch quân.
“Ai chơi quân cờ đen vậy?”
“Tao.”
“Mày sẽ đánh bại hắn trong vòng 6 nước”
“Năm nước thôi. Trừ phi hắn làm lỗi, tao sẽ thắng hắn trong 3 bước.”
Kolya nhăn mặt, nhìn kỹ bàn cờ cho đến khi nhận ra được.
“Mày chơi được lắm.”
“Mày vẫn muốn đánh cá chứ? Cái gì nhỉ, hình mấy con nhỏ người Pháp khỏa thân, đúng không?”
Hắn mỉm cười, dụi mắt cho tỉnh ngủ.
“Chắc tao phải cho không mày như một đặc ân, để mày xem tất cả mọi thứ trên thân thể. Nào nhanh lên, mang giày vào.”
“Chúng ta đi đâu?”
“Mga.”
Có thể Kolya là một tên đào ngũ, nhưng giọng nói rất có uy khiến tôi thắt dây giầy xong một nửa mới nghĩ đến hỏi hắn đi đâu. Hắn đã mặc áo khoác ngoài, đeo găng tay da sẵn sàng; quấn khăn quàng cổ hai vòng, và xem xét răng cỏ trước tấm gương nhỏ treo phía trên ấm đun nước.
“Mga, cách đây 50 cây số.”
“Một ngày lội bộ, chúng ta ăn no nê tối qua, thế nào cũng đi nổi.”
Tôi từ từ tỉnh ngủ bởi cái đề nghị điên khùng này.
“Nơi đó là phía sau tuyến phòng thủ của tụi Đức. Tại sao mình phải tới Mga.”
“Đã là Thứ Hai rồi, Lev. Chúng ta phải có trứng gà vào ngày Thứ Năm và chúng ta không thể tìm được trong thành phố Piter. Cậu của Sonya có Hợp tác xã nuôi gà ở đó phải không nào? Tao đoán chắc tụi Đức để yên cho trại gà hoạt động vì chúng cũng thích trứng gà của họ.”
“Đó là kế hoạch của chúng ta hả? Chúng ta sẽ lội bộ 50 cây số, vượt qua tụi Đức, tới trại nuôi gà với hy vọng chưa bị đốt rụi, chụp vội một tá trứng, rồi đi về?”
“Ừ, nếu mày nói với cái giọng điệu chế diễu đó thì cái gì cũng đáng buồn cười thôi.”
“Giọng điệu… tao đặt câu hỏi cho mày mà! Đó có phải là kế hoạch của chúng ta không? Sonya chưa hề tới đó! Làm sao mày có thể kiếm ra trại gà?”
“Thì cũng nội trong Mga thôi! Muốn kiếm bất cứ thứ gì ở Mga thì có khó khăn gì đâu!”
“Tao còn không biết Mga nằm ở đâu!”
“À,” Hắn phá lên cười trong khi đội lên đầu chiếc mũ lông Astrakhan. “Cái đó thì dễ thôi. Nó nằm trên tuyến đường xe lửa đi Mạc Tư Khoa. Chúng ta chỉ việc đi theo đường rày là tới.”
Timofei càu nhàu trong cơn mê và trở mình nằm nghiêng. Tôi đã biết được rằng lính và bác sĩ rất dễ đi vào giấc ngủ giữa tiếng ồn ào vô sự. Tiếng cãi nhau của chúng tôi chỉ như lời ru ngủ nhẹ nhàng, nếu cứ nhìn khuôn mặt thanh thản của Timofei mà đoán. Tôi nhìn hắn và cảm thấy ghen tị vô cùng, ghét hắn vì đang ngủ trong chăn êm nệm ấm, no cơm ấm cật mà không bị thằng nhãi Cossacks phiền hà, không bị Đại Tá mật vụ NKVD bắt đi tìm nguyên liệu để làm bánh cưới ở nơi hoang dã.
Tôi quay lại nhìn Kolya, hắn đang nhìn vào tấm gương soi mặt để sửa lại chiếc mũ cho đúng vẻ người hùng. Tôi càng ghét hắn hơn nữa, với vẻ ngang tàng hớn hở của tên súc sanh, vui vẻ và khỏe khoắn vào lúc 6 giờ sáng như vừa mới trở về sau khi nghỉ mát hai tuần ở Black Sea. Tôi đoán rằng thân thể hắn vẫn còn phảng phất mùi vị ái tình, thực ra tôi cũng chẳng ngửi thấy gì lúc sáng sớm bảnh mắt trong căn chung cư lạnh lẽo. Chiếc mũi vĩ đại của tôi chỉ để làm cảnh, mục tiêu thuận tiện cho sự chế nhạo nhưng đánh mùi thì rất tệ.
“Mày nói kế hoạch điên khùng hả,” Kolya hỏi, “nhưng tất cả đám nông dân lừa đảo đó bán khoai tây 200 ruble trong chợ Haymarket, họ mang vào từ bên ngoài thành phố. Người ta vượt qua giới tuyến của tụi Đức mỗi ngày. Tại sao chúng ta không làm được?”
“Mày say rồi hả?”
“Mới chỉ một phần tư chai Vodka, còn lâu.”
“Chắc chắn thế nào cũng có một nơi gần hơn là Mga.”
“Vậy cho tao biết nơi nào.”
Hắn đang trùm chặt thân thể vì trời lạnh, cằm tua tủa những râu vàng hoe vì đã 4 ngày chưa cạo. Hắn chờ tôi đề nghị một kế hoạch khác thay cho kế hoạch điên khùng của hắn, nhưng mấy giây đã trôi đi tôi nhận ra rằng mình chẳng có gì khác.
Hắn mỉm cười với tôi, một nụ cười duyên dáng đủ để chụp hình làm người mẫu in trên tờ quảng cáo cho trung tâm tuyển mộ nhân viên của Hạm Đội Đỏ.
“Toàn bộ kế hoạch thật nực cười, tao đồng ý. Nhưng mà đó là một chuyện cười rất lý thú.”
“Đúng vậy, một chuyện cười tuyệt vời. Nhưng phần hay nhất là chúng ta sẽ chết ở đó và con gái Đại Tá không có bánh cưới và chẳng bao giờ có ai biết chúng ta làm gì ở Mga.”
“Bình tĩnh nào, cậu bé Do Thái bịnh hoạn của tôi ơi. Tôi sẽ không để những kẻ xấu làm hại cậu đâu--”
“Mày thì biết đếch gì.”
“Nhưng mình phải đi thôi. Nếu muốn đến đó trước khi trời tối.”
Tôi có thể mặc kệ hắn và trở lại ngủ tiếp. Lò đốt đã tắt ngấm từ tối hồi hôm khi mẩu củi cuối cùng đã cháy hết, nhưng mà vẫn đủ ấm trong một đống mền dầy. Ngủ vẫn tốt hơn là đi bộ tới Mga để kiếm trứng gà – Ở đó hàng ngàn lính Đức đang chờ đợi. Bất cứ điều gì cũng thuận tai hơn là cái chắc. Dù có phản đối gì đi nữa, tôi cũng biết ngay từ đầu rằng thế nào tôi cũng theo hắn. Hắn nói đúng, chẳng có trứng gà trong thành phố Piter. Nhưng đó không phải là lý do duy nhất tôi theo hắn. Kolya là một tên làm phách, một tên cái-gì-cũng-biết, một tên Cossack làm mồi nhử đám Do Thái, nhưng lòng tự tin tuyệt đối và toàn thiện của hắn khiến người ta không cảm thấy hắn kiêu ngạo chút nào, chỉ là dấu hiệu của một kẻ tự chọn cho mình một hướng đi can trường. Đó không phải là chí hướng của tôi, thực tế đã làm lơ ước nguyện của tôi từ khởi đầu, tạo cho tôi một thân thể chỉ thích hợp làm công việc sắp sếp sách vở trong thư viện, và bơm vào mạch máu tôi đầy sự sợ hãi đến nỗi tôi chỉ có thể hèn nhát đứng trên cầu thang khi phải đối đầu với bạo lực. Có thể một ngày nào đó bắp thịt chân tay tôi sẽ rắn chắc hơn, và nỗi sợ hãi sẽ trôi đi như dòng nước bẩn trong bồn tắm. Tôi cầu mong mình tin tưởng điều đó sẽ xảy ra, nhưng chắc sẽ không sảy ra như vậy. Tôi đã bị nguyền rủa bởi nỗi bi quan của cả giống Do Thái và giống Nga, hai bộ tộc buồn thảm nhất trên trái đất này. Dầu sao, nếu không sở hữu sự vĩ đại, có thể tôi sở hữu một tài năng nhận biết sự vĩ đại của kẻ khác, dù kẻ đó là một người rất khó chịu.
Tôi đứng dậy vớ lấy chiếc áo khoác từ sàn nhà, choàng vào, và đi theo Kolya đến cửa trước, hắn đang giữ cánh cửa mở một cách nghiêm trang chờ tôi.
“Chờ đã,” hắn nói, trước khi tôi bước ngang qua khung cửa. “Chúng ta sắp làm một hành trình xa. Hãy nên ngồi xuống đã.”
“Tao không ngờ mày tin dị đoan như thế.”
“Tao thích theo truyền thống.”
“Không có ghế nên chúng tôi ngồi xuống sàn nhà bên cạnh cửa ra vào. Căn chung cư thật yên tĩnh. Timofei ngáy đều trong chỗ nằm của hắn gần lò đốt. Những cánh cửa sổ run lên trong khung cửa; Radio vẫn phát ra âm thanh đều đều không ngừng nghỉ, như chứng tỏ Lenningrad vẫn đứng vững chưa hề bị chinh phục. Bên ngoài có người đang đóng những tấm áp phích để che cửa sổ bằng những nhát búa chính xác và nhanh nhẹn. Thay vì hình dung ra người treo áp phích, hình ảnh kẻ đóng hòm lại hiện ra trong đầu tôi, hắn đang ghép những miếng gỗ thông với nhau để tạo ra chiếc quan tài. Ảo tưởng đó rất rõ ràng từng chi tiết: Tôi có thể thấy những mảnh da chai cứng trong lòng bàn tay người thợ, những sợi lông đen mọc giữa cặp lông mày rậm rạp, mạt cưa bám đầy trên cánh tay mồ hôi nhễ nhại.
Tôi hít một hơi thật sâu và nhìn Kolya. Hắn nhìn lại tôi.
“Đừng lo lắng, bạn ơi. Tôi sẽ không để bạn chết đâu.”
Tôi đã 17 tuổi và ngu si và tôi tin lời hắn.
Chương 11
Tuyến đường xe lửa Mạc Tư Khoa chỉ mới ngưng chạy có 4 tháng, thế mà đường rày đã bắt đầu rỉ xét. Hầu hết gỗ lót rày đã bị tháo gỡ và bổ ra làm củi đốt, mặc dầu gỗ đó đã được ngâm dầu hắc và rất nguy hiểm nếu dùng làm củi đốt lò sưởi. Kolya bước trên đường rày, giống như một vận động viên thể dục đi trên đà thăng bằng, hai tay giang ngang. Tôi lê bước theo sau hắn giữa hai đường rày, không muốn theo trò chơi của hắn, một phần vì tức giận, một phần vì tôi chẳng làm được như hắn.
Đường rày chạy về hướng Đông quá khu chung cư gạch đỏ và tòa nhà 3 tầng lầu của một cửa hàng bách hóa, băng ngang bãi đậu xe lửa Kotlyarov, rồi đi ngang khu kỹ nghệ bỏ hoang, những nhà máy sản xuất hàng hóa mà không ai đủ khả năng mua sắm hoặc không cần thiết trong thời chiến. Một nhóm thợ đàn bà trẻ mặc quần có yếm bên trong áo khoác mùa đông, dưới sự chỉ huy của một quân nhân công binh, đang kiến tạo một vị trí phòng thủ từ một nhà bưu điện bỏ hoang. Một góc của tòa nhà vững chãi cũ kỹ được giật sập nhường chỗ cho ổ súng máy.
“Một thân thể khỏe mạnh,” Kolya nói đến một cô đội chiếc khăn trùm đầu màu xanh nước biển, đang lôi những bao cát từ một xe tải đậu gần đó.
“Làm sao mày biết.”
Đó là một nhận xét khôi hài. Người con gái ít nhất cũng cách xa 50 thước; áo khoác của nàng dày cộm, còn mặc nhiều lớp áo ấm bên dưới.
“Tao có thể đoán được. Nàng có dáng dấp của một vũ công.”
“À ra thế.”
“Đừng ngạc nhiên. Tao quen nhiều nữ vũ công. Tin tao đi. Một đêm nào đó tao sẽ dẫn mày tới nhà hát Mariinsky, đứng sau cánh gà. Nào, cứ cho rằng tao cũng có một chút tiếng tăm.”
“Mày chẳng bao giờ ngưng phô trương cái tiếng tăm của mày.”
“Có rất ít điều trên thế gian này làm tao sung sướng hơn là cặp đùi của một nữ vũ công. Galina Ulanova chẳng hạn “
“Ồ, câm miệng mày lại.”
“Cái gì? nàng là một bảo vật của quốc gia. Cặp giò nàng đáng lẽ phải được đúc thành tượng đồng đấy.”
“Mày chưa bao giờ ngủ với Galina Ulanova.”
Hắn tặng tôi một nụ cười chúm chím, bí hiểm, một nụ cười ám chỉ rằng hắn biết rất nhiều điều nhưng không thể chia sẻ với tôi tất cả một lần.
“Tao thật là tàn nhẫn,” hắn thừa nhận. “Nói với mày những chuyện như thế…quả là bạo dâm. Như thể nói về Velázquez với người mù. Thôi đổi đề tài vậy.”
“Trong 39 cây số tới, mày không muốn nói về các nữ vũ công mà mày chưa từng ngủ với họ hả?”
“Có 3 thằng nhỏ đi ăn cắp gà trong một nông trại,” hắn bắt đầu với giọng điệu khôi hài. Hắn dùng giọng khác bình thường để kể chuyện diễu, tôi cũng chẳng hiểu cái giọng đó là giọng gì và tại sao hắn nghĩ nó sẽ làm cho câu chuyện buồn cười hơn.
“Người trại chủ nghe tiếng động và chạy vội về xem xét. Mấy thằng nhỏ nhảy vào trong 3 cái túi đựng khoai tây để trốn.”
“Chuyện diễu này có dài lắm không?”
“Người nông dân đá vào chiếc túi thứ nhất và thằng nhỏ trong túi đó kêu lên ‘Meo’ làm bộ như là con mèo.”
“Ồ, nó giả làm con mèo hả?”
“Tao vừa nói như vậy mà,” Kolya nói, ngoảnh nhìn lại tôi thử xem có phải tôi bắt đầu gây phiền phức cho hắn không.
“Tao biết nó giả làm con mèo. Một khi thằng nhóc kêu ‘Meo,’ rõ ràng là nó muốn giả làm con mèo.”
“Mày lại khó chịu vì tao ngủ với Sonya phải không? Bộ mày thương nó hả? Mày với cái thằng gì đó chẳng có một vài phút vui bên nhau sao? Thằng bác sĩ giải phẫu đó? Hai đứa bay trông thật dễ thương, quấn quýt với nhau bên lò sưởi.”
“Mày dùng giọng gì thế? Có phải là người Ukrain không?”
“Giọng gì?”
“Mỗi lần mày kể chuyện diễu lại dùng một giọng cà chớn khác!”
“Nghe tao nói đây, Lev, chú sư tử nhỏ, tao xin lỗi. Tao biết thật là khó chịu cho mày, nằm ở đó cả đêm, với thằng nhỏ trong bàn tay, trong khi nghe tiếng rên rỉ vì sung sướng của nàng –“
“Hãy kể tiếp câu chuyện diễu ngớ ngẩn của mày đi.”
“—nhưng tao hứa, trước khi mày đến 18 tuổi – khi nào sinh nhật của mày vậy?”
“Ồ, câm miệng mày lại.”
“Tao sẽ kiếm cho mày một con nhỏ. tạm thời quên chuyện đó đi. Nhớ nhé.”
Trong lúc đó hắn tiếp tục bước trên đường rày, chân này trước chân kia, không hề mất thăng bằng, không hề nhìn xuống, đi nhanh hơn tôi cuốc bộ bình thường.
“Đến đâu rồi nhỉ? À, anh nông dân đá cái túi đầu tiên, ‘Meo,’ và cứ như vậy. Anh ta đá túi thứ hai, thằng nhỏ bên trong kêu lên, ‘Gâu’ giả như con – “
Kolya chỉ vào tôi để nói nốt câu.
“Con bò.”
“Con chó. Khi anh ta đá cái túi cuối cùng, thằng nhóc bên trong kêu lên, ‘Khoai tây!’”
Chúng tôi đi bên nhau yên lặng.
“Nào,” cuối cùng Kolya lên tiếng, “Những người khác cho là tức cười đấy.”
Vùng ngoại ô, những khu chung cư không còn là những hình khối chồng lên nhau nữa. Gạch và xi măng cốt sắt bị chia cắt bởi những giải đầm lầy đông đá và những lô đất bị tuyết che phủ đáng lẽ dành để xây cất những tòa cao ốc, chiến sự đã ngưng hẳn tất cả công trình kiến trúc. Càng đi xa trung tâm thành phố, chúng tôi thấy dân cư càng thưa thớt. Xe tải quân đội với những bánh xe cột giây xích chạy ngang nghe lộp cộp, những người lính mệt mỏi ngồi trong lòng xe nhìn chúng tôi thờ thẫn trên đường ra tiền tuyến.
“Mày có biết tại sao gọi là Mga không?” Kolya hỏi tôi.
“Tên tắt của ai đó?”
“Maria Gregorevna Apraksin. Một trong những nhân vật trong truyện The Courtyard Hound dựa vào cá tính của nàng. Thừa kế của một chuỗi dài những Thống Chế, những kẻ thụt két, những kẻ bợ đít hoàng gia. Nàng đã tin rằng chồng nàng mưu giết nàng để cưới em gái mình.
“Ông ta có thật sự làm thế không?”
“Lúc đầu thì không. Nàng chỉ hoang tưởng. Nhưng nàng không ngừng nói về chuyện đó và rồi chồng nàng bắt đầu phải lòng cô em thật. Và chàng ta nhận ra rằng cuộc đời sẽ tốt đẹp hơn nếu không có vợ mình bên cạnh. Cho nên hắn tìm tới Radchenko hỏi ý kiến, nhưng hắn không biết rằng Radchenko đã từng ngủ với cô em từ bao năm qua.”
“Ông ta còn viết gì nữa?”
“Hả?”
“Ushakovo ông ta còn viết cuốn nào khác?”
“The Courtyard Hound, thế thôi. Đó là cuốn sách nổi tiếng. Cuốn sách lúc phát hành đã thất bại. Có mỗi một nhà phê bình và chắc chắn đã đả kích thậm tệ. Cho là tầm thường và đê tiện. Không ai đọc cả. Ushakovo đã tốn 11 năm để hoàn thành cuốn sách. Mày có thể tưởng tượng được 11 năm trời không? Và nó biến mất như là bị liệng xuống biển cả. Nhưng mà ông ta làm lại từ đầu, một tác phẩm mới; một số bạn của ông ta được xem vài đoạn và cho là một tuyệt tác. Chỉ tiếc là Ushakovo càng ngày càng thiên về tín ngưỡng, để nhiều thời gian giao du với hàng giáo phẩm, họ thuyết phục ông ta rằng viết truyện giả tưởng là công việc của quỷ Satan. Và một đêm kia, Ushakovo tin rằng ông ta sẽ sa xuống địa ngục; Trong lúc hoảng loạn ông ta đã ném bản thảo ấy vào đống lửa. Úp, biến mất.”
“Nghe quen thuộc một cách lạ lùng. Giống hệt như Gogol.”
“Không hẳn là giống hệt. Rất khác chi tiết. Nhưng là một sự trùng hợp lý thú, tao đồng ý.”
Đường sắt quẹo ra khỏi đường lộ, ngang qua những hàng cây phong, những cây quá mỏng mảnh để có thể chặt làm củi đốt. Năm xác chết trắng dã mặt úp trên tuyết. Cái chết mùa đông của một gia đình, người cha vẫn còn nắm tay vợ mình, mấy đứa con nằm rải rác một khoảng ngắn. Hai va li méo mó bằng da mở tung nằm bên cạnh xác chết, tất cả đồ đạc đã mất chỉ trừ mấy khung hình đã nứt.
Quần áo và giầy dép đều bị lột mất. Thịt mông đã bị hớt đi, đó là thịt mềm nhất, dễ dùng để làm chả hay xúc xích. Tôi không biết chắc gia đình này bị giết bởi dao hay súng, hay đạn pháo, bởi pháo thủ Đức hay bởi bọn Nga ăn thịt người. Tôi cũng không muốn biết. Họ đã bị giết từ lâu, ít nhất một tuần lễ, và thân thể họ đã trở thành một phần của cây cỏ.
Kolya và tôi tiếp tục đi về phía Đông dọc theo tuyến đường xe lửa Vologda. Suốt sáng hôm đó, hắn không kể thêm một chuyện diễu nào khác.
Gần trưa chúng tôi đến giáp vòng đai phòng thủ: giây kẽm gai dầy đặc, hào xâu 3 thước, khối xi măng chống tăng, ổ súng máy, những khẩu pháo phòng không, và xe tăng KV-1 che phủ bởi lưới ngụy trang màu trắng. Những người lính chúng tôi gặp trên đường đi, đã làm ngơ, bây giờ chúng tôi đã quá xa về phía Đông, không thể là dân sự nữa, cũng không thể là quân nhân với hình dáng hai thằng kỳ dị. Đang khi chúng tôi bước theo chiều dọc đường rày, một đám lính trẻ kéo tấm vải dầu hắc từ trên chiếc xe tải 6X6, quay lại nhìn chăm chú chúng tôi.
Trung sĩ chỉ huy bọn họ tiến lại phía chúng tôi, không nhắm cây súng bán tự động của anh ta vào ngay chúng tôi nhưng cũng không chĩa đi chỗ khác. Anh ta có dáng dấp của một tên lính chuyên nghiệp, với gò má cao, mắt nhỏ của giống ngườiTartar.
“Hai người có giấy tờ không?”
“Có chứ,” Kolya trả lời, thọc tay trong túi áo khoác. “Chúng tôi có giấy tờ rất quan trọng.”
Hắn đưa lá thư của Đại Tá và hất hàm về phía chiếc xe tải.
“Đó là mô đen mới của Katyusha phải không?”
Tấm vải dầu đã được kéo xuống đất, để lộ ra nhiều hàng dàn phóng hỏa tiễn đứng song song chĩa lên trời, sẵn sàng để gắn đạn vào đó. Chúng tôi đã được nghe từ đài phát thanh, Quân Đức sợ Katyusha hơn bất cứ vũ khí nào khác của Nga – Chúng gọi là đàn phong cầm của Stalin, để chỉ tiếng hú trầm và ghê rợn của những trái hỏa tiễn phóng ra từ Katyusha.
Anh chàng Trung Sĩ liếc qua dàn phóng hỏa tiễn rồi trở lại Kolya. “Đừng quan tâm về cái đó. Cậu thuộc quân đoàn nào?”
“54.”
“54 ư? Cậu đáng lẽ phải ở Kirishi chứ”
“Đúng thế,” Kolya trả lời, nở một nụ cười bí ẩn với viên Trung Sĩ và hất đầu về phía lá thư anh ta đang cầm trong tay. “Nhưng mà lệnh là lệnh.”
Trung Sĩ mở lá thư và đọc. Kolya và tôi quan sát mấy anh lính đang nạp những trái hỏa tiễn với cái đuôi rất mỏng vào ống phóng.
Kolya la to “Hãy tàn sát chúng đêm nay!”. Mấy người lính đưa mắt nhìn chúng tôi nhưng không nói gì. Họ có vẻ đã mất ngủ nhiều ngày; cố gắng chăm chú vào việc nạp hỏa tiễn để khỏi đánh rơi, không còn sức lực đâu để đối phó với kẻ điên.
Kolya không chịu nổi sự hờ hững đó bèn cất to giọng hát. Tiếng hắn trầm ấm, mạnh mẽ và đầy tự tin.
“Bên bờ đất, Katyusha bắt đầu hát lên,
cho con chim đại bàng màu xám kiêu hãnh của đồng hoang,
cho người yêu dấu nồng nàn,
cho người viết nhũng lá thư mà nàng luôn ấp ủ.”
Người Trung Sĩ đọc xong lá thư rồi gấp lại. Lá thư ủy thác của Đại Tá khiến anh ta rất ngưỡng mộ. Hắn nhìn Kolya với vẻ nể nang thành thực, gật đầu tán thưởng bài ca cổ điển.
“Những lời đó tôi nghe chính Ruslanova hát trong trận chiến mùa Đông. Tôi đưa tay ra đỡ khi nàng bước xuống khỏi sân khấu, có lẽ nàng hơi chếnh choáng men say. Cậu có biết nàng nói gì với tôi không?Cám ơn, Trung Sĩ, anh là người đàn ông biết cách dùng bàn tay của mình.’ Cậu nghĩ thế nào? Thật là Ruslanova, luôn chọc quê người ta, nhưng đây là một bài hát tuyệt vời.”
Anh ta phát nhẹ bức thư lên ngực của Kolya và trả lại hắn, mỉm cười với hai chúng tôi.
“Xin lỗi tôi đã phải chặn hai cậu lại, các cậu có biết không … người ta nói có đến 300 tên phá hoại trong thành phố, mỗi ngày có nhiều hơn. Bây giờ tôi hiểu các cậu đang làm việc cho Đại Tá…”
Anh ta nháy mắt với Kolya.
“Tôi biết điều đó, tổ chức kháng chiến cho nông dân. Các cậu để bọn chính quy chúng tôi đánh mặt trước, bọn cậu chặn mặt sau, chúng ta sẽ đi ỉa ở tòa nhà Reichstag mùa hè này.”
Ngày chúng tôi vừa nhận bức thư của Đại Tá, Kolya đã đọc nó thật lớn tiếng, chẳng thấy nói gì về tổ chức nông dân cả -- chỉ nói chúng tôi được dễ dàng di chuyển để làm nhiệm vụ dưới sự điều động của Đại Tá – nhưng mà nhật báo đăng đầy những chuyện về đám nông dân chất phác được nhân viên mật vụ NKVD huấn luyện để khơi lên cuộc chiến tranh du kích.
“Trung Sĩ cứ cho bọn Đức nhảy múa với cây phong cầm này,” Kolya đáp lời– tôi không rõ hắn cố ý bắt chước anh Trung sĩ hay không – “và chúng tôi sẽ không để chúng nhận thêm bánh strudel từ quê hương chúng nữa.”
“Phải rồi, đúng thế! Chận đường tiếp tế, để chúng chết đói trong rừng, giống như năm 1812.”
“Nhưng không có Elba cho Hitler.”
“Không, không đâu, hắn không có Elba đâu!”
Tôi không biết chắc Trung Sĩ có hiểu Elba là gì không, nhưng anh ta cương quyết Hitler không có được.
“Chúng ta sẽ đâm cho hắn một nhát vào hòn dái nhưng không cho hắn Elba!”
“Chúng ta nên đi thôi,” Kolya nói. “Chúng ta phải có mặt ở Mga trước khi trời tối.”
Anh Trung Sĩ huýt gió. “Đường xa đấy. Nhớ đi lẩn trong rừng, nghe không. Tụi Đức canh trên đường lộ, nhưng người Nga mình đâu cần đường lộ mới đi được phải không? À, các cậu có đủ bánh mì không? Không à? Chúng tôi có thể chia cho các cậu một chút. Ivan?”
Trung Sĩ gọi một anh lính trẻ tuổi luộm thuộm, đứng bên cạnh chiếc xe tải.
“Kiếm ít bánh mì cho hai cậu này. Bọn họ phải đi vào vùng địch.”
Chương 12
Ngoài thành phố, cây cối vẫn còn xanh tốt, chim quạ kêu réo trên cành cây phong, mấy con sóc đuổi nhau giữa đám thông. Sóc vừa mập và vô tư, dễ làm mồi cho kẻ nào có một cây súng ngắn. Chúng thật may mắn còn sống sót trên đất Nga đang bị chiếm đóng.
Chúng tôi đi xuyên qua rừng, vượt qua những cánh đồng trống dưới ánh nắng mặt trời trong thời tiết lạnh giá, vẫn để ý những đường rầy xe lửa nằm phía bên trái. Tuyết đã đóng băng, rải rác khắp nơi lẫn với lá thông, thật hợp cho cuộc lội bộ nhàn nhã. Chúng tôi đang ở trong vùng quân Đức kiểm soát, nhưng chẳng thấy bóng dáng một tên Đức nào cả, chiến tranh cũng không hiện diện. Tôi cảm thấy vui mừng lạ thường. Piter là nhà của tôi, nhưng bây giờ đã trở thành nghĩa địa. một thành phố của ma quỷ và bọn ăn thịt người.
Đi bộ trong vùng nhà quê tôi cảm thấy thể xác thay đổi, giống như được thở dưỡng khí nguyên chất sau bao nhiêu tháng sống dưới đáy mỏ than. Cái bùi nhùi trong ruột gan đã được lấy ra, lỗ tai không còn bịt kín. Đôi chân mạnh khỏe, cứng cáp mà đã lâu tôi không có cảm giác đó.
Kolya chắc cũng có cảm xúc như tôi. Hắn nheo mắt tránh ánh tuyết chói chang, chu mỏ thổi một hơi khói mạnh ra khỏi miệng, và thích thú với trò chơi ấy như một đứa bé lên năm.
Chợt nhìn thấy một miếng giấy màu xanh bên cạnh gốc cây phong cổ thụ, hắn nhặt lên. Đó là tờ 10 ruble, cặp mắt Lenin dưới chiếc đầu hói bự, nhìn thẳng vào chúng tôi. Tờ giấy bạc cũng bình thường thôi, chỉ khác là nó màu xám chứ không phải xanh.
Tôi hỏi: “Tiền giả hả?”
Kolya gật đầu, dùng ngón tay chỉ lên trời trong khi đang xem xét tờ giấy bạc.
“Tụi Đức đã đổ xuống đây từng sọt tiền. Càng nhiều tiền giả luân lưu, giá trị tiền thiệt càng kém đi.”
“Nhưng mà màu sắc đâu có đúng.”
Kolya lật mặt trái tờ giấy và đọc thật to những hàng chữ in trên đó.
“Giá cả đồ ăn và hàng gia dụng đã tăng gấp bội, chợ đen trong nước Nga phát triển mạnh. Chữ ‘phát triển’ viết sai chính tả. Đảng và tụi Do Thái đã cấu kết với nhau ở hậu phương trong khi các bạn ở tiền tuyến phải hy sinh mạng sống cho những tên tội phạm đó. ‘Những tên tội phạm đó’, nghe được lắm. Chúng nó chiếm đóng một nửa đất nước nhưng không tìm được một người biết viết tiếng Nga? Chẳng bao lâu mày sẽ biết lý do thôi, cho nên hãy giữ tờ giấy 10 ruble này. Nó bảo đảm cho mày trở về một nước Nga tự do sau chiến tranh.”
Kolya cười toe toét và liếc nhìn tôi. “Mày đã cấu kết ngầm hả, Lev Abramovich?”
“Tao ước gì làm được như thế.”
“Bọn Đức nghĩ chúng ta sẽ theo chúng vì tờ giấy này à? Chúng không hiểu à? Tuyên truyền là do chúng ta đã phát minh ra! Thật là quá dở; Chúng đã làm cho những kẻ mà chúng muốn lôi cuốn thấy khó chịu. Một thanh niên nghĩ rằng hắn lượm được tờ bạc 10 ruble, hắn mừng lắm, nghĩ rằng sẽ mua được thêm một miếng xúc xích. Nhưng không, chẳng phải là tiền, chỉ là tờ giấy đầu hàng viết sai chính tả.”
Hắn máng tờ truyền đơn lên cành cây rồi dùng hộp quẹt đốt nó đi.
Tôi bảo hắn “Mày đang đốt cái cơ hội trở về nước Nga tự do sau chiến tranh.”
Kolya mỉm cười trong khi nhìn tờ giấy trở nên đen đúa và uốn cong lại. “Đi thôi. Đường còn dài.”
Sau thêm một giờ lội bộ vất vả trên tuyết, Kolya vỗ trên vai tôi bằng những ngón tay đeo găng của hắn.
“Đạo Do Thái tin có đời sau không?”
Ngày hôm trước câu hỏi đó sẽ làm tôi khó chịu, nhưng bây giờ nghe thật tức cười, thật đúng là Kolya, đặt câu hỏi vì sự hiếu kỳ thành thật và đúng lúc.
“Tùy theo người nào. Ba của tao là người vô thần.”
“Còn má mày thì sao?”
“Má tao không phải người Do Thái.”
“Ồ, mày chỉ lai một nửa thôi. Chẳng có gì phải xấu hổ cả.
“Tao vẫn nghĩ mình có máu Gypsy từ tổ tiên nào đó truyền lại.”
Tôi quan sát hắn, Mắt xanh như mắt chó sói Siberia, tóc vàng lòa xòa phơi bày dưới chiếc mũ lông màu đen.
“Mày không có dòng máu gypsy.”
“Cái gì, đôi mắt hả? Thiếu gì người Gypsy mắt xanh trên thế giới, bạn ơi. Thôi bỏ đi, Tân Ước chẳng nói rõ ràng về vụ đó sao. Nếu theo Chúa Jesus, bạn sẽ vô nước thiên đàng; nếu không, chỉ có sa xuống hỏa ngục thôi. Nhưng Cựu Ước … Tao không nhớ có đề cập tới hỏa ngục không nữa.
“Địa Ngục.”
“Cái gì?”
“Thế giới dưới đó gọi là Địa Ngục. Một trong những bài thơ của Bố tao tên là ‘Những Song Sắt Của Địa Ngục’.”
Thật kỳ cục khi đề cập đến bố tôi và những tác phẩm của ông. Những lời nói này có vẻ không an toàn, như thể là tôi đang xưng tội và nhân viên công lực có thể nghe được. Mặc dù ở đây, Bộ Chính Trị chẳng có ảnh hưởng gì cả, tôi lo ngại sẽ bị bắt bớ, lo ngại những do thám ẩn núp trong bụi cây lạc diệp tùng kia. Nếu mẹ tôi ở quanh quẩn đâu đây chắc thế nào bà cũng bịt miệng tôi lại bằng cái nhìn dọa dẫm. Dù sao, nói về Bố cũng là điều hay. Nó làm tôi vui vẻ vì đề cập tới những bài thơ đó trong thì hiện tại mà nhà thơ đã là quá khứ rồi.
“Cái gì xảy ra trong Địa Ngục? Họ trừng phạt vì tội lỗi của mình?”
“Tao không nghĩ vậy. Mọi người đều phải đến đó, dù xấu xa hay thánh thiện. Chỉ có bóng tối lạnh lẽo và chúng ta chẳng còn gì ngoài linh hồn.”
“Có vẻ đúng đấy.” Hắn súc lên một nắm tuyết sạch sẽ và cắn một miếng, để cho nó tan trong miệng. “Mấy tuần trước tao thấy một người lính không có mí mắt. Anh ta là trưởng xa, chiếc chiến xa của anh ta bị hư nặng, đến khi tìm được anh ta, những người lính khác đã chết vì lạnh cả rồi. Còn anh ta, thân thể bị phỏng lạnh một nửa. Mất mấy ngón chân và ngón tay, một phần cái mũi, và mí mắt. Tao thấy anh ta nằm ngủ trong bệnh viện, tưởng đã chết rồi, mắt mở trừng trừng. Tao không biết nữa, sao gọi là mắt mở nếu không thể nhắm lại được. Làm sao có thể sống tỉnh táo được với mắt không có mí mắt. Mình có thể sống suốt đời mà không một lần nhắm mắt lại được? Tao thà mù còn hơn.
Tôi chưa từng thấy Kolya phiền muộn như thế. Tâm trạng hắn thay đổi thình lình khiến tôi lo lắng. Cả hai chúng tôi chợt nghe tiếng chó tru rất to; chúng tôi quay nhìn về phía rặng cây phong nghiêng ngả.
“Có phải chó không?”
Hắn gật đầu. “Nghe giống như vậy.”
Vài giây sau chúng tôi lại nghe tiếng chó tru lần nữa. Có cái gì thật là "người" trong tiếng tru cô đơn não nuột ấy. . Chúng tôi phải tiếp tục đi về hướng đông, và đến được Mga trước khi trời tối, nhưng Kolya bước về hướng chó tru và tôi theo hắn không lời phản đối.
Tuyết dày hơn và chẳng bao lâu đã cao đến đùi. Nghị lực tôi có được cách đây 10 phút giờ đã tan ra mây khói. Tôi cảm thấy mệt mỏi, cố chống chỏi với từng bước chân. Kolya đi chậm lại để tôi có thể theo kịp. Nếu hắn thiếu kiên nhẫn với tôi, hắn cũng chẳng tỏ ra.
Tôi cúi mắt xuống để nhìn rõ từng bước chân – bây giờ mà trật cổ chân là chết chắc – và tôi thấy rõ những dấu chân phía trước Kolya. Tôi kéo tay áo hắn để hắn dừng lại. Chúng tôi vừa tới bìa một khoảng đất trống trong rừng. Ánh sáng chói lọi của mặt trời phản chiếu từ những hec-ta (mẫu) tuyết lớn khiến tôi phải dùng tay che mắt lại. Hàng tá dấu xích chiến xa uốn lượn trên tuyết, dường như cả trung đoàn xe tăng đã đi ngang qua đây. Tôi không rành về dấu chiến xa bằng tiếng động cơ máy bay, tôi không phân biệt được chiến xa Sturmtiger của Đức và T-34 của Nga, nhưng tôi biết đây không phải là chiến xa của mình. Nếu có được chừng ấy chiến xa trong khu rừng này hẳn là vòng vây đã bị phá vỡ.
Có nhiều đống gì đó màu xám và nâu nằm rải rác trên tuyết. Mới đầu tôi tưởng đó là những đống áo choàng bị vứt lại, nhưng tôi thấy có cái đuôi lòi ra trên 1 trong những đống ấy, đống khác có một bàn chân thú vật, tôi mới hiểu đó là những con chó chết, ít ra cũng đến một tá. Chúng tôi lại nghe tiếng chó tru , rồi cuối cùng chúng tôi nhìn thấy con chó ấy, một con chó khoang đen trắng, loại chó giúp người chăn cừu, nó đang dùng hai chân trước kéo lê thân mình ra khỏi khoảng đất trống, để lại đàng sau một vệt máu dài hơn 100 mét, giống như một nét sổ màu đỏ của chiếc cọ sơn tạt chéo trên khung vải màu trắng.
“Mau lên,” Kolya giục tôi và bước vào khoảng đất trống trước khi tôi có thể ngăn hắn lại. Chiến xa mới đi khỏi đây không lâu; dấu xích in hằn trên tuyết rành rành, chưa bị lu mờ vì gió. Rõ ràng quân Đức mới ở đâu đây, nhưng Kolya không thèm để ý tới. Hắn đã đến giữa khoảng trống, bước về phía mấy con chó, và như thường lệ tôi cố gắng đuổi theo hắn.
Hắn cảnh giác tôi: “Đừng tới quá gần chúng.” Tôi không hiểu ý hắn muốn nói gì. Chắc sợ lây bịnh chăng? Hay mấy con chó sắp chết có thể cắn tôi?
Khi lại gần, tôi mới thấy một hộp gỗ cột trên lưng chó với dây ba chạc bằng da. Một cái cọc gỗ nhô lên từ cái hộp. Tôi đảo mắt chung quanh khoảng đấtvà thấy tất cả những con chó khác đều có tương tự.
Con chó bị thương không nhìn chúng tôi, nó đang cố gắng lê về phía bìa rừng xa đàng kia, nó nghĩ đến đó sẽ an toàn, hay thoải mái hơn, hay chỉ tìm một nơi yên tĩnh để trút hơi thở cuối cùng. Máu chảy ra từ hai lỗ đạn gần bên hông, một viên đạn khác chắc xuyên qua bụng, bởi vì có cái gì ướt và cuộn tròn dưới bụng nó, những bộ phận nội tạng sinh ra không phải để ra ngoài ánh sáng mặt trời. Nó thở hổn hển, chiếc lưỡi dài đỏ hỏn tòong teng ở một bên mõm, hai môi cuốn lại từ hàm răng vàng ởn.
Kolya nói: “Chúng nó là của tao, người ta huấn luyện chúng tìm đồ ăn dưới bụng chiến xa, rồi bắt chúng nhịn đói, khi đoàn chiến xa Panzers của quân Đức tiến tới, họ thả chúng ra. Bom sẽ nổ ầm.”
Thực ra, chẳng có con chó nào làm bom nổ cả. Tụi Đức đã biết rất rõ vụ này rồi; chúng đã báo động tụi lính thiện xạ trên chiến xa và tụi thiện xạ bắn rất giỏi. Chó chết rải rác trên mặt đất, nhưng không thấy xác xe tăng hay chiến xa, và cũng không một trái bom nào nổ cả. Lại một kế hoạch khôn ngoan của Nga bị thất bại và tôi hình dung ra đám chó đói đang chạy cật lực về phía chiến xa Đức, móng chân của chúng tung về phía sau những nắm tuyết, mắt chúng sáng rỡ lên và vui mừng vì sắp được bữa ăn đầu tiên trong nhiều tuần.
“Đưa cho tao con dao găm.” Kolya nói.
“Cẩn thận nghe.”
“Cứ đưa cho tao.”
Tôi lấy con dao từ cái bao và đưa cho hắn. Con chó tiếp tục lê mình về phia rừng, nhưng nó đã kiệt lực rồi. Cuối cùng nó cũng nằm yên khi nhìn thấy Kolya tiến lại gần, dường như nó nghĩ rằng thôi cũng đủ xa rồi. Nó nằm trên đống tuyết nhuộm máu, nhìn chăm chú Kolya với đôi mắt nâu mệt mỏi. Cái cọc gỗ dựng đứng từ chiếc hộp trên lưng như cột buồm của một chiếc thuyền. Nó mỏng manh không lớn hơn một cái dùi đánh trống.
Kolya thì thầm “Mày là đứa bé ngoan của tao”, hắn quỳ xuống bên cạnh con chó, giữ chặt phía sau cái đầu của nó với tay trái của hắn. “Mày là bé ngoan của tao.”
Kolya khứa cổ con chó với một động tác rất nhanh. Con chó rùng mình, một vòi máu phun lên từ cổ nó. Kolya đặt nhẹ đầu con chó xuống, nó co giựt trong vài dây, chân cào vào không khí, giống như một con chó nhỏ đang nằm mơ, rồi chết hẳn.
Chúng tôi im lặng một lúc, chào từ giã một con chó đã nằm xuống. Kolya chùi cả hai bên lưỡi dao trên tuyết, lau khô trên tay áo khoác của hắn, và trao lại cho tôi.
“Chúng ta đã mất 40 phút rồi. Thôi đi cho mau.”
Chương 13
Chúng tôi tăng tốc độ lội bộ nhanh gấp đôi qua khu rừng phong, đường rầy xe lửa ở bên trái, và mặt trời xuống thật nhanh.
Kolya không thốt một lời từ khi rời khỏi cánh đồng đầy xác chó. Tôi có thể nhận ra hắn đang lo lắng về thời gian; hắn đã tính toán sai tốc độ, chúng tôi có thể đi nhanh thế nào trên cánh đồng đầy tuyết, và sự la cà đã khiến chúng tôi không thể đến Mga trước khi trời tối. Thời tiết băng giá bây giờ còn nguy hiểm hơn tụi Đức nhiều và nhiệt độ đã bắt đầu xuống thấp thật nhanh. Nếu không có chỗ trú ẩn chúng tôi chết chắc.
Từ khi từ giã anh chàng Trung Sĩ giống người Tartar, chúng tôi không hề gặp ai khác, vừa đi vừa trông chừng khoảng cách với nhà ga xe lửa bị bỏ hoang ở Koloniya Yanino và Dubrovka. Dù từ một khoảng cách 200 thước chúng tôi cũng thấy được tượng Lenin đã bị giật sập bên ngoài nhà ga Dubrovka, với hàng chữ màu đen vẽ trên tường xi măng: STALIN IST TOT! RUSSLAND IST TOT! SIE SIND TOT!
Mới ba giờ chiều, mặt trời đã khuất sau mấy ngọn đồi phía Tây, đám mây xám phủ trên đầu chúng tôi tỏa ra những tia sáng màu cam. Tôi nghe tiếng rầm rì của động cơ máy bay, ngẩng đầu lên thì thấy 4 chiếc Messerschmitts đang bay vội về phía Leningrad, thật cao trên đầu chúng tôi, chẳng hại gì, giống như mấy con ruồi bu trái cây thôi. Tôi thắc mắc chúng sẽ bắn sập tòa nhà nào đây, hay chúng sẽ bị bắn hạ bởi đám lính dưới đất, hay phi công Nga ở trên trời. Chẳng liên quan gì tới mình, cuộc chiến này là của ai khác kia. Dù thả bom ở đâu, cũng không phải trên đầu tôi. Khi nhận ra ý tưởng đó là của chính mình, tôi bỗng thấy tội lỗi quá. Tôi thật là một đứa ích kỷ nhỏ nhen.
Chúng tôi vượt qua Berezovka, đó là cái địa danh lần đầu nghe được vào tháng 9 khi Hồng Quân và đội quân Wehrmacht của Đức đụng độ nhau bên ngoài khu làng. Theo báo chí kể lại, quân đội chúng tôi đã chống cự một cách anh dũng với chiến thuật khôn ngoan vượt hẳn bọn Đức khiến Hitler tức tối, ông ta đã theo dõi từng hoạt động từ phòng chỉ huy chiến tranh ở Bá Linh. Nhưng mà tất cả mọi người trong thành phố Leningrad đều biết cách đọc tin trên báo. Quân đội Nga bao giờ cũng; “Bình tĩnh và cương quyết,” còn tụi Đức bao giờ cũng:” Kinh ngạc bởi sự chiến đấu dũng cảm của chúng ta” – những câu này là bắt buộc phải có. Tin quan trọng nằm ở gần cuối cột báo, dấu trong đoạn kết. Nếu quân chúng ta “Rút lui để bảo toàn lực lượng,” chúng ta đã thua trận; nếu quân đội: “Hãnh diện hy sinh để đuổi giặc cướp nước,” chúng ta đã bị tàn sát.
Berezovks đã bị tàn sát. Theo báo chí, làng Berezovka nổi tiếng vì những thánh đường đã do chính Đại Đế Peter ra lệnh xây lên, và cây cầu nơi đó nhà đại thi hào Pushkin đã thách thức đối thủ chấp nhận một cuộc đấu tay đôi.
Những dấu tích lịch sử này không còn nữa. Berezovka đã biến mất. Chỉ còn vài bức tường cháy đen vẫn đứng vững trên nền tuyết; nếu không, chẳng còn gì đánh dấu làng Berezovka đã từng hiện hữu nơi đây.
“Bọn chúng thật điên khùng,” Kolya thốt lên trong khi chúng tôi đi vòng quanh những gì còn sót lại của một ngôi làng đã bị tiêu hủy. Tôi nhìn hắn, không hiểu hắn muốn nói tới ai.
“Bọn Đức. Tưởng là mình tài giỏi, kiến tạo một bộ máy chiến tranh vĩ đại nhất chưa từng có. Nhưng hãy nhìn lại lịch sử, đọc sách vở, những kẻ chinh phục thế giới bao giờ cũng cho kẻ địch một con đường thoát. Người ta có thể chống lại Thành Cát Tư Hãn và bị rơi đầu hay quy phục ông ta và chịu đóng thuế. Đó là một lựa chọn dễ dàng. Với tụi Đức, người ta có thể chống lại chúng và bị giết chết, hay đầu hàng và cũng bị giết chết. Chúng có thể biến một nửa nước Nga chống lại nửa kia, nhưng chúng không khôn ngoan; chúng không hiểu người Nga nghĩ gì; chúng chỉ muốn đốt sạch mọi thứ.”
Những điều Kolya nói, đúng với thực tế, chỉ vậy thôi, nhưng theo tôi, dường như tụi Đức không quan tâm đến một cuộc chinh phục với chính sách khôn ngoan. Chúng không muốn thay đổi tư tưởng của người khác, it nhất là những chủng loại thấp kém hơn. Dân Nga là một loại tạp chủng, sinh ra bởi đám Cướp Biển Bắc Âu (Viking) và Hung Nô, bị tụi Avar và Khazar, Kipchak và Pecheneg, Mông Cổ và Thụy Điển hãm hiếp hàng nhiều thế hệ, pha lẫn dòng máu tụi Bô Hê Miên (Gypsy) và Do Thái và cả bọn Thổ Nhĩ Kỳ tha hương. Chúng tôi là con cháu của những kẻ bại trận hàng ngàn lần, và sự thất bại đó đè nặng trên lưng chúng tôi. Chúng tôi không đáng có mặt trên cõi đời này. Tụi Đức tin bài học của Darwin về loài chim mockingbird – cuộc sống phải thích hợp với mọi hoàn cảnh hay chết. Chúng đã thích nghi với thực tế tàn bạo; chúng tôi, những kẻ tạp chủng say sưa trên đồng cỏ Nga vẫn chưa làm được như thế. Chúng tôi cam chịu, và tụi Đức chỉ thực hiện vai trò đã được chỉ định lãnh đạo cuộc tiến hóa của nhân loại.
Tôi chẳng nói ra những điều ấy, chỉ mỗi một câu, “Chúng cho tụi Pháp con đường thoát.”
“Tất cả những người đàn ông Pháp can đảm đều đã chết trên đường triệt thoái từ Mạc Tư Khoa vào năm 1812. Mày nghĩ tao nói đùa hả? Nghe đây, 130 năm trước đây họ có quân đội hùng mạnh nhất thế giới. Bây giờ họ là con đĩ của Âu Châu. Chỉ chờ bị hiếp bởi bất cứ kẻ nào có con cu cứng ngắc. Tao sai hả? Thế cái gì đã xảy ra cho họ? Borodino, Leipzig, Waterloo. Suy nghĩ lại xem. Lòng can đảm đã bị thổi mất khỏi gen của họ. Anh chàng bé nhỏ thiên tài Napoleon của họ đã thiến hết cả nước.”
“Không còn sáng nữa.”
Hắn nhìn lên bầu trời và gật đầu.
“Đến lúc đó, chúng ta có thể đào hầm trú ẩn ngủ qua đêm.”
Hắn đi lẹ hơn, tăng thêm tốc độ mặc dù tụi tôi đã đang đi rất nhanh, khoảng cách giữa hai chúng tôi kéo dài ra nhanh hơn và tôi biết chẳng bao lâu tôi sẽ phải bỏ cuộc thôi. Xúp gà tối hôm qua đã là dĩ vãng ngọt ngào; bánh mì khẩu phần tác chiến của Trung Sĩ tặng đã ăn hết từ trưa. Mỗi bước đi là một cố gắng vượt bực như thể đôi giày của tôi lót bằng chì.
Trời đã quá lạnh tới tận răng; mấy lỗ trám rẻ tiền co lại khi nhiệt độ xuống quá thấp. Tôi chẳng còn cảm giác ở mấy đầu ngón tay mặc dầu tôi mang găng tay bằng nỉ rất dày và dấu cả hai tay trong túi áo khoác ngoài. Cả chóp mũi tôi cũng vậy. Thật là một điều khôi hài – Tôi sống suốt thời vị thành niên ước mong được cái mũi nhỏ hơn; chỉquanh quẩn thêm vài giờ nữa trong khu rừng này là mũi tôi sẽ chẳng còn.
“Chúng ta sẽ làm hầm trú ẩn à? Bằng phương tiện gì? Mày có mang theo xẻng không?”
“Mình vẫn có tay, phải không? Và con dao găm nữa.”
“Phải kiếm chỗ nào thôi.”
Kolya trình diễn một màn tìm kiếm bằng cách nhìn chung quanh khu rừng tối om, như thể một cánh cửa nào đó có thể ẩn kín trong những cây thông cao kia.
“Không có nhà nào cả,” hắn nói. “Bây giờ mày là một chiến binh, tao vừa chỉ định mày, và chiến binh có thể ngủ bất cứ nơi nào hắn nhắm mắt được.”
“Nói hay lắm. Nhưng vẫn cần có chỗ chui vào.”
Hắn để bàn tay mang găng trên ngực tôi và trong một thoáng tôi tưởng hắn tức giận, chửi rủa vì tôi đã không can đảm qua một đêm đông ngoài trời. Nhưng hắn chẳng trách móc tôi gì cả; chỉ muốn tôi đứng yên. Hắn hất hàm hướng về một con đường mòn chạy song song với đường rầy xe lửa. Chỉ cách vài trăm thước thôi. Màn đêm đã buông xuống, nhưng cũng còn đủ ánh sáng để thấy một người lính Nga đứng quay lưng về phía chúng tôi, súng trường quàng trên vai.
Tôi thì thầm “Du kích hả?”
“Không, lính chính quy.”
“Có lẽ chúng ta đã chiếm lại Berezovka. Mộtcuộc phản công ư?
Kolya nói nhỏ “Có lẽ”. Chúng tôi tiến gần lại người lính gác, bước chân cẩn thận. Chúng tôi không biết mật khẩu và chẳng có tên lính nào với cây súng trường trên tay lại chờ xem chúng tôi có phải thật sự là người Nga không?
“Đồng chí!” Kolya la to lên khi chỉ còn cách 50 thước, hai tay dơ lên khỏi đầu. tôi cũng dơ lên như hắn.
“Đừng bắn! Chúng tôi đang thi hành nhiệm vụ đặc biệt.”
Người lính gác chẳng quay đầu lại. Nhiều chiến binh đã mất thính giác trong mấy tháng qua; tiếng nổ của đạn đại bác đã làm rách màng nhĩ của họ. Chúng tôi trao đổi ánh mắt và đi lại gần hơn.
Người lính đứng thẳng, tuyết ngập đến đầu gối. Anh ta đứng ngay đơ. Không một người còn sống nào lại đứng im như một pho tượng trong thời tiết khắc nghiệt như thế. Tôi đánh một vòng tròn, quan sát khu rừng, tin rằng đây là một cái bẫy. Chẳng có gì nhúc nhích ngoài mấy cành cây phong lay động vì gió đông.
Chúng tôi lại gần người lính. Khi còn sống, chắc anh ta phải mạnh như loài thú, với trán gồ lên và cổ tay to như một cán rìu bửa củi. Nhưng anh ta đã chết nhiều ngày rồi, da trắng như tờ giấy bọc chặt lấy cái sọ sắp sửa nứt ra. Một lỗ đạn nhỏ đã bị máu đông cứng đóng vảy, xuyên qua má, ngay dưới mắt trái. Một tấm biển gỗ treo trên cổ viết hàng chữ: “PROLETARIER ALLER LANDER, VEREINIGT EUCH!” bằng mực đen. Tôi không biết nói tiếng Đức, nhưng tôi hiểu câu đó nghĩa là gì, như tất cả trai gái Nga đều bị khốn khổ với những bài học duy vật biện chứng không bao giờ dứt: “Công nhân của thế giới đại đồng.”
Tôi gỡ tấm bảng khỏi cổ người lính chết, cẩn thận không để sợi dây kẽm đóng đá như chiếc bàn chải cào vào mặt anh ta, và vất nó đi. Kolya tháo chiếc dây đeo và xem xét khẩu súng: đó là khẩu súng trường Mosin-Nagant, cơ bẩm đã bị cong. Hắn thử lên đạn vài lần rồi lắc đầu, quăng khẩu súng xuống đất. Người lính mang một bao da đeo ngang hông với khẩu súng ngắn Tokarev; một sợi giây da xuyên qua cái lỗ trên cán cột chặt súng vào bao da. Người chết là một sỹ quan, một người chỉ huy bằng súng – cây súng ngắn Tokarev không phải để bắn tụi Đức, mà để thúc đẩy những người lính Nga không chịu tiến về phía trước.
Kolya khóa chốt tự động, mở dây da, xem xét cán súng, thấy kẹp đạn đã bị lấy mất. dây lưng mang đạn cũng chẳng còn viên nào. Kolya cởi nút áo choàng người lính và tìm thấy cái hắn đang muốn kiếm, một túi vải bố có nắp đậy bằng da và khóa sắt.
“Đôi khi ban đêm chúng tôi mang nó trong áo khoác ngoài” Kolya vừa nói vừa mở túi vải bố ra và lấy 3 kẹp đạn súng ngắn. “Cái khóa quá bóng, phản chiếu ánh sáng trăng.”
Hắn nạp một kẹp đạn vào súng và thử lên đạn. Súng vẫn còn tốt, cảm thấy hài lòng hắn nhét khẩu súng và đạn dược vào túi áo khoác ngoài.
Chúng tôi cố lôi xác chết ra khỏi tuyết, nhưng cái xác đã đông cứng dưới đất như cái cây mọc rễ. Trời nhá nhem làm nhòe tất cả màu sắc của khu rừng; màn đêm sắp sửa bao phủ chúng tôi; không còn thời giờ để quan tâm đến xác chết nữa.
Chúng tôi vội vã tiếnvề hướng đông, đi gần bên đường rày xe lửa, hy vọng bất cứ tên lính Đức nào di chuyển qua khu rừng đông đá cũng ngồi trong xe và rất dễ nghe thấy tiếng chuyển động từ ở xa. Mấy con quạ đã ngừng kêu và gió cũng không còn thổi mạnh. Chỉ có mỗi tiếng động của giày chúng tôi đạp lún trên tuyết và tiếng nổ đều đều như tiếng trống của đạn súng cối vọng lại từ xa chung quanh thành phố Peter. Tôi dấu mặt sau lớp len của khăn quàng cổ và cổ áo của chiếc áo khoác, cố dùng hơi thở ấm áp để sưởi ấm hai bên má. Kolya nắm chặt hai tay mang găng với nhau và kéo chiếc mũ lông đen thật thấp đến nỗi che gần hết hai con mắt.
Vài cây số về phía đông của Berezovka, chúng tôi đi men theo một nông trại lớn, cánh đồng gồ ghề đầy tuyết có những bức tường đá thấp chia ranh giới. những đống cỏ to như cái chòi tuyết bỏ bừa bãi trên cánh đồng, mùa gặt dở dang, nông dân đã chạy về phía đông hay chết cả rồi. Một căn nhà đá cũ kỹ ở tận phía xa của nông trại, những cành cây diệp lạc tùng cao tới gần 50 thước che ngọn gió bắc cho căn nhà. Ánh lửa vàng óng và ấm cúng hắt ra từ những cửa sổ có chấn song, đổ trên nền tuyết trước nhà. Khói đen bay lên từ ống khói lò sưởi, lờ mờ như một vết đen uốn cong in trên nền trời xanh thẫm. Đó là một căn nhà trông có vẻ hiếu khách chưa từng có, một căn nhà nghỉ mát miền quê của một ông tướng được Hoàng Đế sủng ái, ấm áp và chứa đầy thức ăn cho dịp Giáng Sinh, thịt nướng và bánh trái mà mọi người ưa thích.
Tôi ngước nhìn Kolya trong khi chúng tôi lê bước trên tuyết. Hắn lắc đầu nhưng mắt không rời căn nhà, và tôi có thể thấy được sự khao khát của hắn.
“Ý tưởng không tốt,” hắn nói.
“Nhưng còn hơn là lạnh chết cóng trên đường đi tới Mga.”
“Mày nghĩ xem ai ở trong đó? Một ông bá hộ miền quê, ngồi bên lò sưởi, vỗ về con chó cưng của mình? Nghe như cảnh trong câu chuyện khốn kiếp Turgenev? Tất cả mọi nhà trong thị trấn đều bị thiêu rụi, chỉ chừa cái nông trại này thôi. Sao vậy, may mắn hả? Bọn lính Đức đang ở trong đó, có thể là đám sỹ quan. Chúng ta sẽ tấn công vào nhà với cây súng ngắn và con dao găm ư?”
“Nếu chúng ta tiếp tục đi, thì sẽ chết. Nếu bước vô trong nhà đó, có bọn Đức, chúng ta cũng sẽ chết thôi. Nhưng nếu không phải bọn Đức –"
“Vậy, cho là người Nga đi,” hắn cãi lại. “Nghĩa là bọn Đức cho họ ở đó, nghĩa là họ hợp tác với tụi Đức, cũng nghĩa là họ là kẻ thù.”
“Vậy chúng ta dành thức ăn từ kẻ thù, được không? Và giường ngủ nữa chứ?”
“Hãy nghe tao, Lev, tao biết mày rất mệt mỏi. Tao biết mày bị lạnh cóng. Nhưng tin tao đi, hãy tin một thằng lính, chuyện đó không được đâu.”
“Tao không đi xa hơn nữa. Tao thà liều vào căn nhà đó.”
“Có thể kiếm được chỗ trong thị trấn sắp tới.”
“Làm sao mày biết được có thị trấn sắp tới? Thị trấn vừa đi qua là đống tro tàn. Phải đi bao xa nữa mới đến Mga, 15 cây số nữa phải không? Mày có thể đi được, còn tao thì không.”
Kolya thở dài, vuốt mặt bằng lưng của đôi găng tay bằng da, cố làm cho máu tiếp tục lưu thông.
“Tao thừa nhận rằng chúng ta không tới được Mga tối nay. Đó không còn là vấn đề nữa. Tao đã biết từ mầy giờ trước.”
“Mày đã không muốn cho tao biết hả? Còn bao xa nữa?”
“Còn xa lắm. Điều tệ hại là, tao nghĩ chúng mình đã đi sai đường.”
“Nghĩa là sao?”
Kolya vẫn chăm chú nhìn căn nhà trong nông trại và tôi phải đẩy nhẹ hắn để kéo về thực tại. “Mày nói chúng mình không đi đúng đường nghĩa là sao?”
“Đáng lẽ chúng ta phải đi ngang qua Neva từ lâu rồi. Và tao cho rằng Berezovka không nằm trên đường tới Mga.”
“Mày không nghĩ …tại sao không nói?”
“Tao không muốn mày hoảng loạn.”
Tôi không nhìn được cảm xúc trên khuôn mặt ngu đần của thằng Cossack vì trời tối om.
“Mày nói với tao Mga nằm trên đường đi Mạc Tư Khoa phải không?”
“Đúng vậy.”
“Mày bảo cứ đi theo đường xe lửa Mạc Tư Khoa là sẽ đến Mga.”
“Ừ, đúng thế.”
“Vây, chúng ta đang ở chỗ khốn nạn nào đây.”
“Berezovka.”
Tôi hít một hơi thở dài. Ước muốn có một nắm đấm thật mạnh để đập tan cái sọ dừa hắn ra.
“Còn tin vui là gì?”
“Xin lỗi, mày hỏi gì?”
“Mày nói tin xấu là chúng ta đi trật đường.”
“Chẳng có tin vui nào cả. Không phải cứ có tin xấu là đềucó tin vui.”
Chẳng còn gì bàn cãi nữa cho nên tôi bước về phía nông trại. Mặt trăng đã lên khỏi ngọn cây. Tuyết đóng băng vỡ vụn dưới bước chân tôi. Và nếu một tên Đức bắn sẻ nào đang nhắm vào đầu tôi, cầu mong cho hắn chính xác. Đói lắm rồi, nhưng tôi biết cách chống chỏi với cơn đói. Chúng tôi ai cũng thành thạo làm việc đó. Cái lạnh thì khủng khiếp, nhưng cũng quen rồi. Nhưng chân cẳng tôi đã chịu thua rồi. Chúng vốn rất yếu từ trước khi chiến tranh sảy ra, cặp chân tôi chẳng hợp với việc chạy nhẩy và tất cả những thứ khác cần sử dụng nó. Cuộc bao vây đã khiến chân tôi chỉ còn là cái cán chổi. Cho dù chúng tôi đi đúng đường, tôi cũng không thể nào đến được Mga. Tôi không thể đi thêm dù 5 phút nữa.
Nửa đường tới căn nhà trong nông trại, Kolya bắt kịp tôi. Hắn đã rút ra khẩu súng ngắn Tokarev và cầm trên tay.
“Nếu đã như vậy,” Kolya nói, “chúng ta không nên hành sự một cách ngu xuẩn.”
Hắn dẫn tôi ra phía sau căn nhà và bảo đứng trước cửa sau dưới mái hiên, nơi củi chất thành đống khô ráo và an toàn. Lúc này, dù là 3 kilo hộp trứng cá Beluga cũng không đáng giá bằng đống củi chất ngay ngắn, xếp chéo vào nhau cao hơn đầu tôi.
Kolya len lỏi đến một cửa sổ mờ vì hơi nước và dòm vào bên trong, chiếc mũ Astrakhan bằng lông màu đen bóng, nhấp nhoáng ánh lửa. Bên trong nhạc trỗi lên từ chiếc máy hát quay dĩa – bản nhạc jazz trình tấu bằng dương cầm, có lẽ là nhạc Mỹ.
“Ai ở trong đó?” tôi hỏi nhỏ. Hắn dơ bàn tay lên ra dấu im lặng. Hắn có vẻ sững sờ nhìn thấy cái gì trong đó, và tôi tự hỏi phải chăng lại chạm trán với bọn ăn thịt người trong vùng nhà quê ngập tuyết này, hay là những phần còn lại của cả gia đình đã bị chặt ra từng khúc, họ đã từng sống trong căn nhà này.
Nhưng mà Kolya đã từng đối phó với bọn ăn thịt người trước đây và hắn đã thấy rất nhiều xác chết. Phải là cái gì rất mới, cái gì không thể ngờ được, và sau 30 giây, tôi không còn tuân lệnh nữa, tiến lại gần cửa sổ với hắn, cẩn thận không đụng vào những cục nước đá đọng trên xà ngang. Tôi nép mình bên cạnh hắn và nhìn chăm chú qua phía dưới tấm kiếng cửa sổ.
Hai cô gái trong bộ đồ ngủ nhảy theo theo đĩa hát nhạc jazz. Hai nàng còn rất trẻ và dễ thương, không hơn tuổi tôi, cô bé tóc vàng dìu cô tóc nâu. Cô nàng rất xanh xao, cổ và má đầy tàn nhang, lông mày và lông mi rất nhợt nhạt, nếu nhìn nghiêng một bên sẽ chẳng thấy gì. Cô gái tóc xậm người nhỏ nhắn hơn, vụng về, không nhảy đúng nhịp khi có một đoản khúc. Răng của nàng quá lớn so với cái miệng và hai cánh tay hơi mập mạp, da nhăn ở cổ tay như em bé. Nếu cô dạo phố Nevsky trong lúc thanh bình thì chẳng ai thèm để ý đến cô, nhưng bây giờ có điều thật ngoại lai kỳ lạ về cô gái đẫy đà đó. Có kẻ đầy quyền lực nào đó yêu và cung phụng cho nàng.
Tôi quáng mắt vì quang cảnh nhảy nhót của hai nàng mà trong một lúc tưởng rằng chỉ có hai cô gái mà thôi. Còn hai nàng nữa nằm xấp trên tấm da gấu màu đen trải trước lò sưởi. Cả hai kê cằm của họ trên bàn tay, khuỷu tay chống trên tấm thảm đang chăm chú quan sát cuộc khiêu vũ với đầy cảm xúc trên mặt. Một nàng trông như sắc dân Chechen, cặp lông mày gần như nối vào nhau trên mũi, môi sơn màu đỏ tươi, tóc bới cao và bọc ngoài bằng một chiếc khăn ướt, dường như mới tắm xong. Cô kia có cổ cao đài các của một vũ công, mũi cao và thẳng tạo thành một góc 90 độ hoàn hảo, nếu nhìn nghiêng, tóc nâu cột thành đuôi ngựa phía sau.
Bên trong nhà trông giống như một căn nhà gỗ làm nơi nghỉ mát để săn bắn. Mấy cái đầu thú trang trí trên tường phòng đại sảnh: gấu nâu, heo rừng, sơn dương với cặp sừng xoăn tít và bộ râu lởm chởm. Một con chó sói và một mèo rừng độn treo bên lò sưởi, trong tư thế đang rình mồi, miệng mở rộng, răng nanh trắng nhởn. Đèn cầy thắp sáng trên giá treo trên tường.
Kolya và tôi nép mình bên ngoài cửa sổ và quan sát bên trong cho đến khi bản nhạc chấm dứt và cô gái người Chechen đứng dậy thay đĩa nhạc.
“Chơi lại bản đó đi,” cô gái tóc vàng lên tiếng. Tiếng nói bị ngăn cách bởi cửa kính nhưng vẫn nghe được dễ dàng.
Cô kia nói “Làm ơn đừng chơi lại nữa! kiếm bản nào tôi quen như của Eddie Rozner chẳng hạn.”
Tôi quay nhìn Kolya. Trông đợi một nụ cười ngây ngất của hắn vì quang cảnh bất ngờ như không có thật mà chúng tôi đã gặp giữa nơi hoang dã đầy tuyết. Thay vào đó là vẻ mặt hung dữ, đôi môi mím lại, ánh mắt tức giận.
Hắn nói “Đủ rồi,” đứng dậy và đi vòng về phía cửa trước. Một dĩa nhạc mới vừa bắt đầu, lại điệu jazz, tiếng kèn đồng làm nhạc cụ chính cho ban nhạc trong một nhịp hân hoan vui vẻ.
“Chúng ta vào chứ? Tao nghĩ bọn họ có thức ăn. Tao nhìn thấy vài thứ --“
“Tao bảo đảm họ có nhiều thức ăn.”
Hắn gõ cửa. Nhạc tắt ngúm. Vài giây trôi qua, cô gái tóc vàng xuất hiện ở cửa sổ có song sắt bên cạnh cửa chính. Nàng nhìn chúng tôi một hồi lâu không nói tiếng nào mà cũng không nhúc nhích.
“Chúng tôi là người Nga,” Kolya lên tiếng. “Mở cửa ra.”
Cô nàng lắc đầu. “Các người không nên tới đây.”
“Tôi biết,” hắn nói, trong khi dơ cao khẩu súng ngắn cho cô gái thấy rõ. “Nhưng chúng tôi đã tới, mở cửa ra, mẹ kiếp.”
Cô gái tóc vàng quay lại phía đại sảnh. Nàng thì thầm cái gì đó với ai đứng khuất phía sau và lắng nghe tiếng trả lời. Gật đầu, nàng quay nhìn chúng tôi lần nữa, hít một hơi dài, và mở cửa ra.
Bước vào bên trong có cảm giác như bước vào bụng cá voi, một nơi ấm áp nhất tôi có được từ mấy tháng nay. Chúng tôi theo nàng vào đại sảnh, ba cô gái kia đứng thành một hàng trông rất bối rối, những ngón tay vân vê tà áo ngủ. Cô bé tóc nâu với cánh tay đầy đặn sắp sửa khóc; môi dưới run lên khi cô nhìn chăm chú khẩu súng ngắn trên tay Kolya.
“Còn ai khác không?” hắn hỏi.
Cô gái tóc vàng lắc đầu.
“Khi nào chúng nó tới?”
Mấy cô gái trao đổi ánh mắt.
“Ai?” cô bé gốc Chechen hỏi.
“Các cô đừng giỡn với tôi. Tôi là sỹ quan của Hồng Quân, đang thi hành nhiệm vụ đặc biệt.”
“Còn anh kia cũng là sỹ quan hả?” cô gái tóc vàng hỏi, trong khi nhìn tôi. Dù nàng không thật sự cười cợt, nhưng tôi nhìn thấy ánh mắt diễu cợt của nàng.
“Không, anh ta không phải là sỹ quan, anh ta là lính –“
“Một người lính? Thật hả? Bao nhiêu tuổi rồi, bé cưng?”
“Mười chín,” tôi trả lời, đứng rất nghiêm. “Tháng tư tới sẽ hai mươi tuổi.”
“Xì, cậu chưa được 19 tuổi đâu,” Cô gái người Chechen nói.
“Cao lắm là 15 tuổi thôi,” cô tóc vàng đáp.
Kolya lên đạn cây súng ngắn – một tiếng động gây chú ý trong căn phòng yên tĩnh. Cử chỉ đó mang đầy kịch tính, nhưng Kolya có cách làm cho nó mất kịch tính đi. Hắn chĩa nòng súng xuống nền nhà và nhìn vào mặt từng cô gái, một cách chậm rãi.
“Chúng tôi từ xa đến đây,” hắn nói. “Ông bạn tôi đây rất mệt mỏi. tôi cũng vậy. Cho nên tôi hỏi lại một lần nữa, một lần cuối cùng, khi nào chúng tới?”
“Chúng thường đến vào nửa đêm,” cô tóc nâu mập mạp trả lời. Mấy cô kia nhìn nàng ta chăm chú nhưng không nói tiếng nào. “Sau khi tác xạ xong.”
“Đúng vậy không? Thì ra sau khi bọn Đức chán bắn đại bác vào chúng tôi trong thành phố Piter, chúng đến đây ngủ đêm và các cô chăm sóc cho chúng?”
Về vài phương diện nào đó, tôi thật ngu đần. Tôi không nói ra vì khiêm tốn đâu. Tôi tin mình thông minh hơn một người trung bình. Nhưng mà thông minh không thể chỉ nhìn vào một phương diện duy nhất, như nhìn cái đồng hồ đo tốc độ, nhưng phải nhìn tất cả các đồng hồ khác như tốc độ máy, đồng hồ cây số, đồng hồ cao độ, và tất cả những đồng hồ đo khác. Cha tôi thường khoe với bạn bè rằng người dậy tôi đọc lúc 4 tuổi, nhưng khả năng học Pháp ngữ của tôi rất kém hay trí nhớ tồi tệ về những ngày thắng trận của danh Tướng Suvorov làm cha tôi thất vọng. Cha tôi là một thiên tài, ông có thể đọc thuộc lòng bất kỳ đoạn thơ nào của Eugene Onegin, thông thạo Pháp và Anh ngữ, giỏi về vật lý đến nỗi các giáo sư đại học của ông phải than thở rằng việc ông thích thi phú hơn là một điều hơi đáng tiếc. Tôi ước mong các vị giáo sư đáng lẽ phải lôi cuốn ông nhiều hơn. Đáng lẽ phải giải thích cho ông về vật lý, cho một học trò sáng chói như ông về tại sao hình thể của vũ trụ và trọng lượng của ánh sáng lại quan trọng hơn những câu thơ không vần về mấy tên lừa đảo và những kẻ phá thai trong thành phố Leningrad.
Cha tôi chắc đã hiểu rõ cái gì đã xảy ra trong căn nhà của nông trại khi mới nhìn qua cửa sổ bằng kính dù chỉ mới 17 tuổi. Cho nên tôi cảm thấy mình thật dại khờ khi hiểu ra rằng tại sao mấy cô gái này lại ở đây, ai đã cung cấp thức ăn cho họ và bảo đảm họ có đủ củi đốt chất đầy dưới hiên nhà.
Cô tóc vàng trừng mắt nhìn Kolya, cánh mũi phập phồng, nước da ửng hồng dưới những chấm tàn nhang.
“Anh …,” cả một lúc cô không nói thêm được một tiếng nào, vô cùng tức giận khiến nàng nghẹn lời. “Anh vào đây và mạt sát chúng tôi? Hỡi người hùng của Hồng Quân? Lâu nay anh ở đâu, anh và đội quân của anh? Tụi Đức đến đây và đốt sạch cả, lúc đó đội quân của anh ở đâu? Chúng bắn chết mấy em trai tôi, cha tôi, ông nội tôi và tất cả mọi đàn ông trong thị trấn, trong khi các anh hèn nhát trốn ở nơi khác … Anh tới đây và chĩa súng vào người tôi sao?
“Tôi không nhắm vào bất cứ ai cả,” Kolya trả lời. Đó là một lời giải thích lạ lùng yếu xìu do hắn thốt ra, và tôi biết hắn đã thua cuộc đấu khẩu rồi.
“Tôi làm mọi cách để bảo vệ em gái tôi,” nàng nói trong lúc gục gặc đầu về phía cô gái tóc nâu. “Làm tất cả. Các anh đáng lẽ phải bảo vệ chúng tôi. Hồng Quân oai hùng, Vệ Quốc Quân của Toàn Dân! Lúc đó các anh ở đâu?”
“Chúng tôi chiến đấu với chúng nó – “
“Các anh chẳng bảo vệ được ai cả. Các anh đã bỏ rơi chúng tôi. Nếu chúng tôi không sống trong thành phố, tất nhiên không quan trọng, phải vậy không? Mặc kệ chúng bắt đám nông dân, phải không?”
“Một nửa số người trong đơn vị tôi đã chết vì chiến đấu – “
“Một nửa? Nếu tôi là tướng quân, tất cả lính của tôi phải chết trước khi để một tên Đức bước vào đất nước chúng ta!”
“Hừ,” Kolya nói, và trong vài giây không nói thêm tiếng nào. Cuối cùng hắn đút khẩu súng vào túi. “Tôi rất mừng cô không phải là tướng quân.”
Chương 14
Chẳng bao lâu chúng tôi đã làm hòa với bọn con gái mặc dù lúc mới gặp không được êm đẹp lắm. Chúng tôi cần nương tựa lẫn nhau. Đã hai tháng rồi, bọn họ chưa được tiếp xúc với thế giới bên ngoài, họ không có máy thu thanh nên rất nóng lòng muốn biết tình hình cuộc chiến ra sao. Khi nghe tin quân Nga đã thắng trận chiến ngoại ô Mạc Tư Khoa, Galina, cô gái trẻ tóc nâu, cười với cô chị, Nina, trong khi gục gặc cái đầu làm như thể cô ta đã tiên đoán được như vậy. Mấy cô gái hỏi thăm về thành phố Leningrad, nhưng họ không quan tâm về con số bao nhiêu người chết trong tháng Chạp hay khẩu phần bánh mì được cấp phát hàng tháng cho mỗi người như thế nào. Họ đến từ những làng quê bé nhỏ đã bị tàn phá hơn Piter rất nhiều, cho nên những câu chuyện thương tâm về một thành phố chưa bị chinh phục chỉ làm họ chán ngán. Họ chỉ muốn biết Lâu Đài Mùa Đông có còn đứng vững không (vẫn còn), pho tượng đồng Kỵ Sĩ đã bị đốn ngã chưa (chưa bị), và một cửa hàng nào đó trên đại lộ Nevsky Prospekt còn đứng vững sau cuộc tấn công không, cửa hàng chắc là nổi tiếng vì bán những đôi dày đẹp nhất trên đất Nga (cả hai chúng tôi đều không biết và cũng chẳng quan tâm).
Chúng tôi chẳng đặt nhiều câu hỏi với bọn họ vì hiểu rất rõ hoàn cảnh của các cô mà không cần dựa vào nhiều chi tiết. Trai tráng trong thị trấn đã bị tàn sát. Rất nhiều cô gái trẻ đã bị đưa đi về hướng Tây để làm việc như những nô lệ trong các nhà máy của Đức. Một số chạy thoát được về hướng Đông, tay bế tay bồng, vượt qua hàng trăm cây số, hy vọng đi nhanh hơn cuộc tiến quân của lính Đức. Những người con gái trẻ đẹp nhất không được phép theo chị em đi về phía Đông hoặc Tây. Họ phải ở lại đây để phục vụ xác thịt cho quân xâm lăng.
Chúng tôi ngồi trên sàn nhà gần lò sưởi. Đặt vớ và bao tay trên bệ để hong khô và sưởi ấm. Đổi lại những tin tức, mấy cô gái cho chúng tôi nước trà nóng, vài lát bánh mì đen, và hai củ khoai tây nướng. Khoai tây đã được cắt ra sẵn. Kolya cắn một miếng và nhìn tôi. Tôi cũng cắn một miếng và nhìn Galina, khuôn mặt nàng dễ thương và cánh tay tròn trịa. Nàng ngồi dựa lưng vào cạnh đá của lò sưởi, hai tay dấu dưới đôi chân trần.
“Có bơ trong đó phải không?” Tôi hỏi nàng.
Cô bé gật đầu. Đúng là mùi vị khoai tây, không phải thứ khoai tây nẩy mầm, khô héo, đắng ngắt chúng tôi đã ăn trong thành phố Piter. Một củ khoai tây còn tươi với bơ và muối có thể đổi được ba trái lựu đạn, hoặc một đôi giày da lót nỉ trong chợ trời Haymarket.
“Chúng có bao giờ mang trứng gà lại đây không?” Kolya hỏi.
“Một lần thôi,” Galina trả lời.” Chúng tôi làm trứng chiên.”
Kolya cố ra hiệu bằng mắt với tôi, nhưng tôi chỉ quan tâm tới củ khoai tây trộn bơ tôi đang có thôi.
“Trại lính ở gần đây không?”
” Sỹ quan ở trong căn nhà bên bờ hồ, trong Novoye Koshkino.” Lara trả lời. Nàng trông giống người thuộc sắc dân Chechen nhưng thực sự lai Tây Ban Nha.
“Đó là một thị trấn hả?”
“Đúng vậy, thị trấn của tôi.”
“Chắc chằn tụi sỹ quan có trứng hả?”
Tôi nhìn hắn. Tôi đã quyết định nhai củ khoai tây thật thong thả, để thưởng thức được lâu. Chúng tôi đã may mắn được hai bữa ăn tối trong hai ngày liên tiếp, hôm trước là xúp gà, và hôm nay là khoai tây. Tôi không hy vọng có may mắn lần thứ ba. Tôi nhai rất cẩn thận và chú ý khuôn mặt của Kolya để có thể nhận ra bất cứ ý định dại dột nào của hắn.
“Tôi không biết bây giờ chúng có trứng không,” nàng cười cợt một chút. “Thật sự anh thèm trứng lắm phải không?”
“Đúng vậy.” hắn nói, mỉm cười với nàng, hai đồng tiền hiện trên má. Kolya biết cách cười thế nào để khoe má lúm đồng tiền đẹp nhất. “Tôi đã thèm trứng gà từ tháng Sáu vừa rồi. Các cô biết chúng tôi tới đây với mục đích gì không? Chỉ để tìm trứng gà thôi!”
Câu diễu lạ lùng của hắn khiến mấy cô gái cười thật to.
“Các anh tổ chức đội dân quân kháng chiến hả?” Lara hỏi.
“Chúng tôi không thể bàn về công vụ.” Kolya trả lời. “Nhưng có thể nói bọn Đức sẽ có một mùa đông rất dài.”
Đám con gái nhìn lẫn nhau, chẳng lấy gì làm hứng thú với lời khoa trương ấy. Họ đã nhìn Quân Đội Đức tận mắt hơn Kolya nên đã có ý niệm ai sẽ thắng trận chiến này.
“Từ đây đến Novoye Koshkino bao xa?’ hắn hỏi.
Lara nhún vai. “Không xa, 6,7 cây số.”
“Đó có thể là một mục tiêu tốt,” hắn nói với tôi, một cách cố tình thờ ơ, trong khi nhai lát bánh mì đen. “Lựa bắt một vài tên sĩ quan Wehrmacht, chúng sẽ thành rắn không đầu ngay.”
“Chúng không phải lính chính quy Wehrmacht,” Nina lên tiếng. Cách cô ta phát ngôn khiến tôi phải ngước lên nhìn. Nàng chẳng phải là cô gái chết nhát, nhưng điều cô ta vừa nói đã làm chính cô ta sợ hãi. Cô em gái của nàng, Galina, nhìn chăm chú vào ngọn lửa, miệng cắn vào môi dưới. “Chúng là đội quân ám sát Einsatzgruppen.”
Dân nga đã học được bài học vỡ lòng về quân đội Đức từ hồi tháng Sáu. Chỉ qua một đêm, vài chục danh từđã mau chóng trở nên quen thuộc trong đời sống hàng ngày như: Panzers (xe tăng), Junkers (máy bay), Wehrmacht (Quân Đội chính quy), Lutwaffe (không quân), Blitzkrieg (càn quét), Gestapo (Mật Vụ Đức) và tất cả những danh từ viết hoa khác. Einsatzgruppen, khi tôi mới nghe được, cũng chẳng có vẻ ác độc như một vài tên khác. Nghe như tên của một kế toán viên khó tính trên một sân khấu hài kịch diễu dở vào thế kỷ thứ 19. Nhưng rồi nó không còn mang vẻ khôi hài nữa, nhất là sau khi tôi đọc được vài bài báo, nghe dăm bài tường thuật trên đài phát thanh, hay những câu chuyện trò lọt vào lỗ tai. Einsatzgruppen là những biệt đội săn người của Đức Quốc Xã, những sát thủ đó được tuyển chọn trong hàng ngũ quân đội chính quy, Biệt Đội Waffen-SS, và Gestapo. Chúng được chọn theo tiêu chuẩn giết người tàn bạo một cách hiệu quả và mang dòng máu Aryan thuần chủng. Khi quân Đức xâm lăng một nước nào đó, biệt đội Einsatzgruppen sẽ theo sau những toán quân chiến đấu, chờ khi bình định xong đất vừa chiếm, chúng sẽ săn lùng những mục tiêu đã chọn: Cộng Sản, Gypsies, Trí Thức, và dĩ nhiên cả Do Thái nữa. Tuần nào tờ báo Sự Thật và Sao Đỏ đều in những tấm hình mới chụp hàng đống người Nga bị sát hại vừa đào được từ hầm chôn tập thể. Đàn ông bị bắn vào ót sau khi đã tự đào mồ cho mình. Chắc chắn thế nào cũng có những cuộc tranh cãi xẩy ra trong tòa soạn rằng có nên cho đăng những hình ảnh có thể làm mất ý chí chiến đấu đó không. Nhưng những hình ảnh bệnh hoạn đó làm sáng tỏ một điều: số phận của chúng ta sẽ như vậy nếu thua cuộc chiến. Cái giá mà chúng ta phải trả.
“Có phải bọn sĩ quan Einsatzgruppen thường đến đây ban đêm?” Kolya hỏi.
“Đúng vậy,” Nina trả lời.
“Tôi không hiểu chúng có quan tâm đến những vụ pháo kích không,” tôi lên tiếng.
“Chúng thường chả để ý. Chỉ là trò chơi thôi. Chúng đánh cá với nhau. Mỗi đêm nhắm bắn một vài tòa nhà nào đó trong thành phố, tụi phi công thả bom cho chúng biết tòa nhà nào trúng đạn. Cho nên tại sao tụi tôi lại hỏi về Lâu Đài Mùa Đông. Đó là tòa nhà tất cả bọn chúng luôn muốn bắn sập. “
Tôi liên tưởng đến khu chung cư Kirov đã bị tàn phá, nghĩ đến Vera Ospovna, hai anh em song sinh Antokolsky, không biết họ có bị vật liệu đổ nát đè chết ở đó không hay vẫn còn sống sót dưới đống xi măng cốt sắt, chỉ để chết từ từ và cầu khẩn sự cứu giúp, trong khi khói và hơi đốt làm họ nghẹt thở trong đống đổ nát đó. Cũng có thể họ bị chết vì một tên Đức nào đó đang đóng quân trong rừng, vừa nhấm nháp chai rượu mạnh được chuyền tay nhau vừa đùa giỡn với đám sĩ quan bạn cho nên đọc nhầm tọa độ cho anh pháo thủ trẻ. Trái đạn 17 phân đường kính đáng lẽ nhắm vào Dinh Thự Mùa Đông lại rơi trúng khu chung cư màu xám xấu xí của tôi.
“Bọn chúng nó đến đây bao nhiêu người?”
Nina đưa mắt nhìn mấy cô kia, nhưng chẳng ai quan tâm. Galina cậy những vảy da tưởng tượng trên lưng bàn tay. Một khúc củi đang cháy rớt ra khỏi bệ sắt, Lara dùng cái giá sắt đẩy nó vào phía trong xa của lò sưởi. Olesya, cô gái cột tóc đuôi ngựa, chẳng thèm nói một lời từ khi chúng tôi bước vào nhà. Tôi không hiểu cô ta mắc cỡ, hay bị câm bẩm sanh, hoặc là bọn Einsatzgruppen đã cắt mất lưỡi cô ta. Nàng gom những dĩa và ly uống trà rồi mang ra khỏi phòng.
“Tùy theo từng đêm,” cuối cùng Nina trả lời. Nàng nói giọng bình thường như thể đang bàn về một ván bài. “Đôi khi không ai tới cả. Có khi 2 hay 4, hoặc nhiều hơn nữa.”
“Chúng lái xe?”
“Vâng, vâng, dĩ nhiên rồi.”
“Chúng ở lại đêm?”
“Thỉnh thoảng. Không thường xuyên.”
“Và chúng không bao giờ đến lúc ban ngày?”
“Một hay hai lần.”
“Này, xin lỗi cho tôi hỏi câu này, thế cái gì làm các cô không rời bỏ nơi đây?”
“Bộ anh nghĩ dễ lắm sao?” Nina hỏi lại, phiền lòng vì câu hỏi, vì ám chỉ bóng gió.
“Không dễ,” Kolya nói. “Nhưng mà tôi và Lev đi khỏi thành phố Piter từ lúc bình minh, bây giờ đã ở đây.”
“Tụi Đức mà các anh đang chiến đấu, những kẻ đã chiếm một nửa xứ sở chúng ta, anh nghĩ chúng ngu lắm sao? Anh nghĩ chúng để mặc bọn tôi ở đây một mình, để chúng tôi chỉ cần mở cửa và đi bộ về thành phố Piter?”
“Tại sao không? Tai sao các cô không thể làm như vậy?”
Tôi có thể thấy câu hỏi của hắn tác động trên khuôn mặt của các cô gái, tia giận dữ trong mắt Nina, sự xấu hổ của Galina khi cô nàng đang nhìn chăm chú vào bàn tay trắng trẻo mịn màng của mình. Đã quen Kolya vài ngày, tôi hiểu hắn chỉ thực sự tò mò, chứ không phải hành hạ họ bằng cách thẩm vấn. Nhưng mà tôi vẫn muốn hắn câm ngay miệng lại.
“Kể cho anh ta nghe về Zoya,” Lara nói.
Nina có vẻ khó chịu về lời khuyên đó. Nàng nhún vai và giữ im lặng.
“Họ nghĩ rằng chúng ta hèn nhát,” Lara thêm vào.
“Mặc kệ họ nghĩ sao thì nghĩ,” Nina trả lời.
“Được rồi, tôi sẽ kể. Còn một cô gái nữa tên là Zoya.”
Galina đứng dậy, phủi áo ngủ, bước ra khỏi đại sảnh. Lara không quan tâm.
“Tụi Đức thích cô ta. Cứ mỗi tên Đức tới kiếm tôi thì có 6 tên khác tới kiếm cô ta.”
Lời kể sống sượng của Lara khiến tất cả chúng tôi cảm thấy khó chịu. Rõ ràng là Nina muốn theo các cô gái khác rời khỏi phòng, nhưng nàng vẫn ở yên tại chỗ, mắt đảo quanh, nhìn tất cả mọi thứ, trừ Kolya và tôi.
“Cô ta 14 tuổi. Cha và mẹ của cô đều có chân trong Đảng Cộng Sản. Tôi không biết họ làm gì, nhưng tôi đoán chắc là chức vụ quan trọng. Bọn Sát Thủ Đức tìm được họ, mang ra đường xử bắn, và treo xác trên cột đèn để mọi người trong thị trấn đều thấy điều gì xảy ra cho cán bộ Cộng Sản. Chúng mang Zoya tới đây cùng lúc với chúng tôi, vào khoảng cuối tháng 11. Trước đó có nhiều cô gái khác. Chỉ vài tháng chúng đã chán chúng tôi. Nhưng Zoya vẫn là người được ưa thích nhất. Cô ta thật bé bỏng và rất khiếp sợ chúng. Tôi đoán chúng nó thích điều đó. Chắc chúng an ủi cô ‘Đừng sợ, tôi không làm hại cô đâu, Tôi không để ai ăn hiếp cô,’ đại loại như thế. Nhưng cô ta đã nhìn thấy cha mẹ bị treo trên cột đèn. Bất cứ ai trong bọn chúng đụng đến cô, cũng có thể là người đã bắn cha mẹ cô, hoặc ra lệnh làm như vậy.”
“Chúng ta đều có chuyện thương tâm” Nina lên tiếng. “Cô ta hoảng loạn.”
“Đúng rồi, cô ta hoảng loạn. Cô bé mới 14 tuổi; cô ta sợ hãi. Còn cô thì không, dù sao thì cô cũng còn có em, cô không cô đơn.”
“Cô ấy còn có chúng tôi.”
” Không đâu,” Lara trả lời, “Cái đó thì khác. Mỗi đêm sau khi chúng nó đi rồi, cô bé khóc mãi. Khóc cả mấy tiếng dồng hồ, cho đến khi thiếp đi, có khi không ngủ. Tuần đầu tiên, chúng tôi có gắng an ủi cô bé. Chúng tôi ngồi bên cô, nắm tay cô, kể chuyện cho cô bé nghe, bất cứ chuyện gì giúp cô nín khóc. Nhưng vô ích. Có bao giờ anh dỗ một đứa bé đang lên cơn sốt không? Anh thử đủ mọi cách: anh ôm nó trong tay, anh đánh đưa nó, hát cho nó nghe, cho nó uống cái gì thích nhất; vô ích, chẳng có gì thành công. Cô bé chẳng bao giờ nín khóc. Và sau một tuần chúng tôi không còn thương hại cô bé nữa. Chúng tôi nổi điên. Nina nói đúng: mỗi người trong chúng tôi đều có một hoàn cảnh thương tâm. Chúng tôi đều mất gia đình. Không ai ngủ được với tiếng khóc của Zoya. Sang tuần lễ thứ hai, chúng tôi mặc kệ. Cô ngủ phòng nào chúng tôi đều qua phòng khác. Cô bé biết chúng tôi giận dữ, dù chẳng nói một lời, nhưng cô biết. Rồi bỗng nhiên cô thôi khóc. Như thể cô cho là đã khóc đủ rồi. Trong ba ngày, cô bé rất im lặng, không tiếng khóc, đè kín trong lòng. Và sáng ngày thứ tư, cô bé biến mất. Chúng tôi không biết cho đến khi bọn sĩ quan trở lại. Chúng nhảy luân vũ và say khướt, hát lên tên của cô bé. Tôi đoán chúng thường đánh cá, và kẻ thắng sẽ được ăn nằm với Zoya trước. Chúng thường mang bạn bè ở các đơn vị khác đến gặp cô, chụp hình cô. Bây giờ cô biến mất. dĩ nhiên là chúng chẳng tin bọn tôi. Chúng tôi nói với họ rằng chúng tôi không biết gì cả, như vậy tôi cũng tự gọi mình là kẻ nói dối. Nếu chúng tôi biết chuyện gì đã xảy ra, hy vọng có thể sẽ nói dối giúp cô bé. Chúng tôi cầu xin là đã có thể làm như vậy. Tôi không biết chúng tôi có làm không.”
“Dĩ nhiên là chúng ta đã có thể làm được,” Nina nói.
“Tôi không biết nữa. Nhưng mà chuyện đó không quan trọng. Chúng đi săn lùng cô bé, Abendroth và đám bộ hạ. Hắn là thượng cấp của chúng, tôi không biết cấp bậc, có lẽ Thiếu tá?” Nàng nhìn Nina dò hỏi, cô ta chỉ nhún vai. “Tôi đoán là Thiếu Tá. Hắn không phải là kẻ lớn tuổi nhất, nhưng là người ra lệnh. Chắc hắn làm việc rất rành nghề. Lần nào tới đây, hắn cũng luôn luôn là kẻ trước tiên được ăn nằm với cô bé, dù đôi khi có cả một Đại Tá từ đơn vị khác đi theo, cô bé là của riêng hắn. Khi xong việc với cô bé, hắn đến ngồi bên lò sưởi và uống rượu. Luôn luôn là rượu mạnh Plum Schnapps của Đức. Hắn nói tiếng Nga rất hoàn hảo. Và tiếng pháp nữa, Hắn ở Ba-Lê hai năm.”
Nina nói: “Một người trong bọn chúng nói với tôi, hắn rất giỏi về việc săn lùng, tiêu diệt những người cầm đầu kháng chiến quân, cho nên đã trở thành thiếu tá trẻ nhất trong đội quân Einsatzgruppen.”
“Hắn thích chơi cờ vua với tôi,” Lara nói. “Tôi chơi cờ kể ra cũng thuộc hạng khá. Abendroth chấp tôi quân đầm và đôi khi quân đầm lẫn quân chốt, nhưng chưa bao giờ đi quá hai mươi nước đã bị thua hắn, cả những khi hắn say khướt, mà hắn thì say sưa thường xuyên. Nếu tôi …nếu tôi bận, hắn sắp bàn cờ và chơi một mình cả hai phía.
“Hắn là tên tồi bại nhất trong bọn,” Nina nói.
“Đúng rồi, ban đầu tôi không nghĩ vậy. Nhưng sau vụ Zoya xảy ra thì đúng hắn là tên khốn nạn nhất. Chúng đã dùng chó săn để theo vết chân cô bé trong rừng, chỉ sau vài giờ chúng đã bắt lại được. Cô bé đi chẳng được bao xa. Cô yếu đuối quá… vốn đã bé nhỏ lại chẳng ăn uống gì từ khi đến đây. Chúng mang cô bé về đây, xé hết quần áo ra. Cô bé trông giống như một con thú rừng, bẩn thỉu, đầu tóc đầy lá cây, vết thâm tím khắp thân thể ở những nơi chúng hành hạ cô bé. Chúng cột tay và chân cô bé lại. Abendroth bắt tôi lấy chiếc cưa bên cạnh đống củi. Chúng nó đoán ra rằng tôi là người đã giúp cô bé vì khi Zoya chạy trốn, cô bé đã lấy áo choàng và đôi ủng của tôi. Tôi không biết lúc ấy tôi nghĩ gì, tôi chỉ tưởng là hắn muốn dùng để cắt dây thừng. Tưởng rằng chúng chẳng làm hại cô bé vì chúng thích cô ta lắm.”
Tôi nghe một tiếng khóc nghẹn ngào và thấy Nina gãi trán, bàn tay che mắt, đôi môi mím chặt cố gắng giữ im lặng.
“Bốn người chúng nó đè chặt hai tay và hai chân cô bé. Cô ta không chống lại. Làm sao cô bé có thể chống cự lại chúng? Với thân xác chỉ nặng 40 kilo… Cô bé nghĩ rằng chúng sắp sửa giết cô, và cô chẳng cần; cô muốn chết, cô đang chờ đợi cái chết. Nhưng chúng chưa muốn giết cô. Abendroth bảo tôi đưa cái cưa cho hắn. Nó không lấy cái cưa từ tay tôi, nó muốn tôi đặt cái cưa vào tay nó. Nó muốn tôi hiểu rằng… tôi đã đưa cái cưa cho nó. Chúng tôi đều có mặt trong phòng này, Nina, Galina, Olesya và tôi. Chúng tôi bị cưỡng bách phải ở lại và phải chứng kiến cuộc hành hạ, đó là hình phạt dành cho chúng tôi vì đã giúp cô bé trốn đi và bây giờ chúng tôi phải nhìn. Cả bọn Đức đều hút thuốc, chúng đã lội trong thời tiết lạnh giá để đi kiếm cô bé. Trong phòng đầy khói thuốc. Zoya có vẻ bình thản, hình như còn mỉm cười nữa. Bây giờ cô bé đã ra ngoài tầm tay bọn chúng, chẳng còn làm gì được cô. Nhưng cô đã lầm. Abendroth cúi xuống và thì thầm bên tai cô. Tôi không biết nó đã nói gì. Nó cầm lưỡi cưa gỗ đặt hàng răng cưa trên cổ chân cô và bắt đầu cưa. Zoya … Có lẽ tôi sẽ sống một thời gian dài, không hẳn như vậy, nhưng vẫn có thể, và tôi sẽ không thể nào quên được tiếng gào thét đó. Bốn thằng lực lưỡng đè xuống, cô bé gầy nhom chỉ còn xương, nhưng cô đã chống cự lại, và người ta có thể thấy chúng nó gồng người lên để đè cô xuống. Nó cưa từng chân cô bé. Một thằng chạy ra khỏi phòng … nhớ nó tên gì không Nina? Tôi quên mất tên nó rồi. Nó không bao giờ trở lại đây nữa. Abendroth cưa cái chân còn lại và cô bé không ngừng kêu la. Tôi tưởng sẽ không bao giờ còn trở lại người bình thường sau khi chứng kiến cảnh đó, thật là ngoài sức chịu đựng của tôi. Và khi nó đứng lên, bộ quân phục của nó dính đầy máu, máu của cô bé trên tay nó, trên mặt nó – và nó hơi cúi chào chúng tôi. Mày nhớ không? như thể vừa làm xong một màn trình diễn ngoạn mục cho chúng tôi coi. Nó nói, ‘Đây là cái gì xảy ra cho những đứa con gái bỏ trốn.’ Chúng bỏ đi hết, thế là xong, để chúng tôi lại với khói thuốc lá và Zoya rên rỉ trên sàn nhà. Chúng tôi cố gắng băng bó chân cô bé cho khỏi chảy máu nhưng máu mất quá nhiều.”
Khi Lara ngừng kể, cả căn nhà hoàn toàn yên lặng. Nina khóc âm thầm, quẹt nước mũi bằng lưng bàn tay. Một tiếng nổ lách tách trong lò sưởi làm bung lên những tàn lửa lên ống khói. Những nhánh cây tùng cọ xào xạc trên mái nhà. Tiếng bom nổ vọng lại từ hướng tây tít đàng xa, giống như sự rung chuyển hơn là tiếng động, tiếng run rẩy của cửa kiếng, tiếng rung động trong ly nước.
“Chúng đến lúc nửa đêm phải không?” Kolya hỏi.
“Thường là như vậy.”
Tính theo chiếc đồng hồ bằng sứ treo trên lò sưởi, chúng tôi còn sáu giờ nữa. Thân thể tôi đã mỏi nhừ sau khi lội bộ trên tuyết cả ngày, nhưng tôi biết mình sẽ không ngủ nổi, sau khi nghe câu chuyện về Zoya, và biết được bọn Einsatzgruppe sắp đến đây.
“Sáng mai,” Kolya nói với Lara và Nina, “tôi muốn các cô đi về thành phố. Tôi sẽ cho các cô địa chỉ để tạm trú.”
“Chúng tôi ở đây an toàn hơn là về thành phố,” Nina trả lời.
“Sau tối hôm nay thì không còn an toàn nữa.”
Chương 15
Lara dẫn chúng tôi tới một căn phòng nhỏ ở đằng sau căn nhà, tôi nghĩ đó là nơi nghỉ ngơi của những người giúp việc trong thời quân chủ. Nàng mang theo một chân đèn bằng đồng có hai ngọn nến còn cháy sáng và đặt trên bàn viết. Tường làm bằng những tấm ván ép gỗ thông trống trơn không trang trí, không có khăn trải giường trên tấm nệm của chiếc giường ngủ hai tầng, tôi suýt vấp ngã trên những tấm ván lót thềm nhà đã bị cong, nhưng căn phòng thật ấm cúng. Nhìn qua mấy khung cửa sổ nhỏ thấy bên ngoài trời sáng trăng soi rõ một nhà kho nhỏ để chứa dụng cụ làm vườn và một chiếc xe cút kít nằm nghiêng một bên trên nền tuyết.
Tôi ngồi lên tấm nệm thấp và rà tay trên tên một người khắc trên tường. ARKADIY. Tôi thầm hỏi chẳng biết cách nay bao lâu Arkadiy đã từng sống trong căn phòng này, và bây giờ ông ta ở đâu, một cụ già đang run rẩy ở một nơi nào đó trong đêm giá lạnh hay chỉ là nắm xương tàn trong nghĩa địa nhà thờ. Ông ta xử dụng dao rất thành thạo, cái tên ARKADIY của ông khắc bằng hoa văn tinh tế trên nền gỗ sậm mầu với những nét nghiêng và vòng cong xoắn xuýt, thêm một gạch đáy mạnh mẽ nổi bật dưới hàng tên.
Lara và Kolya đồng ý với nhau một dấu hiệu – tiếng gõ của chiếc muỗng trên cái xoong để báo hiệu bao nhiêu tên Đức đến tham dự cuộc vui đêm nay. Khi nàng vừa rời khỏi, Kolya lấy cây súng ngắn ra và bắt đầu tháo rời từng bộ phận, bày cẩn thận từng cái trên bàn viết, kiểm soát xem có gì hư hỏng không và lau chùi sạch sẽ bằng cánh tay áo của hắn trước khi ráp lại.
“Mày đã bắn ai bao giờ chưa?” tôi hỏi hắn.
“Tao không biết nữa”
“Thế nghĩa là sao?”
“Nghĩa là tao đã bắn cây súng trường hàng trăm lần, có thể một viên đạn nào đó đã trúng ai, tao không biết.” Hắn nạp băng đạn trở lại vào báng cây súng tự động. “Khi tao bắn Abendroth, chắc chắn tao sẽ biết.”
“Có lẽ chúng mình nên rời khỏi đây bây giờ.”
“Chính mày là người muốn vào đây mà.”
“Chúng mình chỉ cần nghỉ ngơi và ăn uống. Bây giờ tao thấy khỏe lắm rồi.”
Hắn quay lại nhìn. Tôi đang ngồi trên giường, hai tay dấu dưới đùi, áo khoác ngoài banh ra phía sau.
“Có thể tám đứa chúng nó đến,” tôi nói. “Chúng ta có mỗi một cây súng.”
“Và một con dao.”
“Tao không thể ngừng nghĩ về Zoya.”
“Vậy thì tốt lắm,” hắn nói. “Hãy nghĩ đến cô ta khi mày thọc lưỡi dao vào bụng nó.”
Hắn ném cái áo khoác ngoài trên chiếc nệm cao nhất và leo lên đó, ngồi bắt tréo chân, để cây súng bên cạnh. Hắn lôi cuốn sổ nhật ký ra từ túi áo khoác. Cây viết chì chỉ còn lại bằng một cái móng tay , nhưng hắn ghi nốt nhanh như bình thường.
“Tao không làm nổi,” tôi nói, sau một hồi yên lặng. “Tao không nghĩ rằng có thể đâm lưỡi dao vào bất kỳ ai.”
“Vậy thì tao phải bắn hết cả lũ chúng nó. Đã bao lâu rồi nhỉ, 11 ngày từ khi tao đi cầu lần cuối? Mày nghĩ kỷ lục là bao nhiêu?”
“Có thể dài hơn thế nhiều.”
“Tao tự hỏi không biết nó sẽ như thế nào khi cuối cùng tống nó ra được.”
“Kolya … Tại sao mình không bỏ đi thôi? Dẫn mấy con nhỏ ấy về thành phố. Mình làm được mà. Bọn họ có nhiều thức ăn mình có thể mang theo. Máu sẽ luân lưu điều hòa trở lại. Mang thêm nhiều chăn ấm.”
“Hãy nghe tao nói. Tao biết mày sợ hãi. Mày có quyền sợ hãi. Chỉ những đứa điên khùng mới bình tĩnh ngồi trong căn nhà biết rằng bọn Einsatzgruppen sắp sửa tới. Nhưng mà đó là cái chúng mình hằng mong đợi. Đúng đêm nay. Chúng đang muốn đốt rụi thành phố của chúng ta; để chúng ta đói đến chết. Nhưng chúng ta là hai cục gạch của thành phố Piter. Không ai có thể thiêu rụi cục gạch, hay bắt cục gạch nhịn đói tới chết được.
Tôi ngắm cái hứng nến trong chân đèn, ngắm những bóng đen phản chiếu nhảy nhót trên trần nhà.
Cuối cùng tôi hỏi hắn: “Mày nghe những lời ấy từ đâu vậy?”
“Câu nào, những cục gạch? Ông Thiếu Úy của tao. Sao vậy? không thích thú hả?”
“Mày nói năng được lắm cho đến khi tao nghe câu ấy.”
“Tao thích những cục gạch. ‘Không ai có thể thiêu rụi cục gạch, hay bắt cục gạch nhịn đói tới chết được.’ Hay lắm. Nhịp nhàng lắm.”
“Cũng cái ông Thiếu Úy đã đạp trúng mìn phải không?”
“Đúng vậy, tội nghiệp. Thôi quên chuyện những cục gạch đi. Tao hứa với mày, chú sư tử nhỏ, chúng ta không chết ở đây đâu. Chúng ta sẽ giết vài tên lính Đức và chúng ta sẽ tìm được trứng gà. Tao có chút máu Gypsy; có thể tiên đoán được tương lai.”
“Đừng có xạo, mày làm gì có chút máu Gypsy nào trong người.”
“Tao sẽ năn nỉ xin Đại Tá mời chúng ta dự lễ cưới con gái Ông ta.”
“A. Mày yêu cô bé rồi.”
“Đúng vậy. Tao tin rằng tao thật sự yêu nàng. Nàng có thể chỉ là con chó khờ, nhưng tao yêu nàng. Tao muốn cưới nàng và nàng chẳng bao giờ phải nói một tiếng nào. Nàng không cần nấu ăn cho tao; nàng không phải đẻ con cho tao. Chỉ cần trượt tuyết thoát y trên sông Neva, đó là tất cả cái gì tao muốn. Quay vài vòng trên cái miệng há hốc của tao.”
Nó làm tôi quên sự sợ hãi trong vài giây, nhưng chẳng được lâu. Tôi không nhớ được có khi nào tôi đã không sợ hãi, nhưng tối hôm đó, sự sợ hãi ghê gớm hơn từ trước tới nay. Có nhiều khả năng làm tôi sợ hãi. Có thể tôi sẽ xấu hổ vì hèn nhát lần nữa, hành động rụt rè trong khi Kolya sắp phải chiến đấu với tụi Đức – chỉ khác là lần này tôi biết chắc hắn sẽ chết. Có thể tôi sẽ phải trải qua những đau đớn mà Zoya đã bị hành hạ, những răng cưa sẽ gặm nhấm qua da thịt và xương cốt của tôi. Và phần lớn là sự chết. Tôi không thể hiểu được nhiều người cho rằng sự sợ hãi lớn nhất của họ là nói chuyện trước công chúng, nhền nhện, hay những khủng hoảng nhỏ nhoi khác. Có cái gì đáng sợ hơn là sự chết? Tất cả những cái khác đều cho ta một lối thoát: Một người bại xụi vẫn có thể đọc Dickens; một kẻ lãng trí vẫn có những giây phút ngắn ngủi cảm nhận vẻ đẹp điên khùng.
Tôi nghe tiếng cọt kẹt của những chiếc lò so nệm ngủ, nhìn lên thấy Kolya nhoài người ra khỏi tấm nệm và nhìn xuống tôi, mái tóc vàng lòa xòa rũ xuống. Hình như hắn đang lo lắng cho tôi, bỗng nhiên tôi muốn khóc. Chỉ còn mỗi một người đã thông cảm sự sợ hãi của tôi, mỗi một người biết tôi vẫn còn sống sót và tôi sẽ có thể chết đêm nay, chính là tên lính đào ngũ xa lạ, khoác lác, chỉ mới gặp cách nay ba hôm, một đứa con Cossacks, người bạn cuối cùng của tôi.
“Cái này sẽ làm mày vui vẻ hơn,” hắn nói đồng thời liệng vào lòng tôi một bộ bài tây.
Thoạt nhìn nó cũng giống như những cỗ bài khác, cho đến khi tôi lật mặt kia lên. Mỗi cây bài là một hình đàn bà. Có những hình khỏa thân hoàn toàn, có những hình chỉ mang dây lưng và nịt ngực có viền đăng ten, những trái đào tiên vĩ đại chường hẳn ra ngoài bàn tay nâng ngực, những cặp môi hé mở trước ống kính.
“Tao tưởng phải đánh bại mày trong ván cờ vua mới có những thứ này.”
“Nhẹ tay nhé. Đừng làm quăn mấy cái góc. Những thứ này gởi đến từ tận Marseille đó.”
Hắn ngó tôi xào qua những quân bài hình khỏa thân, mỉm cười thấy tôi chú ý đến một vài mẫu người.
“Thế nào, còn những cô gái ở đây thì sao? Bốn người đẹp. Chúng ta sẽ thành người hùng sau đêm nay, mày có nhận ra điều này chưa? Bọn họ sẽ mê chúng ta tít thò lò đấy, mày thích em nào? “
“Sau đêm nay, chúng mình đã chết mất rồi còn gì.”
“Ông bạn ơi, thành thật mà nói, đừng có cái giọng đó nữa.”
“Tao nghĩ, tao thích cái cô be bé với cánh tay tròn ủm.”
“Galina? Được lắm. Cô nàng giống như một con bê con, nhưng mà cũng tốt thôi, tao thông cảm với mày.”
Hắn im lặng một lúc lâu trong khi tôi chiêm ngưỡng tấm hình một cô gái ở trần, mặc quần cỡi ngựa, đang phát chiếc dây đuổi bò.
“Nghe đây, Lev, sau khi mọi sự xong xuôi đêm nay, hứa với tao mày sẽ làm quen với con bê con của mày nghe. Đừng chạy trốn như thằng bé mắc cỡ nghe. Tao nói chuyện đàng hoàng đó. Con bé thích mày. Tao thấy em nhìn mày đắm đuối.”
Tôi biết chắc rằng Galina chẳng hề nhìn tôi như vậy. Cô ta nhìn Kolya thì có, cả bọn con gái đều nhìn hắn, hắn hiểu rất rõ mà.
“Thế còn thờ ơ một cách có tính toán thì sao? Mày nói trong truyện The Courtyard Hound, bí quyết để chiếm trái tim người đàn bà…”
“Có một điều khác biệt giữa lãnh đạm và lôi cuốn một người đàn bà. Mày cám dỗ nàng với sự bí ẩn. Nàng muốn mày theo đuổi nàng, nhưng mày chỉ chạy vòng vòng chung quanh thôi. Cách làm tình cũng vậy. Những kẻ tay mơ chỉ muốn tụt quần nàng ra và đẩy cái đó vào trong nàng như cố gắng phóng cái lao vào con cá vậy. Nhưng người từng trải biết cách đùa giỡn, vòng vo bên nàng, khi ẩn khi hiện, lúc gần lúc xa.”
“Kế này thật hay,” tôi nói, trong khi cầm một cây bài có hình người đàn bà đang trong tư thế đấu bò, tay cầm chiếc áo choàng màu đỏ, chẳng mặc gì cả trừ chiếc mũ montera trên đầu.
“Đó là hình tao thích nhất. Khi tao bằng tuổi mày, chắc phải xả ra đầy hai chục chiếc bít tất khi ngắm nàng.”
“Trong cuốn Sự Thật Cho Những Kẻ Khai Phá có nói rằng, thủ dâm làm hỏng tinh thần cách mạng.”
“Không nghi ngờ gì nữa. Nhưng mà như Proudhon đã nói …”
Tôi không bao giờ được biết Proudhon đã nói gì. Hai tiếng leng keng của chiếc muỗng đồng gõ trên chiếc bình cũng bằng đồng, cắt ngang lời nói của Kolya. Cả hai chúng tôi đồng ngồi bật dậy trên giường.
“Chúng nó đến sớm,” hắn thì thầm.
“Chỉ có hai đứa thôi.”
“Chúng chọn lầm đêm đến đây với rất ít đồ phụ tùng.” Khi vừa nói ra, tiếng gõ lại vang lên – một, hai, ba, bốn.
“Sáu,” tôi nói nhỏ.
Kolya vung chân ra cạnh nệm và nhẹ nhàng nhảy xuống đất, cây súng ngắn trong tay. Hắn thổi tắt ngọn nến, nheo mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, nhưng chúng tôi ở căn phòng đối nghịch với cửa chính, nên chẳng thấy gì. Chúng tôi nghe tiếng cửa xe đóng rất mạnh.
“Mình sẽ làm như thế này,” hắn nói với tôi, nhỏ nhẹ và trầm tĩnh. “Chúng ta chờ đợi. Để chúng thư thả, ấm áp, uống vài ly rượu. Chúng sẽ cởi quần áo ra, nếu mình may mắn, chúng sẽ không có súng ống trong tầm tay. Nhớ rằng, chúng không đến đây để bắn nhau. Chúng đến đây để hưởng khoái lạc, thưởng thức mấy cô gái. Mày có nghe không? Chúng ta có lợi thế.”
Tôi gật đầu. Mặc hắn nói gì đi nữa, tôi tính nhẩm trong đầu thấy chỉ toàn là bất lợi. Sáu tên Đức và hai đứa tôi. Mấy đứa con gái có giúp chúng tôi không? Họ đã chẳng động chân tay giúp Zoya, nhưng họ có thể làm gì được cho Zoya? Sáu tên Đức và tám viên đạn trong khẩu súng ngắn Tokarev. Hy vọng Kolya là tay thiện xạ. Sự sợ hãi như dòng điện lan ra trong cơ thể tôi, làm bắp thịt tôi co rút và miệng tôi khô khốc. Tôi cảm thấy mình tỉnh táo hơn bao giờ hết. Trong lúc này, tại căn nhà của nông trại ngoại ô thị trấn Berezovka, tôi đang sống những giây phút thực đầu tiên của cuộc đời và tất cả những gì xảy ra trước đó chỉ là một giấc ngủ chập chờn. Các giác quan của tôi nhậy bén hơn một cách phi thường, cho tôi những tin tức cần thiết để đối phó với sự biến động. Tôi có thể nghe được tiếng lạo xạo của những đôi giày ủng đạp trên tuyết đông cứng. Tôi có thể ngửi được mùi lá thông cháy trong lò sưởi, đó là cách người ta thường làm để ướp mùi thơm trong nhà.
Tiếng súng trường làm chúng tôi giật mình. Chúng tôi đứng im lặng trong bóng tối, cố suy đoán xem cái gì đang xảy ra. Vài giây sau, nhiều tiếng súng nữa tiếp theo. Tiếng lính Đức hét lên gọi nhau, hoảng hốt, lẫn lộn.
Kolya chạy tới cửa cái. Tôi muốn bảo hắn khoan đã, để nhắc nhở hắn về kế hoạch hành động của chúng tôi là chờ đợi, nhưng tôi không muốn bị cô lập trong khi súng nổ ran ngoài kia và bọn Đức gào thét những tiếng tục tỉu.
Chúng tôi chạy ra đại sảnh và lăn xuống đất khi một viên đạn xuyên qua chiếc cửa sổ song sắt. Bốn cô gái đã nằm xấp trên nền nhà, hai tay che mặt để tránh bị mảnh kiếng văng trúng .
Tôi đã sống trong cảnh chiến tranh hơn nửa năm, nhưng chưa bao giờ giáp mặt với chiến trận như thế này và không có ý niệm ai đang đánh nhau ngoài kia. Tôi có thể nghe được tiếng nổ chát chúa của khẩu súng máy ở ngay bên ngoài nhà. Tiếng súng trường nổ cắc bụp dường như từ ngoài bìa rừng. Đầu đạn nện vào tường đá của căn nhà.
Kolya bò tới gần Lara và huých khuỷu tay vào nàng.
“Ai đã bắn chúng nó vậy?”
“Tôi không biết.”
Chúng tôi nghe tiếng xe nổ máy. Cửa đóng mạnh, và chiếc xe vọt đi, bánh xe quay tít trên tuyết. Tiếng súng trường càng khẩn cấp hơn, liên tiếp nhau, đạn xuyên qua cửa sắt khác xa với tiếng chạm trên mặt tường đá.
Kolya lom khom len lỏi về phía cửa chính, đầu cúi thấp hơn khung cửa sổ. Tôi lần theo hắn. Chúng tôi quỳ gối dựa vào cánh cửa chính. Kolya kiểm soát lại cây súng của hắn lần cuối. Tôi rút con dao găm ra khỏi bao da cột dưới cổ chân. Tôi biết tôi trông thật buồn cười khi cầm con dao đó, giống như một chú bé con cầm con dao cạo râu của cha mình. Kolya nhếch mép nhìn tôi như thể hắn sắp sửa cười to nhạo báng tôi. Tôi nghĩ bụng, thật lạ lùng. Tôi đang ở giữa chiến trường, và tôi biết mình đang loanh quanh suy nghĩ rằng tôi trông thật khờ dại với con dao găm cầm trong tay trong khi tất cả những người khác đều có súng trường hay súng máy. Ngay lúc này, đang khi đạn bay chằng chịt như một bày ong vò vẽ vỡ tổ, tôi cũng không thoát khỏi sự suy nghĩ loanh quanh trong đầu.
Kolya đặt tay trên nắm cửa và xoay từ từ.
“Khoan đã,” tôi nói. Chúng tôi đứng yên trong vài giây. “Yên lặng cả rồi.”
Cuộc đấu súng đã ngưng lại thình lình. Tiếng máy xe vẫn nổ đều đặn, nhưng không nghe tiếng bánh xe lăn. Tiếng nói của bọn Bọn Đức cũng thình lình yên lặng như tiếng đạn nổ. Kolya liếc nhìn tôi và từ từ mở cửa, chỉ hé ra một chút đủ để dòm ra ngoài. Trăng cao và sáng vằng vặc, soi rõ mặt đất hung hiểm: Lính cảm tử Đức Einsatzkommandos trong áo choàng màu trắng nằm dài úp mặt trên tuyết và một chiếc xe Kubelwagen lăn từ từ trên lối đi đầy tuyết, cửa sổ bị bể, máy bốc khói. Một người chết ở ghế trước, nửa mình trườn ra ngoài cửa xe, tay vẫn còn cầm cây súng ngắn bán tự động. Chiếc xe thứ hai đậu chéo góc, bên cạnh nhà, chưa hề chuyển động. Hai tên Đức nằm giữa chiếc xe và căn nhà, đầu tuôn máu đông đặc trên tuyết. Tôi vừa nhận ra những cú bắn đó thật chính xác của một tay bắn sẻ thiện xạ, khi một viên đạn bay xuyên qua khoảng cách giữa đầu Koyla và đầu của tôi, xé gió như âm thanh phát ra từ giây đàn căng thẳng. Cả hai chúng tôi té ngửa ra và Kolya đẩy cánh cửa đóng lại bằng chiếc giầy của nó. Hắn cong hai bàn tay quanh miệng làm loa và hét qua cửa sổ bằng kính bị bể bên cạnh cửa chính.
“Chúng tôi là người Nga! Ê! Ê! Chúng tôi là người Nga!”
Vài giây yên lặng trôi qua, rồi một giọng nói trả lời từ xa:” Theo tao, mày là một tên Đức Khốn nạn!”
Kolya cười lớn, đấm vào vai tôi rất vui vẻ.
“Tôi tên là Nikolai Alexandrovich Vlasov!” Hắn hét lên qua cửa sổ. “Quê ở Engels Prospekt!”
“Tên đó thường quá, một tên Đức học tiếng Nga vài năm cũng có thể phịa ra được!”
“Engels Prospect!” một giọng nói khác la lên. “Bất kỳ thành phố khốn nạn nào trên đất Nga mà chả có.”
Kolya nắm áo tôi lắc mạnh và cười rất sảng khoái, chẳng phải nguyên cớ nào khác hơn là kích thích tố dâng cao trong huyết quản, hắn vẫn còn sống và sung sướng quá độ nên cần phải làm một cái gì đó. Hắn bò tới gần chiếc cửa sổ, tránh những miếng kiếng bể trên sàn nhà.
Hắn hét vọng ra ngoài, dùng những tiếng lóng mà chỉ những người lớn lên trên đất Nga mới hiểu nổi, diễu cợt với đám người bên bìa rừng. Cuối cùng bồi thêm một câu:” Mẹ của mấy Bố muốn làm gì thì con cũng thỏa mãn cho các mẹ!”
Im lặng một hồi lâu im lặng, nhưng Kolya dường như chẳng quan tâm. Hắn cười khúc khích tán thưởng câu nói diễu của mình, nháy mắt với tôi như là một cựu chiến binh trong trận chiến Thổ Nhĩ Kỳ đang trao đổi những lời nhục mạ với chiến hữu của mình trong nhà tắm hơi.
“Thế nào, nghe được không?” Hắn hét thật to. “Mấy bố có nghĩ rằng một người học tiếng Nga vài năm có nói được như vậy không?”
“Mày vừa nói đến mẹ nào của chúng tao vậy?” Tiếng nói có vẻ gần lại hơn.
“Không phải tay súng thiện xạ đâu, một người trong các bố là thiên tài xử dụng súng trường đó.”
“Ông bạn có mang súng trong người không?” tiếng từ bên ngoài vọng vào.
“Một cây súng ngắn Tokarev.”
“Còn ông bạn bé nhỏ thì sao?”
“Chỉ có dao găm thôi.”
“Cả hai ông bạn bước ra ngoài. Dơ tay lên cao nếu không bạn tôi sẽ bắn rụng mấy hòn bi nho nhỏ của các người đó.”
Lara và Nina đã bò ra phía trước gần cửa chính trong khi Kolya nói chuyện, áo ngủ của họ lóng lánh những mảnh kiếng vụn văng ra từ chiếc của sổ bị bắn bể.
“Họ đã giết chết hết bọn chúng?” Nina thầm thì.
“Cả 6 đứa,” tôi bảo nàng. Tôi tưởng đám con gái sẽ hài lòng, nhưng họ nhìn nhau lo âu khi biết như vậy. Cuộc sống trong mấy tháng nay của họ đến đây là chấm dứt. Họ sẽ phải chạy trốn mà không biết sẽ ăn ngủ ở đâu. Hằng triệu người Nga cũng nói như vậy, nhưng bọn con gái này thì tệ hại hơn nhiều. Nếu tụi Đức bắt lại, họ sẽ chịu hành hạ nặng nề hơn cả Zoya.
Khi Kolya với tới nắm cửa, Lara nắm lấy chân hắn, khiến hắn phải chờ đợi một chút.
“Đừng,” nàng nói. “Bọn họ không tin anh đâu.”
“Tại sao không? Tôi là lính Hồng Quân.”
“Đúng, nhưng mà họ không phải. Chẳng có đơn vị Hồng Quân nào trong phạm vi 30 cây số chung quanh đây. Họ sẽ nghĩ anh là tên đào ngũ.”
Hăn mỉm cười và đặt bàn tay hắn trên tay nàng.
“Cô thấy tôi có giống kẻ đào ngũ không? Đừng lo. Tôi có giấy tờ đàng hoàng.”
Giấy tờ chẳng gây ấn tượng gì với Lara. Đang khi Kolya với tới nắm cửa một lần nữa, nàng bò gần lại phía cửa sổ.
“Cám ơn đã cứu chúng tôi, đồng chí.” Nàng la to lên. “Hai người trong này là bạn của chúng tôi. Làm ơn đừng bắn họ.”
“Cô nghĩ là tôi đã bắn hụt cái đầu tóc vàng to tướng đó nếu tôi muốn nhắm vào nó. Bảo ông bạn nói chuyện diễu bước ra đây.”
Kolya mở cửa và bước ra ngoài, hai tay dơ cao lên trời. Hắn lướt mắt trên mặt tuyết nhưng vẫn không thấy đám kháng chiến quân đâu.
“Bảo cả chú bé con bước ra ngoài.”
Lara và Nina trông thật là sợ hãi cho tôi, nhưng Lara gật đầu, có ý khuyến khích tôi rằng mọi sự rồi sẽ êm xuôi thôi. Tôi bỗng cảm thấy tức giận nhất thời với cô gái: Tại sao cô không bước ra ngoài đi? Sao bọn người đó lại xuất hiện ở đây? Nếu căn nhà nông trại này bỏ trống, Kolya và tôi có lẽ đã ngủ qua đêm ở đây, sáng mai lên đường khỏe khoắn và khô ráo. Ý nghĩ đó chỉ thoáng qua đầu, tiếp theo là mặc cảm tội lỗi vì sự vô lý của mình.
Nina xiết chặt tay tôi và nhìn tôi mỉm cười. Nàng dễ dàng trở thành cô gái đẹp nhất đã mỉm cười với tôi. Tôi tưởng tượng ra cảnh đang khoe khoang với Oleg Antokolsky: Bàn tay trẳng trẻo nhỏ nhắn của Nina xiết chặt tay tao, hai hàng lông mi run rảy nhìn tao, lo lắng cho sự an nguy của tao. Thời gian trôi qua, tôi còn đang kể lể với bạn tôi, quên rằng Oleg có thể sẽ chẳng bao giờ có cơ hội để nghe câu chuyện này, chín phần nó đã bị chôn vùi dưới đống gạch vụn trên con đường Voinova rồi.
Tôi cố gượng cười với Nina, nhưng không làm nổi, đành bước ra khỏi cửa hai tay dơ cao. Từ khi cuộc chiến bắt đầu tôi đã đọc hàng trăm bài báo nói về nhũng anh hùng khi hành sự. Tất cả đều từ chối nhận họ là anh hùng. Họ là những công dân thật thà, chất phác của đất mẹ, bảo vệ Mẹ chống lại sự cưỡng hiếp của Phát Xít Đức. Trong những cuộc phỏng vấn, khi được hỏi tại sao họ đã xông thẳng vào công sự phòng thủ hay leo lến chiến xa địch để thả lựu đạn, tất cả đều trả lời họ chưa bao giờ suy nghĩ về hành động đó, mà chỉ làm điều mà bất cứ người công dân yêu nước nào cũng làm.
Anh hùng và những kẻ dễ ngủ, có thể dứt bỏ sự suy nghĩ bất cứ lúc nào, nếu cần. Những kẻ hèn nhát và những kẻ khó ngủ, loại người như tôi, bị cản trở bởi nhũng suy nghĩ vớ vẩn trong đầu. Khi tôi bước ra khỏi cửa, tôi đã nghĩ, mình đang đứng trước căn nhà trong nông trại, ngoại ô thị trấn Berezovka, và đám quân kháng chiến ngoài kia đang chĩa những cây súng trường của họ vào đầu mình.
Nhìn Kolya, với nụ cười rạng rỡ, có lẽ hắn chẳng suy nghĩ gì cả. Chúng tôi đứng bên nhau, trong khi những kẻ thẩm vấn đứng khuất ở đâu đang nhìn chúng tôi từ đầu đến chân. Áo khoác ngoài còn để trong nhà, chúng tôi run rẩy trong đêm khuya, cơn lạnh giá thấm buốt tới xương tủy.
“Hãy chứng minh, các cậu là cùng phía với chúng tôi.” Tiếng nói dường như phát ra từ bên cạnh một đống cỏ phủ đầy tuyết, khi mắt tôi đã quen với ánh sáng, tôi có thể nhìn thấy một người quỳ trong bóng tối, cây súng trường nâng ngang vai. “Hãy bắn vào đầu tất cả bọn Đức.”
“Không cần phải thử như thế, chúng chết cả rồi,” Kolya trả lời.
Khả năng biến hoàn cảnh xấu thành tệ hại của hắn không làm tôi ngạc nhiên. Có lẽ anh hùng là kẻ không nhận ra nhược điểm của mình. Nói về can đảm, thì người ta quá điên để hiểu rằng mình cũng có sinh có tử chăng? Có phải là can đảm nếu bạn quá gàn dở để biết được rằng bạn có thể chết không?
“Chúng tôi vẫn còn sống,” người kháng chiến quân nấp trong bóng tối lên tiếng, “bởi vì chúng tôi bắn cả những khi biết là bọn nó đã chết rồi.”
Kolya gật đầu. Hắn bước lại gần chiếc xe còn đang nổ máy, chiếc xe đã dừng lại, bánh xe ngập trong tuyết cả thước.
“Chúng tôi đang ngó chừng cậu đó,” Người kháng chiến quân cảnh báo. “một viên đạn cho mỗi cái đầu.”
Kolya bắn tên lính tài xế đã chết, rồi người ngồi bên cạnh cũng đã chết. Nòng súng lóe sáng trong bóng đêm như ánh đèn flash của chiếc máy ảnh. Hắn quay đi, bước trên tuyết, dừng lại, bắn mấy tên Đức nằm vất vưởng trên tuyết.
Đến người thứ sáu, hắn cúi xuống để nhắm nòng súng lên đầu tên lính Đức Einsatzkommando, bỗng nghe thấy cái gì. Hắn vội quỳ xuống và lắng nghe một lúc trước khi đứng dậy và la lên.
“Tên này còn sống.”
“Đó là lý do cậu sẽ phải bắn nó.”
“Có thể nó có điều gì ích lợi muốn nói với chúng ta.”
“Nó có thể nói chuyện được không?”
Kolya lật ngửa người lính lên, nó rên nhè nhẹ, bọt màu hồng trào ra từ miệng.
Kolya trả lời “Không.”
“Bởi vì nó bị bắn trúng phổi, hãy cho một ân huệ để nó đi thôi.”
Kolya đứng lên, nhắm và bắn vào trán người lính đang hấp hối.
“Cất súng vào bao.”
Kolya làm theo lệnh, đám dân quân bước ra từ những nơi ẩn núp, sau mấy đống rạ, leo qua bức tường đá thấp ngăn chia cánh đồng, lê bước qua mặt tuyết bên bìa rừng. Một tá người với áo khoác ngoài, súng trường trên tay, hơi thở bốc lên khỏi đầu đang khi họ tiến lại gần căn nhà.
Hầu hết trông giống những nông dân, mũ lông kéo thấp gần đến chân mày, mặt to, phẳng, không thân thiện. Không mặc quân phục nào cả. Một vài người mang giày da của Hồng Quân, những người khác mang giầy nỉ xám ; vài người mang áo khoác nâu, những người khác mặc áo khoác xám. Một người ăn mặc giống như lính Phần Lan trượt tuyết, quần áo mùa đông trắng. Đi đầu là một người đàn ông có lẽ là trưởng toán, râu ria xồm xoàm cả tuần chưa cạo, che phủ hàm, mang trên vai khẩu súng săn cũ kỹ. Sau đó, chúng tôi được biết tên ông ta là Korsakov. Ông ta có tên thật, họ thật không, chúng tôi chẳng bao giờ biết. Korsakov có lẽ chỉ là một tên giả thôi. Kháng chiến quân rất nổi tiếng về việc dấu diếm lý lịch của họ, cũng có nguyên do xác đáng. Tụi Einsatzkommando đáp lại sự phản kháng của dân quân bằng cách xử tử trước công chúng những người thân của họ.
Korsakov và hai chiến hữu của ông ta đến gần chúng tôi trong khi những người khác lục soát mấy xác chết người Đức, lấy súng đạn, thư từ, hũ rượu và đồng hồ đeo tay. Người đàn ông trong bộ đồ trượt tuyết, quỳ xuống bên cạnh một xác chết và cố tháo chiếc nhẫn cưới từ ngón tay xác chết. Chiếc nhãn không tháo ra được, anh ta bèn đút ngón tay vào miệng. Khi thấy tôi nhìn, hắn nháy mắt, rút ngón tay ướt ra khỏi miệng và kéo chiếc nhẫn ra.
“Đừng để ý đến bọn họ,” Korsakov lên tiếng khi thấy tôi nhìn sự việc đang xảy ra. “Hãy chú ý đến tôi, tại sao các cậu lại đến đây?”
“Họ đến đây để chỉnh đốn kháng chiến quân du kích.” Nina nói. Nàng ta và Lara đã bước ra ngoài căn nhà, chân trần, đứng khoanh tay, tóc lộng gió.
“Phải vậy không? Bộ chúng tôi trông vô trật tự lắm sao?”
“Hai anh ấy là bạn. Ho sẽ giết tụi Đức nếu các anh không đến kịp.”
“Các cậu ấy định làm thế sao? Tử tế nhỉ.? Ông ta quay đi và hỏi đám dân quân đang lục soát xác chết trong xe. “Có tìm được gì không?”
“Cá nhỏ thôi,” một người có râu rậm trả lời, vừa dơ cao cái huy hiệu gỡ ra từ cổ áo của người sỹ quan Đức. “Thiếu úy và Trung Úy.”
Korsakov nhún vai và quay lại nhìn Nina, thẩm đoán cặp chân trần nhợt nhạt và hình dạng cái hông của nàng dưới chiếc áo ngủ.
“Đi vô nhà,” ông ta bảo nàng. “Mặc quần áo vô. Bọn Đức chết cả rồi, cô không cần phải làm điếm nữa.”
“Đừng gọi tôi như vậy.”
“Tao gọi bằng bất cứ tên gì tao muốn. Đi vào trong.”
Lara cầm tay Nina và lôi cô ta vào trong nhà. Kolya nhìn họ đi khuất rồi quay lại nói với người chỉ huy.
“Anh tàn nhẫn quá, đồng chí.”
“Tôi không phải đồng chí với cậu. Và nếu tôi không hành động, chắc lúc này mấy thằng lính Đức đó đang ngủ với chúng nó.”
“Cá mè một lứa…”
“Câm miệng lại. Mày mặc đồng phục Hồng Quân, nhưng không chiến đấu với Hồng Quân. Mày là thằng đào ngũ phải không?”
“Chúng tôi đến đây với nhiệm vụ đặc biệt. Tôi có giấy tờ trong túi áo khoác, trong nhà.”
“Bất cứ đứa nào đi theo địch mà tao bắt được, cũng có giấy tờ.”
“Tôi có ủy nhiệm thư của Đại Tá Grechko, mật vụ NKVD, ra lệnh cho chúng tôi đến đây.”
Korsakov cười và quay sang hỏi đám dân quân.
“Đại tá Grechko, ông ta có quyền gì ở đây nhỉ? Tôi thích những tên cảnh sát ở trong thành phố và ra lệnh cho chúng tôi.”
Một người trong bọn họ, cao nhòng, đôi mắt rất gần nhau, đứng cạnh ông ta cười lớn, nhe ra hàm răng xấu xí. Người kia không cười, hắn mặc bộ đồ ngụy trang mùa đông, với những xoáy tròn màu trắng và nâu và một cái vòm lá cây chết. Cặp mắt của hắn hiện rõ dưới cái vành mũ lông thỏ. Hắn nhỏ người, nhỏ hơn cả tôi, và còn rất trẻ, không thấy dấu vết một cọng râu nào trên đôi gò má hồng hào. Nét mặt thanh tú, sự xếp đặt trên khuôn mặt đâu ra đó, môi đầy đặn, cong lên như đang nở một nụ cười trong khi hắn nhìn chòng chọc lại tôi.
“Cậu thấy cái gì lạ lắm phải không?” hắn hỏi, tôi nhận ra rằng chẳng phải là giọng nói đàn ông.
“Cậu là con gái,” Kolya nhìn nàng chăm chăm và buột miệng nói. Tôi cảm thấy hai đứa tôi thật là ngốc.
“Đừng ngạc nhiên,” Korsakov nói. “Cô ta là thiện xạ hạng nhất đó. Mấy tên Đức nằm ở kia, còn có nửa cái đầu thôi, đều do cô ta bắn cả đấy.”
Kolya huýt sáo, liếc nhìn từ cô ta đến mấy tên Đức nằm chết đến bìa rừng cạnh cánh đồng.
“Từ mãi đằng kia? bao xa nhỉ, bốn trăm thước chăng? nhắm mục tiêu đang di động?”
Cô gái nhún vai. “Anh không phải chỉ huy họ nhiều trong khi họ đang di chuyển trên tuyết đâu nhỉ.”
“Về thành tích, Vika chỉ đứng thứ nhì sau Lyudmila Pavlichenko thôi.” Tiếng nói phát ra từ anh chàng với bộ hàm dưới đưa ra. “Cô ta muốn trở thành người bắn sẻ vô địch phái nữ.”
“Thành tích của Mila là bao nhiêu rồi?” Kolya hỏi.
“Tờ báo Sao Đỏ nói là 200,” Vika trả lời với tròng mắt hơi trợn lên. “Mỗi lần cô ấy xì mũi là thêm một địch quân bị nàng bắn hạ, tờ báo Lục Quân đã khẳng đinh như vậy.”
“Đó có phải là súng trường của Đức không?”
“K 98,” cô ta trả lời, vỗ nhẹ lòng bàn tay trên nòng súng. “Cây súng trường số một trên thế giới.”
Kolya huých nhẹ cùi chỏ tôi và thì thầm. “Thằng nhỏ tao muốn cứng lên rồi đó.”
“Nói gì đó?” Korsakov hỏi.
“Tôi nói thằng nhỏ của tôi sắp sửa rụng xuống đất nếu chúng ta còn tiếp tục đứng ở đây lâu hơn nữa – xin lỗi, tôi ăn nói thô lỗ.” Hắn cúi chào Vika kiểu các nhà quý phái thời xưa và trở lại với Korsakov. “Anh muốn xem giấy tờ của tôi, xin vào trong nhà. Anh muốn bắn đồng bào của anh ở đây, trên tuyết này, được thôi, bắn chúng tôi đi. Nhưng mà đứng ở ngoài trời lạnh giá này đủ rồi.”
Anh chàng dân quân rõ ràng thích bắn Kolya hơn là xem xét giấy tờ, nhưng mà giết một người lính Hồng Quân không phải là chuyện nhỏ, đặc biệt là có bao nhiêu người làm chứng ở đây. Anh ta cũng không muốn chịu thua dễ dàng như vậy, mất mặt trước đám du kích của mình. Cho nên cả hai đứng đó gườm gườm nhìn nhau thêm mười giây nữa, trong khi tôi cắn môi cố giữ hai hàm răng khỏi đập vào nhau.
Vika đánh tan bầu không khí căng thẳng. “Hai anh này chắc bị tiếng sét ái tình rồi, xem họ kìa! Không quyết định được nên đánh nhau hay trần truồng ôm nhau trên tuyết.”
Mấy người khác cười lớn và Vika bước về phía căn nhà, mặc kệ Korsakov lườm nàng.
“Tôi đói rồi,” cô ta nói. “Mấy cô gái đó chắc ăn thịt heo suốt mùa đông.”
Đám đàn ông theo cô ta, mang theo chiến lợi phẩm, muốn được mau vào nhà ấm áp. Tôi theo dõi Vika dậm chân trước cửa nhà, bước chân trên đế giày đầy tuyết, và tự hỏi không biết thân hình cô ta ra sao dưới những lớp quần áo ngụy trang, rồi bao nhiêu lớp len và nỉ nữa.
“Cô ấy thuộc về anh phải không?” Kolya hỏi Korsakov, sau khi Vika đã bước hẳn vào nhà.
“Bộ diễu hả, người đó nhiều đàn ông tính hơn đàn bà.”
“Tốt,” Kolya trả lời, đấm nhẹ trên cánh tay tôi. “Bởi vì anh bạn tôi đây phải lòng rồi.”
Korsakov liếc nhìn tôi rồi phá lên cười. Tôi luôn luôn ghét những kẻ cười vào lỗ mũi tôi, nhưng mà lần này tôi rất hân hoan đón nhận. Tôi biết anh ta sẽ không giết chúng tôi nữa.
“Chúc các cậu may mắn, hai chú bé. Nên nhớ rằng, cô ta có thể bắn vào giữa hai mắt các cậu từ xa nửa cây số đó”
Chương 16
Korsakov cho phép đám du kích dưới quyền được nghỉ ngơi và ăn uống trong vòng một giờ, cả bọn nằm rải rác trong phòng đại sảnh, vớ phơi đầy trên lưới sắt chắn lò sưởi, áo khoác ngoài trải trên nền nhà. Vika nằm ngửa, chân vắt tréo, trên trường kỷ bọc bằng vải mềm như lông đuôi ngựa, dưới cái đầu sơn dương gắn trên tường, tay nàng mân mê chiếc mũ lông thỏ đặt trên ngực. Tóc nàng màu hung đỏ được cắt ngắn gọn gàng như một cậu con trai, tóc dơ bẩn đến nỗi nó bện lại với nhau như rễ tre thẳng đứng hoặc xoắn ốc. Nàng nhìn chăm chú đôi con mắt thủy tinh của con sơn dương, mê mẩn về con vật bị sát hại. Tôi đoán trí óc nàng đang phiêu lưu trong cuộc săn bắn của người thợ săn – tự hỏi phát đạn đó giết chết ngay con sơn dương hay con vật bị thương còn chạy được vài cây số, nó không biết rằng cái chết đã tiềm ẩn vào da thịt và xương cốt, nó không thể chạy nhanh hơn một con ốc sên đã té lăn cù.
Tôi ngồi bên mép cửa sổ quan sát cô ta và cố gắng không cho cô ta biết. Nàng đã cởi lớp áo phủ ngoài để phơi khô, chỉ còn cái áo sơ mi bằng nỉ dày kiểu thợ đi rừng, có lẽ là áo cũ của một người đàn ông nào đó, to gấp đôi khổ người của nàng và cái quần dài mặc sát đùi dể giữ cơ thể ấm áp. Khác hẳn với những người tóc hung đỏ khác, nàng không có một vết tàn nhang nào cả. Môi trên hơi hở để lộ hàm răng dưới những chiếc răng nhỏ không đều đặn. Tôi không thể ngưng nhìn cô ta. Nàng không phải là mẫu người lý tưởng của bọn đàn ông – gầy, thiếu ăn như thể cả tuần vừa rồi chỉ ngủ trong rừng – nhưng tôi muốn nhìn nàng trần truồng. Tôi muốn cởi chiếc áo sơ mi thợ rừng, liệng qua một bên, và rà lưỡi trên bụng trắng nõn của nàng, cởi cái quần dài mặc lót cho ấm trong mùa đông và hôn lên cặp đùi gầy gò của nàng.
Đầu óc phiêu du giữa ban ngày với đầy hình ảnh sống động đã đưa tôi ra khỏi thế giới hiện tại. Có phải những quân bài khiêu dâm của Kolya đã khơi động trí tưởng tượng của tôi không? Thường thường những hình ảnh tưởng tượng của tôi rất trong sáng và bình thường – Tôi có thể hình dung Vera Osipovna với đầy đủ quần áo, độc tấu đại hồ cầm cho tôi nghe trong căn phòng ngủ lẻ loi của nàng, sau đó tôi sẽ khen ngợi nàng, làm nàng cảm kích với những lời hùng hồn, chuyên nghiệp của giới nhạc sĩ. Ảo giác đó sẽ kết thúc với vài nụ hôn say đắm, chân của Vera sẽ dạng ra và làm ngã lăn cái giá đặt bản nhạc, mặt nàng sẽ đỏ bừng lên, trong khi tôi nở một nụ cười bí hiểm và bỏ lại nàng đứng ngơ ngẩn, cổ áo xốc xếch, một nút áo bị tuột ra ngoài.
Ảo tưởng của tôi thường chấm dứt trước khi đến phần tình dục, bởi vì tôi sợ chuyện tình dục. Tôi không biết phải làm thế nào. Tôi cũng không biết đủ để giả vờ như mình đã biết. Tôi hiểu căn bản về cơ thể học, nhưng tư thế hành động làm tôi bối rối, nếu không có một người cha, một người anh, hay một người bạn có kinh nghiệm chỉ dẫn, tôi chẳng còn biết hỏi ai.
Nhưng tôi không có sự thanh khiết trong cơn thèm muốn Vika. Tôi muốn đè nàng xuống, cái quần tụt xuống dưới mắt cá chân. Nàng có thể chỉ cho tôi phải làm sao, và khi đã tới đỉnh, những ngón tay với móng dơ bẩn và sắc bén sẽ cào cấu vào vai tôi; đầu của nàng sẽ ngửa ra sau, để lộ cái cổ trắng dài và nhịp đập của động mạch cổ dưới quai hàm của nàng; mắt nàng sẽ mở lớn, con ngươi sẽ thu nhỏ lại giữa màu xanh của mắt cho đến khi chỉ còn bằng cái chấm nhỏ trên chữ i thôi.
Tất cả ngững cô gái trong nhà này – Nina Và Galina, Lara và Olesya – khi mới thoạt nhìn đều đẹp hơn Vika. Tóc của các nàng đều dài và chải chuốt; không dính bùn đất trên mu bàn tay, họ còn đánh một chút môi son nữa. Các cô chạy ra chạy vào phòng đại sảnh, bưng những tô lớn đựng hạt dẻ con nguyên vỏ và củ cải đỏ muối. Lại thêm một đám người võ trang mới cần được phục vụ -- dù là đồng bào nhưng vẫn nguy hiểm và khó đoán. Một người trong bọn họ, ngồi bắt chéo chân trên sàn nhà gần lò sưởi, nắm cổ tay tròn trịa của Galina đang khi nàng cúi người xuống để châm thêm rượu vodka vào cái ly của hắn.
“Cô đã xem xét bên ngoài chưa? Một trong những đứa nằm úp mặt là bạn trai của cô phải không?”
Đám chiến hữu của anh ta cười to và anh chàng dân quân như được khuyến khích, lôi Galina vào lòng. Nàng đã quen chịu đựng những hành vi thô bạo cho nên chẳng kêu la hay đánh đổ dù một giọt rượu vodka.
“Chúng nó có mang nhiều đồ ăn ngon cho cô ăn không?” Chắc là có, ê, xem đôi má này!” Hắn quẹt ngón tay cái chai cứng trên chiếc má hồng mềm mại của nàng. “Cô đã làm gì cho bọn chúng? Bất cứ cái gì chúng muốn phải không? Thoát y vũ trong khi chúng hát bài ‘Host Wessel Song’ (Đảng ca của Nazi) phải không? Làm tình bằng miệng trong khi chúng uống rượu schnapps phải không?”
“Buông cô ta ra,” Vika nói. Nàng vẫn nằm ngửa, vẫn còn ngắm cái đầu con sơn dương trong khi đôi chân mang vớ len dầy lúc lắc theo nhịp một bài hát không lời. Giọng nói bình thản – cô ta có giận dữ hay không cũng khó mà biết. Ngay khi tiếng nói vừa vang trong không khí, tôi ước rằng mình đã nói câu đó. Đó là một cử chỉ can đảm, có thể là tự sát không chừng, nhưng mà Galina luôn tử tế với tôi, đáng lẽ tôi phải bảo vệ nàng – không phải vì bản chất quân tử của tôi, nhưng mà để gây ấn tượng trong lòng Vika. Trong lúc đáng lẽ phải làm một cái gì thì tôi lại như đóng băng, lại thêm một cử chỉ hèn nhát đã ăn sâu trong lòng tôi nhiều năm. Kolya có lẽ đã can thiệp không do dự, nhưng hắn còn đang bên cạnh Korsakov cho anh ta xem xét bức thư của Đại tá cho phép tự do di chuyển.
Anh chàng du kích đang nắm cổ tay Galina, do dự một chút trước khi đáp ứng lời Vika. Tôi biết anh ta đang sợ hãi. Tôi từng sợ hãi một thời gian dài, nên có thể nhận biết cảm giác đó trên người khác trước khi họ phát hiện. Nhưng tôi cũng biết anh ta sẽ phản bác lại, mạnh mẽ, để tỏ ra mình không sợ, mặc dù tất cả chiến hữu của anh lúc đó đều đã biết.
Cuối cùng anh ta cũng lên tiếng: “Sao thế? Bộ muốn ả cho riêng mình hả?”
Đó là lời chống đối yếu xìu, chẳng ai cười với anh ta. Vika thì chẳng thèm để ý. Cũng chẳng nhìn anh ta. Có mỗi dấu hiệu chứng tỏ cô có nghe tiếng anh ta trả lời là nụ cười nhếch mép chậm rãi nở trên khuôn mặt, không rõ là để trả lời cho câu chế nhạo hay do ánh sánh lấp lánh của con mắt sơn dương. Sau vài giây, người du kích lẩm bẩm gì trong miệng và buông tay Galina và đẩy nhẹ nàng ra.
“Đi đi, phục vụ mấy người khác. Cô làm nô lệ lâu rồi, việc đó hợp với cô.”
Nếu lời chế nhạo của tên du kích làm tổn thương nàng, Galina dấu rất kín. Nàng rót rượu ra mấy cái ly cho mọi người trong nhà, ai cũng lịch sự gật đầu cảm ơn.
Sau vài phút tính toán hơn thiệt về việc bị bẽ mặt, tôi đi về phía ghế trường kỷ và ngồi xuống phía cuối, gần bàn chân mang vớ len màu xám của Vika. Bộ râu cằm của con sơn dương đong đưa trên đầu tôi. Tôi nhìn lên nó rồi đưa mắt qua Vika. Nàng nhìn chòng chọc ngay vào mặt tôi, chờ nghe điều gì vớ vẩn tôi đang dự định nói với nàng.
“Cha của cô là một thợ săn phải không?” Đây là câu hỏi tôi đã suy nghĩ kỹ khi còn đứng ở bên kia phòng. Ngay khi vừa buột miệng nói, tôi tự hỏi tại sao tôi lại cho rằng đó cách hay nhất để bắt đầu câu chuyện. Tôi đã đọc một vài bài báo nói về những người bắn sẻ, về Sidorenko bắn mấy con sóc khi còn niên thiếu.
“Cái gì?”
“Cha của cô … Tôi nghĩ đó là cách cô học bắn súng.”
Tôi không đoán được đó là sự chán nản hay giận dữ trong đôi mắt xanh của nàng. Nhìn kỹ, nhờ ánh đèn dầu và ánh sáng từ lò sưởi, tôi có thể thấy một vài mụn đỏ trên trán của nàng.
“Không, ông không phải là thợ săn.”
“Tôi đoán phần lớn những tay bắn sẻ xuất thân từ thợ săn…Tôi đọc được ở đâu ấy mà.”
Nàng không nhìn tôi nữa, hướng mắt chăm chú về đầu con sơn dương. Tôi không đáng được chú ý bằng một con vật nhồi bông. Đám du kích nhìn tôi, huých cùi chỏ, thì thầm và cười cợt không thành tiếng với nhau.
“Cô lấy được khẩu súng trường Đức ở đâu vậy?” Tôi hỏi cô ta, có chút tuyệt vọng, như một người đánh bạc, cứ tiếp tục đánh một bên chẵn, mặc dù càng lâu càng thua đậm.
“Từ một tên Đức.”
“Tôi có con dao găm Đức.” Tôi kéo ống quần lên, lấy con dao ra, và lật nó lên để ánh sáng chạy trên thép. Con dao làm nàng chú ý và đưa tay ra, tôi trao con dao, nàng ướm thử cạnh sắc trên cánh tay mình.
“Đủ sắc bén để cạo râu được.” Tôi nói. “Ý tôi không phải là nói cô cần … “
“Anh kiếm được ở đâu vậy?”
“Trên người một tên Đức.”
Cô ta mỉm cười và tôi rất hãnh diện về câu trả lời đó, như thể tôi đã nói một câu rất khéo léo, đối lại với câu trả lời cụt ngủn của cô ta.
“Và anh kiếm thấy tên Đức ở đâu?”
“Một tên lính nhảy dù chết trong thành phố Leningrad.” Hy vọng câu trả lời mập mờ khiến cô ta có thể cho rằng tôi đã giết nó.
“Chúng đã thả dù trong Leningrad? Bắt đầu rồi sao?”
“Chỉ là tấn công chớp nhoáng thôi, tôi đoán vậy. Một vài thằng xuống được. Thật là không may cho tụi Đức.” Tôi nghĩ được lắm, chỉ là buột miệng nói ra, như thể tôi cũng là một chiến sĩ nói chuyện về sự tổn thất của quân thù một cách rất bình thường.
“Tự tay anh giết nó?”
Tôi mở miệng định sẵn sàng nói dối, nhưng cái cách nàng nhìn tôi, hai môi cong lên nụ cười ngạo mạn, khiến tôi vừa tức giận vừa muốn hôn nàng…
“Giá lạnh giết nó. Tôi chỉ thấy hắn rơi xuống thôi.”
Nàng gật đầu, trả lại con dao cho tôi, rồi duỗi tay ra phía sau và ngáp thật lớn, chẳng thèm che miệng, phô hàm răng nhỏ nhắn nhưng không đều đặn, như răng con nít. Nàng có vẻ rất hài lòng như thể vừa ăn xong một bữa tiệc với chín món khác nhau cùng với rượu ngon hạng nhứt, mặc dầu tôi chỉ nhìn thấy nàng gặm củ cải đen thôi.
“Giá lạnh là võ khí xưa nhất của Mẹ dân tộc Nga,” tôi thêm vào, đó là câu nghe được thường xuyên trên máy thu thanh. Vừa nói ra tôi đã hối hận không thu lại được. Có thể đó là sự thật, nhưng đó là câu sáo ngữ tuyên truyền đã từ vài tháng nay. Ngay cả mở miệng nói Mẹ dân tộc Nga khiến tôi cảm thấy mình giống như mấy đứa thanh thiếu niên tiền phong với nụ cười ngây ngô, mặc áo trắng choàng khăn đỏ, đi diễn hành ngoài công viên, miệng hát bài “Cậu Bé Đánh Trống Hoan Lạc.”
“Tôi cũng có một con dao,” nàng nói, vừa kéo ra một con dao cán bằng gỗ cây phong, từ trong cái bao dắt ở dây lưng đưa cán dao cho tôi.
Tôi quay cái lưỡi mỏng của con dao, cầm trong tay, cảm thấy một chuỗi đường kẻ mịn màng trên thép, giống như những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước.
“Trông thật mỏng manh.”
“Không đâu.” Nàng nghiêng về phía trước, dùng đầu ngón tay trỏ lướt trên mặt thép của lưỡi dao. “Đó là thép Damascus.”
Bây giờ nàng ở gần tôi đến nỗi có thể nhìn rõ được những đường cong của vành tai hay những nếp nhăn làm giảm sự mịn màng của cái trán mỗi khi nàng nhướng mày lên. Một vài lá thông nhọn như mũi kim ghim rải rác trên mái tóc dày của nàng và tôi kìềm chế mình đừng nhặt chúng ra.
“Nó có tên là puukko,” nàng nói với tôi. “Tất cả con trai Phần Lan đều có, khi đến tuổi.”
Nàng lấy lại con dao và cầm nghiêng lưỡi dao để có thể chiêm ngưỡng ánh lửa chiếu trên mặt thép.
“Người bắn sẻ hạng nhất trên thế giới là một người Phần Lan tên Simo Hayha biệt danh Bạch Tử Thần. Năm trăm lẻ năm người Nga bị chết dưới tay anh ta đã được xác nhận trong trận chiến mùa đông.”
“Thế rồi cô lấy nó từ tên lính Phần Lan mà cô bắn hạ phải không?”
“Mua nó 80 đồng tiền Nga trong thành phố Terijoki đó.” Nàng nhét con dao vào cái bao đeo trên dây lưng và nhìn một vòng căn phòng xem có gì đáng lưu ý không.
“Có thể cô sẽ là Hồng Tử Thần,” tôi nói, cố giữ câu chuyện được liên tục bởi vì tôi biết nếu dừng lại, tôi sẽ không có đủ can đảm để bắt đầu trở lại. “Có nhiều người bắn sẻ tài giỏi ngoài kia. Tôi đoán bọn Einsatzkommandos không chịu để yên kẻ nào bắn lại chúng.”
Vika nhìn tôi với cặp mắt xanh lạnh như tiền. Có cái gì không phải hoàn toàn nhân tính trong cái nhìn đó, một loài thú dữ, một con chó sói. Nàng cong cớn môi lên trước khi lắc đầu.
“Tại sao anh nghĩ đó là bọn sát thủ Einsatzkommandos?”
“Mấy cô gái nói với tôi.”
“Anh bao nhiêu tuổi, 15 phải không? Anh không phải là quân nhân –“
“Mười bảy.”
“Nhưng anh đi cùng với một người lính, anh ta đã không chiến đấu cùng với đơn vị của mình.”
“Vâng, như anh ta đã nói, chúng tôi có nhiệm vụ đặc biệt, lệnh của Đại Tá Grechko.”
“Nhiệm vụ đặc biệt làm gì hả? Tổ chức kháng chiến quân ư? Bộ anh thấy tôi trông ngu muội lắm sao?”
“Không.”
“Anh đến đây để thăm mấy cô gái đó? Chỉ thế thôi? Một trong những cô đó là bạn gái của anh hả?”
Tôi đã hãnh diện một cách lạ lùng rằng cô ta nghĩ một trong những cô gái dễ thương đó là bạn gái của tôi, mặc dù tôi nhận ra cái giọng điệu chế diễu trong câu, “một trong những.” Nàng đã tò mò về tôi, đó là một sự khởi đầu. Và nàng tò mò rất đúng. Tại sao một chú bé từ thành phố Piter đi đến tận đây, 20 cây số sau tuyến địch, nghỉ ngơi, thoải mái trong căn nhà dành cho sĩ quan địch quân?
Tôi chợt nhớ đến lời khuyên của Kolya về cách lôi cuốn đàn bà bằng những bí mật.
“Chúng tôi có mật lệnh, tôi đoán chắc cô cũng có, hãy giữ yên như vậy.”
Vika nhìn chằm chặp tôi trong vài giây. Có thể nàng đã bị lôi cuốn, nhưng khó mà nói.
“Những tên Đức nằm ở ngoài kia với mớ óc đổ trên tuyết? Đó là lính chính quy thông thường. Anh phải nghĩ rằng, một người – xin lỗi một chú bé – làm cho mật vụ NKVD phải hiểu được sự khác biệt đó. ”
“Tôi không có dịp xem xét những dấu hiệu của chúng vì bọn người của cô chĩa mũi súng vào chúng tôi.”
“Chúng tôi đi tìm bọn sát nhân Einsatz. Đó là trò chơi quan trọng. Đã sáu tuần nay, chúng tôi săn lùng tên ác ôn làm tình với xác chết Abendroth. Tưởng rằng nó đến đây đêm nay.”
Tôi chưa từng nghe thấy lời nguyền rủa “làm tình với xác chết” bao giờ. Lời nói nghe độc địa phát ra từ miệng nàng. Tôi mỉm cười bâng quơ, một nụ cười xem ra kỳ cục và vô tâm. Trong đầu tôi hình dung ra nàng không mặc quần; rõ ràng từng chi tiết, rõ hơn tất cả những hình ảnh khỏa thân mà tôi từng tưởng tượng. Có thể những hình khiêu dâm trong bộ bài của Kolya đã giúp tôi rất nhiều.
“Abendroth ở trong căn nhà tại Novoye Koshkino,” tôi bảo nàng. “Bên cạnh bờ hồ.”
Tin tức đó hình như làm nàng chú ý hơn bất cứ điều gì tôi đã nói với nàng. Nụ cười vu vơ của tôi hợp với sự hiểu biết về chỗ ở của bọn Đức làm cho tôi nhất thời trở nên bí hiểm.
“Ai nói với anh như vậy?”
Một người bí ẩn phải biết cách làm sao hướng câu hỏi đi chỗ khác, bước tránh qua một bên như võ sĩ quyền anh, nhấp nhô, quay qua quay lại, đừng để bị đánh trúng. Tôi biết điều gì nàng đang muốn biết. Lần đầu tiên tôi có được lợi thế hơn nàng. Những chữ Novoye Koshkino làm cho lý lịch NKVD của tôi thêm một chút đáng tin cậy, cho tôi một chút lợi khí mà tôi có thể khai thác thêm.
“Lara,” tôi nói, cho hết tất cả chỉ với một chữ thôi.
“Cô nào là Lara?”
Tôi chỉ cho nàng. Khi cái nhìn không chớp mắt của Vika đổi hướng, tôi cảm thấy mình đã phản bội Lara. Cô ta đã rộng lượng cho chúng tôi nơi trú ẩn lúc trời lạnh giá, cho chúng thức ăn nóng, không ngại nguy hiểm ra ngoài trời giữa đêm đông khắc nghiệt với đôi chân trần, để bảo vệ chúng tôi trước đám dân quân nghi ngờ này – và tôi đã thố lộ tên nàng cho kẻ giết người mắt xanh lạnh lùng này. Vika đưa chân ra khỏi trường kỷ, những ngón chân trong vớ đụng vào quần tôi. Nàng đứng dậy và bước tới chỗ Lara, cô ta đang khom mình bên lò sưởi để bỏ thêm củi vào đống lửa. Không có giày ủng, tôi mới thấy Vika nhỏ bé làm sao, nhưng nàng di chuyển với điệu bộ nhàn nhã ta có thể thấy được của những thể tháo gia trong lúc họ nghỉ ngơi xa vận động trường. Tôi nghĩ đây là chiến tranh thời đại, sức lực không nghĩa lý gì và một cô gái mảnh mai cũng có thể bửa làm hai cái đầu của một tên Đức cách xa 400 thước.
Lara có vẻ hơi bối rối khi cô ta nhìn thấy người bắn sẻ mỉm cười với mình. Cô chùi than đen khỏi tay và lắng nghe Vika. Tôi không nghe rõ họ nói gì, nhưng thấy Lara gật đầu, và cử chỉ ra dấu bằng tay, tôi đoán cô ta đang chỉ hướng cho Vika.
Kolya bước vào phòng với Korsakov. Mỗi người có một ly vodka trong tay và họ cười với nhau về câu chuyện diễu, như đôi bạn chí thân, quên mất không khí đố kỵ trước đây. Tôi không trông đợi điều gì tệ hơn thế -- Kolya là một người môi giới tài ba, đặc biệt khi hắn giới thiệu về chính bản thân. Hắn đi thong thả về phía trường kỷ bọc lông ngựa, ngồi xuống với tiếng thở dài, vỗ trên đầu gối tôi và uống cạn hớp rượu vodka cuối cùng.
“Mày ăn đủ chứ?” hắn hỏi tôi, “Chúng ta sẵn sàng lên đường thôi.” “Chúng ta đi sao? Tao tưởng chúng mình ngủ qua đêm ở đây.”
Cuộc chạm súng đã dấy động cơ thể tôi, cũng qua một lúc rồi từ khi đạn bay tứ tung. Tôi cảm thấy mệt mỏi thấm vào tận xương cốt. Chúng tôi đã đi bộ cả ngày trong tuyết và tôi chưa hề ngủ từ khi rời khỏi căn chung cư của Sonya.
“Cố lên, mày thông minh hơn thế chứ. Mày nghĩ xem cái gì sẽ xảy ra khi bọn Đức ngoài kia không trở lại doanh trại sau khi ăn chơi ở đây tối nay? Bao lâu nữa chúng nó sẽ gởi một trung đội đến đây để tìm hiểu xem mấy thiếu úy của chúng biến mất đâu rồi?”
Vika đã có được điều nàng cần hỏi Lara. Bây giờ nàng đang nói nhỏ với Korsakov, cả hai đứng trong góc phòng – thỉnh thoảng một ngọn lửa bùng lên soi sáng chiếc vai rộng, hàm râu tua tủa của người chỉ huy đám kháng chiến quân và người sát thủ bé nhỏ của anh ta.
Những người dân quân khác bắt đầu sửa soạn, mang vớ và giày ủng bằng nỉ, cố nốc thêm một ly vodka, sẵn sàng cho một cuộc lội bộ dài trước mặt. Mấy cô gái đã biến mất hút vào những phòng phía sau nhà, tôi đoán họ cố vớt vát vài thứ mang theo và quyết định phải đi đâu.
Tôi nảy ra một ý nghĩ và nói: “Chúng ta có thể dùng hai chiếc xe Đức này, chở bọn con gái về Piter …” Như mọi lần khác, mỗi khi tôi cho là ý kiến hay, sự tuyệt vời chợt biến mất trước khi tôi nói hết câu thứ hai.
“Lái chiếc xe Kubel về vòng đai phòng thủ Leningrad,” Kolya nói. “Hừm, đúng vậy, đó là một ý nghĩ. Khi quân ta thổi tung chúng ta ra khỏi con đường, và một tên Don Cossack nhà quê ngu đần nào đó lôi thi thể bốc cháy của chúng ta ra khỏi đống xe bẹp dúm, nó sẽ tự hỏi, ‘Hứ, hai thằng nhóc con Đức này sao giống chúng ta quá đi thôi!’ Không, chú sư tử nhỏ của tôi ơi, chúng ta khoan trở về Piter đã. Chúng ta có việc phải làm ở Novoye Koshkino.”
Chương 17
Hai mươi phút sau, chúng tôi lại lê bước trên tuyết, sự ấm cúng trong căn nhà nông trại đã biến mất khỏi trí nhớ. Bên cánh trái và phải có những hàng cây thông cổ thụ che chở, theo lệnh của Korsakov chúng tôi đi theo hàng một, mỗi người cách nhau chín bước. Tôi không hiểu rõ ý nghĩa của đội hình di chuyển chiến thuật này cho lắm, nhưng tôi tin tưởng những người chiến binh đầy kinh nghiệm phục kích và hiểu họ phải làm gì. Kolya đi phía trước, tôi cúi đầu thấp nên chỉ nhìn thấy lai áo khoác ngoài và đôi ủng da đen của hắn. Tất cả những người khác chỉ còn là bóng ma trong đoàn bộ hành ngắn ngủi, không thấy và không nghe gì cả, trừ ra thỉnh thoảng tiếng cành cây khô bị đạp trúng hay tiếng lách cách mở nắp bình nước cá nhân để uống nước trà nóng.
Tôi chưa bao giờ thật sự tin rằng những người lính vừa đi vừa ngủ là điều hiển nhiên, cho đến khi chúng tôi tiếp tục đi về hướng đông, được ru bởi nhịp đều đều của những đôi ủng bước lên và đặt xuống trên tuyết, tôi lảo đảo giữa tỉnh và thức. Dù cho thời tiết lạnh lẽo vẫn không giúp tôi thức tỉnh hoàn toàn. Novoye Koshkino chỉ cách căn nhà nông trại vài cây số đường bộ, nhưng chúng tôi tránh xa đường lộ, ngoài vòng đai trại lính Đức. Nếu không có người dẫn đường chắc Kolya và tôi đã đâm sầm vào trại lính mất thôi. Kolya đã cho tôi hay, đi bộ mất 4 tiếng; chưa hết một tiếng tôi đã có cảm giác người nào đó vừa đổ nước đường đặc quánh vào cái lỗ trên sọ của tôi. Bất cứ làm điều gì tôi cũng hành động một cách chậm chạp. Nếu muốn gãi cái mũi, tôi nhận ra rằng cái lệnh từ óc được bàn tay thi hành một cách miễn cưỡng. Đó là cuộc hành trình dài của cái tay đưa lên mặt, rồi tìm kiếm cái mũi (thường là mục tiêu dễ dàng), và bàn tay trở về một cách hài lòng trong cái hang ấm áp mãi sâu trong cánh tay của chiếc áo khoác ngoài của cha tôi.
Càng mệt mỏi, tôi càng không tin cái gì đang xảy ra. Làm sao nó có thể là thật được? Chúng tôi là một lũ chuột mê muội, bước đi dưới mặt trăng trắng đục treo trên bầu trời đen thui. Một tên phù thủy đang sống ở Novoye Koshkino, hắn biết những câu thần chú thời cổ đại, có thể biến chúng tôi trở lại thành những người đàn ông như trước đây. Nhưng mà bao nhiêu hiểm nguy đang chờ đợi, một con mèo đen khổng lồ sẽ bới tuyết vồ chúng tôi đang khi cả bọn sợ hãi cong đuôi chạy tìm chỗ ẩn nấp.
Đôi giày ủng của tôi lún sâu trong một gò tuyết mềm, tôi suýt bị trặc chân. Khi nghe thấy tiếng chân tôi loạng choạng, Kolya dừng bước và quay lại nhìn nhưng tôi gượng lại được và gật đầu với hắn, tiếp tục đi không cần sự giúp đỡ.
Mấy cô gái sống trong căn nhà nông trại đã ra đi cùng lượt với chúng tôi. Họ không có áo khoác mùa đông và ủng đi tuyết; tụi Đức đã tịch thu sau khi Zoya bỏ trốn. Không có quần áo để mặc cho đúng mức, mấy cô mặc tất cả áo sẵn có, kể cả sơ mi và áo lạnh và một quần dài ấm mùa đông bó sát đùi mặc bên trong, cho đến khi họ lắc lư dưới sức nặng và khệnh khạng bước ra đại sảnh như những mụ béo phì nhà quê say rượu. Galina có ý lấy mấy chiếc áo khoác của tụi lính Đức, nhưng nàng bỏ ý định ấy ngay – cơ hội rủi ro đã cao, nếu họ bị bắt lại, và bị bắt khi đang mặc mấy áo khoác của đám sĩ quán bị tàn sát, cuộc đời kể như xong.
Kolya và tôi hôn lên má mấy nàng ở ngưỡng cửa. Họ quyết định không đi về Leningrad; một vài người có gia đình ở đó, nhưng thân nhân có thể đã chết hoặc chạy thoát về hướng đông rồi. Quan trọng hơn nữa, không còn thực phẩm cho cư dân ở đó và chắc chắn cũng không có thực phẩm cho 4 cô gái quê không có tem phiếu. Leningrad là không hợp lý, cho nên họ chọn về hướng nam. Họ mang theo tất cả đồ phòng bị còn xót lại, sau khi bọn dân quân lấy những gì họ muốn. Korsokov cho phép họ giữ hai khẩu súng ngắn Lugers của bọn Đức làm vũ khí phòng thân. Rủi nhiều may ít, nhưng cả bọn bước ra khỏi căn nhà, lòng đầy hân hoan. Họ đã ở tù trong đó nhiều tháng nay, chịu đựng hành hạ đêm này qua đêm khác, bây giờ tất cả được tự do. Tôi hôn lên tất cả 8 cái má, vẫy tay chào tạm biệt, và chẳng bao giờ còn thấy lại họ hoặc nghe nói về họ.
Có cái gì đập nhẹ trên vai, tôi mở bừng mắt và nhận ra mình đã bước đi trong cơn mơ màng. Kolya đi bên cạnh, tay mang găng của hắn nắm lấy tôi qua áo khoác.
“Mày vẫn còn tỉnh chứ?” hắn thì thầm hỏi tôi, nhìn tôi ái ngại.
“Tao đây nè.”
“Tao sẽ đi bên cạnh mày. Giữ mày tỉnh ngủ.”
“Korsakov đã bảo chúng ta –“
“Tao không nhận lệnh của con heo khốn kiếp đó. Mày thấy đấy, nó đối xử với mấy cô gái như thế nào.”
“Mày là người thân mật với hắn mà.”
“Chúng ta cần hắn lúc này. Và cô bạn gái bé nhỏ của hắn … Tao thấy mày nhìn cô bé đắm đuối ở chỗ lò sưởi. Mày muốn thử thời vận với cô bé bắn sẻ hả, ha! ha!”
Tôi lắc đầu, quá mệt mỏi dù chỉ phản bác lời chọc tức của hắn.
“Mày đã gần gũi với nàng tóc hung đỏ nào chưa? Ồ không, tao nói gì vậy, mày chưa từng gần gũi với bất cứ cô nào mà. Cái hay là các cô ấy hết xảy trong chuyện chăn gối. Hai trong ba cô làm tình giỏi trong đời tao có tóc hung đỏ. Không phải, hai trong bốn chứ. Nhưng mặt trái của đồng tiền là, họ ghét đàn ông. Coi chừng, họ dễ nổi giận đó, bạn ơi.”
“Tất cả các cô gái tóc hung đỏ đều ghét đàn ông?”
“Suy nghĩ cho cùng, cũng có lý. Bất cứ cô gái tóc hung đỏ nào mày gặp, phần lớn cô ta có dòng máu Viking, những kẻ cướp biển, đi lung tung khắp nơi chặt tay người ta và hãm hiếp con gái. Các cô con gái bị hãm hiếp đó là tổ tiên của cô ta bây giờ. Cô ta có dòng máu ăn cướp chảy trong người.”
“Đấy là câu chuyện thú vị, mày nên kể cho cô ta nghe.”
Mỗi bước chân, tôi cố đặt trên dấu chân của người dân quân đi trước, cách chúng tôi 18 bước. Bước lên trên tuyết đã bị nén chặt mất ít sức lực hơn bước lên tuyết mềm, nhưng người đi trước tôi chân dài, tôi khốn khổ lắm mới bắt kịp hắn.
“Và tao muốn hiểu rõ rằng.” Tôi bắt đầu, thở hổn hển và luồn qua một cành cây thông xà xuống nặng nề với những lá nhọn như cây kim, “chúng ta đang đi đến Novoye Koshkino để tìm bộ chỉ huy của bọn sát nhân Einsatzgruppe bởi vì có thể chúng có trứng gà ư?”
“Đó là việc chúng ta làm cho Đại Tá. Nhưng còn cho chúng ta, và cho nước Nga, chúng ta tiến đến Novoye Koshkino để giết chết đám sát thủ Einsatz bởi vì chúng đáng bị giết.”
Tôi cúi đầu xuống thấp để gió không hất vào mặt nhờ chiếc cổ kéo lên cao của chiếc áo khoác của cha tôi che chở. Bàn cãi thêm nữa có ích gì? Kolya nghĩ hắn có chút máu Bohemian, tự do suy nghĩ, nhưng theo cách riêng của hắn, hắn đích thực là người cuồng tín chẳng khác mấy với đám thanh niên tiền phong. Cái tệ nhất là tôi lại không cho là hắn sai lầm. Tụi lính Einsatzkommandos phải bị tiêu diệt trước khi bị chúng tiêu diệt. Tôi chỉ là không muốn mình là người chịu trách nhiệm làm việc đó. Tôi phải len lỏi vào sào huyệt của chúng chỉ với con dao này để phòng thân thôi sao? Năm ngày trước đây, cuộc thám hiểm này có thể coi như là một cuộc phiêu lưu vĩ đại mà tôi đã chờ đợi từ khi cuộc chiến bắt đầu. Bây giờ, đang nửa chừng, tôi ước là mình đã rời khỏi thành phố hồi tháng Chín với Mẹ và em gái.
“Mày có nhớ đoạn cuối cuốn sách The Courtyard Hound không? Khi Radchenko thấy ông giáo sư già của hắn ngã nhào xuống đường, đang lầm bầm với mấy con chim bồ câu không?”
“Cảnh tệ hại nhất trong lịch sử văn học.”
“Ồ, xin lỗi nghe, mày chưa bao giờ đọc cuốn sách đó.”
Có một điều an ủi một cách kỳ cục của cái tính trước sau như một trong con người Kolya, đó là hắn sẵn sàng kể lại một chuyện hề – nếu bạn coi đó là chuyện hề – lập đi lập lại nhiều lần. Hắn giống như một Ông nội vui vẻ lẩm cẩm ngồi nơi bàn ăn, với cổ áo dính đầy món súp củ cải đỏ, kể lại lần nữa câu chuyện ông từng gặp Hoàng Đế, mặc dù cả gia đình đều thuộc lòng câu chuyện đó.
“Một trong những đoạn hay nhất trong văn chương, mày biết không. Giáo sư của ông ta là một cây bút danh tiếng thời đó, nhưng bây giờ ông giáo sư đó đã bị người ta quên hoàn toàn. Radchenko cảm thấy hổ thẹn cho giáo sư. Ông ta nhìn giáo sư qua cửa sổ phòng ngủ -- Radchenko không bao giờ ra khỏi chung cư của ông ta; nên nhớ rằng, đã 7 năm rồi, ông ta chưa hề rời khỏi nhà. Ông ta nhìn giáo sư đến khuất tầm mắt, đá mấy con bồ câu, nguyền rủa chúng. Kolya hắng giọng và gân cổ đọc. “Tài năng giống như một tình nhân yêu cuồng nhiệt. Nàng đẹp sắc sảo; khi bạn ở bên nàng, người ta nhìn bạn, và thán phục bạn. Nhưng khi nàng đập cửa nhà bạn trong lúc đêm hôm khuya khoắt, rồi biến mất một thời gian dài và cô ta không thể kiên nhẫn với những hiện hữu bên cạnh bạn: Vợ bạn, con bạn, bạn bè của bạn. Nàng tạo nên một đêm ly kỳ nhất trong tuần của bạn, nhưng rồi một ngày nàng sẽ rời xa bạn mãi mãi. Mấy năm sau, bỗng nàng xuất hiện, trong cánh tay một chàng trẻ tuổi và làm như thể không biết bạn là ai.”
Rõ ràng là sự mệt mỏi chẳng làm khó được Kolya khiến tôi ngạc nhiên vô cùng. Tôi vẫn bước đi bằng cách nhìn cái cây to ở đàng xa và tự hứa với mình sẽ không bỏ cuộc trước khi đến đó – và khi đến đó, tôi lại thấy một cây khác và thề rằng đây là cây cuối cùng. Còn Kolya có thể lang thang trong rừng, đọc hằng giờ như kịch sĩ thì thầm đối đáp trên sân khấu.
Tôi chờ cho đến khi hắn đọc xong và gật đầu: “Hay lắm.”
Hắn mau mắn: “Thế hả?” tỏ ra rất hài lòng về nhận xét của tôi. Cái kiểu trả lời của hắn khiến tôi chú ý đến khuôn mặt hắn sáng như ánh trăng.
“Mày thuộc lòng gần hết cả cuốn sách hả?”
“Không đâu, chỗ này một đoạn chỗ khác một đoạn thôi.”
Tuyết dày hơn khi chúng tôi trèo qua một ngọn đồi để tới mục tiêu kế tiếp, mỗi bước chân trở nên nặng nhọc, tôi thở hổn hển, khò khè như một ông già chỉ còn một lá phổi.
“Tao có thể hỏi mày câu này không?”
“Mày mới hỏi rồi thôi,” hắn trả lời với nụ cười hài lòng.
“Mày viết cái gì trong khi ghi sổ tay vậy?”
“Tùy theo ngày. Đôi khi chỉ là ghi lại sự việc trước mắt. Đôi khi nghe ai nói điều gì tao thích thì ghi lại một đôi dòng.”
Tôi gật đầu và tập nhắm một mắt 10 giây, rồi mắt kia 10 giây, thay đổi như vậy để mắt đỡ mỏi và tránh gió.
“Tai sao hỏi vậy?”
“Tao nghĩ mày đang viết truyện The Courtyard Hound.”
“Mày nghĩ…ý mày muốn nói là phê bình cuốn The Courtyard Hound? Ừ, đúng vậy. Tao đã nói với mày rồi. Một ngày nào đó tao sẽ thuyết trình về cuốn sách đó. Có lẽ có bảy người trong nước Nga hiểu rõ hơn tao về Ushakovo. “
“Tao nghĩ Ushakovo không có thật.” Tôi đẩy cái mũ lên cao để có thể nhìn hắn rõ hơn. “Mày luôn nói với tao là cuốn sách này đã xưa lắm rồi, nhưng tao chưa hề nghe ai nhắc tới. Và mày rất vui mừng khi nghe tao nói là tao thích nó, mày rất hãnh diện. Nếu tao nhắc ý tưởng của Pushkin với mày, mày chỉ nói viết hay thế thôi, nó đâu có làm cho tao hãnh diện, phải không? Những câu đó không phải do tao viết ra mà.”
Thái độ của hắn không hề thay đổi. Vẻ mặt chẳng tỏ ra chấp nhận hay chối từ điều gì. “Nhưng mày thích phải không?”
“Cũng không tệ lắm, mày mới nghĩ ra điều đó phải không?”
“Mới vài giờ thôi. Mày biết cái gì gây cảm hứng cho tao không? Bài thơ của Bố mày. ‘Một nhà thờ kỳ cựu, nổi tiếng một thời, thấy trong quán cà phê.’”
“Đó là một manh mối khác. Mày đã ăn cắp ý của ổng rất tự nhiên.”
Hắn cười lớn, thả một ngụm hơi lớn vào không khí lạnh lẽo.
“Đây là văn chương. Chúng ta không gọi đó là ăn cắp; chúng ta gọi là sự tôn kính. Thế còn câu đầu tiên của cuốn sách? Mày cũng thích phải không?”
“Tao không nhớ câu đầu tiên của cuốn cách.”
“Trong lò sát sinh, nơi chúng tôi hôn nhau lần đầu, không khí vẫn còn tanh mùi máu cừu.”
“Hơi quá đáng, phải không?”
“Kịch nghệ một tí thì sao chứ? Tất cả những văn sĩ hiện đại đều là những con cá con nhút nhát – .”
“Tao nói là phóng đại.”
“—nhưng nếu đề tài đòi hỏi sự chú ý tối đa, nó phải được chú ý tối đa.”
“Thế ra lâu nay… Tại sao mày không chịu thú thật với tao là mày đang viết một tiểu thuyết?”
Kolya ngắm mặt trăng, đang từ từ xuống tới đỉnh mấy cây thông. Chẳng bao lâu nữa, chúng tôi sẽ lội bộ trong màn đêm dày đặc, chúng tôi sẽ vấp phải những rễ cây và trượt chân trên những đống băng đá đen thùi.
“Sự thật là, trong đêm đầu tiên tao gặp mày? Trong nhà tù The Crosses? Tao tưởng là chúng mình sẽ bị bắn bỏ vào rạng sáng hôm sau. Cho nên tao có nói với mày diều gì thì cũng có gì quan trọng ? Tao đã nói bất cứ ý tưởng gì nảy ra trong đầu của tao lúc đó.”
“Mày đã nói với tao có lẽ họ sẽ không bắn chết mình mà!”
“Tự vì mày trông có vẻ sợ hãi. Nhưng mà suy nghĩ cho cùng: một tên ăn trộm và một thằng đào ngũ? Chúng ta còn gì để hy vọng?”
Cái cây tôi chọn làm đích sắp tới dường như xa vời vợi, một cái bóng của cây thông to lù lù cao hẳn hơn những anh em khác của nó, một cây thông đứng canh im lìm, già hơn những cây khác. Trong khi tôi thở hổn hển thì Kolya nhắp nước trà trong cái bình nhôm của nó, giống như một người ưa cảnh thiên nhiên dạo chơi ngoài trời lúc ban đêm. Khẩu phần của lính vượt xa khẩu phần người dân thường – đó là tôi tự lý giải cho sức khỏe bền bỉ vượt bực của hắn, gạt bỏ sự thật là chúng tôi ăn cùng một thứ khẩu phần đã mấy ngày hôm nay.
“Mày nói là mày bỏ đơn vị để bảo vệ luận án về cuốn sách The Courtyard Hound của Ushakovo,” tôi nói, ngưng giữa mỗi câu để thở. “Và bây giờ mày thừa nhận rằng không có Ushakovo và cũng chẳng có The Courtyard Hound.”
“Nhưng rồi sẽ có. Nếu tao sống tới ngày đó.”
“Thế tại sao mày bỏ đơn vị?”
“Hơi rắc rối một chút.”
“Hai người sắp sửa ấy nhau trong bụi rậm phải không?”
Kolya và tôi nhẩn nha, trong khi Vika bắt kịp phía sau không một tiếng động, gần đến nỗi tôi có thể dang tay ra sờ được má của nàng. Cô ta nhìn trừng vào mặt chúng tôi với vẻ khinh khỉnh, tỏ thái độ chán ghét vì đã nhập bọn với hai tên lính chẳng ra gì.
“Các anh đã được lệnh đi hàng một cách nhau 9 bước.” Âm thanh rất thấp so với kích thước bé bỏng của nàng, rè rè, như thể nàng đã bị bịnh tuần trước, và thanh quản chưa khỏi hẳn. Cô ta là người ra dấu bằng miệng, có thể phát âm từng chữ để chúng tôi có thể hiểu tất cả, mà những người đứng cách xa 5 thước chẳng hề nghe thấy gì.
“Hai người đi thơ thẩn với nhau như đôi đồng tính, bàn bạc về sách vở. Chắc các người biết là chúng ta đã gần đến trại lính Đức chỉ cách đây 2 cây số thôi? Các người muốn bị chôn cùng lỗ với đám Cộng Sản và Do Thái thì đó là chuyện riêng của các người, còn tôi dự định sẽ viếng thăm Bá Linh năm tới.”
“Hắn là người Do Thái.” Kolya nói, chỉ vào tôi bằng ngón tay cái, mặc kệ tôi giận dữ nhìn hắn.
“Đúng không? Thôi được, anh là người Do Thái ngu đầu tiên tôi gặp. Hãy chọn quay trở lại thành phố Piter hay là ngậm miệng lại, và theo kỷ luật của chúng tôi. Đó là lý do tại sao chúng tôi chưa mất một người nào trong hai tháng qua. Bây giờ tiếp tục đi đi.”
Nàng đặt một tay trên lưng của mỗi đứa và đẩy cả hai về phía trước. Chúng tôi im lặng, xấu hổ, trở về vị trí cũ trong đội hình hàng một, khoảng cách 9 bước.
Có một lý do nào đó tôi không hề giận Kolya. Tôi suy tư về một tác giả không có thật Ushakovo và một tác phẩm vĩ đại không hề có The Courtyard Hound. Đó là sự bịa đặt lạ lùng, nhưng vô hại, càng bước xa tôi càng hiểu động cơ thúc đẩy hắn. Kolya dường như không biết sợ là gì, nhưng mà nói cho cùng ai cũng có nỗi sợ hãi tiềm ẩn đâu đó trong người; nỗi sợ hãi là một phần di sản của chúng ta. Có phải tổ tiên chúng ta là những con chuột bé nhỏ rụt rè, ẩn nấp hèn hạ trong bóng tối, để những thú dữ hiên ngang bước ngang qua? Bọn ăn thịt người và Phát Xít Đức không làm Kolya mất bình tĩnh, nhưng mà cơ hội bị mất mặt làm hắn lo sợ -- có thể một người lạ mặt nào đó sẽ chê bai khi đọc những hàng chữ hắn đã viết.
Cha tôi có rất nhiều bạn bè, hầu hết là người cầm bút, và họ đã chọn căn chung cư của chúng tôi làm hội quán bởi vì tài nấu ăn của mẹ tôi và cũng vì cha tôi không muốn tống cổ ai ra ngoài. Mẹ than phiền rằng bà đã điều khiển một khách sạn văn. Một nơi hôi mùi thuốc lá và mẩu thuốc còn lại quăng tứ tung, trong các chậu cây kiểng, trong những tách nước uống dở dang. Một đêm, một nhà soạn kịch tài ba muốn dựng lại cuộc chiến Cannae, ông ta nhét hàng tá mẩu thuốc lá vào những chân đèn cầy bằng thủy tinh, chung với sáp còn đọng trong đó, đặt trên chiếc bàn nhà bếp. Những chân đèn là biểu tượng cho đội quân của đế quốc La Mã và đế quốc Carthage. Nhà soạn kịch muốn trình bày chiến thuật tấn công cùng lượt hai bên mạn sườn (Double envelopment) do tướng Hannibal chỉ huy. Mẹ tôi khổ sở với sự ồn ào, thủy tinh bể, thảm hôi mùi rượu rẻ tiền của Ukraine, nhưng tôi biết người thích được chiêu đãi đám văn thi sĩ đó, hài lòng khi họ ăn ngấu nghiến món thịt hầm của bà hay ca tụng những cái bánh bà làm. Khi bà còn trẻ, bà là người đàn bà đẹp, dù không cợt nhả với ai nhưng bà cũng thích những kẻ có mã chọc ghẹo bà. Bà hay ngồi trên trường kỷ bên cạnh cha tôi và lắng nghe những cuộc tranh luận, những lời huyênh hoang và chê bai ồn ào, bà chẳng nói gì nhưng nghe tất cả, dành để chất vấn cha tôi khi người say cuối cùng lảo đảo bước ra khỏi nhà. Bà chẳng phải là văn sĩ, nhưng là một đọc giả khôn ngoan, đam mê và trung hòa và cha tôi rất tin tưởng vào sự nhận xét của bà. Khi một nhân vật nổi tiếng viếng thăm chung cư của chúng tôi, như Mandelstam hay Chukovksy chẳng hạn, Mẹ chẳng đối đãi gì đặc biệt, nhưng tôi có thể thấy, Bà quan sát họ kỹ lưỡng hơn, thẩm định cách cư xử của họ với cha tôi. Trong ý nghĩ của Bà, giới cầm bút được phân chia cấp bậc chính xác như quân đội; cấp bậc không có chức tước và huy hiệu nhưng họ xếp hạng cũng như thế, và Mẹ muốn biết cha tôi đứng ở vị trí nào trong hàng ngũ đó.
Đôi khi, sau khi tất cả các chai rượu đã cạn hết, một thi sĩ nào đó sẽ đứng dậy lắc lư một chút như thể cơn gió mạnh đang thổi đến, và đọc bài thơ mới sáng tác của mình. Tôi mới vừa tám tuổi, từ ngoài hành lang chạy vào phòng khách, biết rằng mình sẽ bị chặn lại rất mau, hy vọng người ấy là cha tôi (ông chẳng bao giờ nổi giận, Mẹ thì sẽ nhanh nhẹn đánh vào sau lưng), những bài thơ ấy chẳng có ý nghĩa gì với tôi. Hầu hết các nhà thơ đều muốn họ sẽ nổi tiếng như Mayakovsky, và trong khi họ chẳng thể nào sánh với tài năng của ông ta nên bắt chước khả năng của ông, hét lên những vần thơ không có nghĩa lý gì đối với một cậu bé 8 tuổi như tôi, và có thể có một chút ý nghĩa đối với những người khác đang ở trong phòng. Nhưng dù những bài thơ đó không gây một ấn tượng nào với tôi, cách trình diễn của họ thì có – những người bự con này với chân mày rậm rạp, luôn cầm thuốc lá giữa những ngón tay, cái tàn dài gãy ra rơi xuống nền nhà mỗi khi họ vung tay quá mạnh. Họa hoằn lắm mới có một người đàn bà đứng lên, bà ta sẽ bị nhìn chòng chọc – Một lần ngay cả nữ sĩ Akhmatova cũng bị như vậy, đó là theo lời mẹ tôi kể lại, tuy nhiên tôi không nhớ là đã thấy bà ta.
Đôi khi các thi sĩ đọc từ những tờ giấy ghi vội, hay chỉ đọc theo trí nhớ. Khi họ đọc xong, nhận ra rằng tất cả mọi người đều chăm chú nhìn mình, họ vội vơ lấy ly rượu nào gần nhất – không phải chỉ để uống, mà còn muốn có cái gì để làm, khiến chân tay không thừa thãi trong khi chờ đợi phản ứng của thính giả. Đây là một đám khán giả bao gồm những nhà chuyên nghiệp, những đối thủ cạnh tranh, và thường tán thưởng một cách hời hợt, vài cái gật đầu nhè nhẹ, vài nụ cười, hay vỗ nhẹ trên lưng.
Một hay đôi lần, tôi chứng kiến những người cầm bút hay ganh tị này bỗng cuồng nhiệt cổ võ, họ quá xúc động đối với một bài thơ hùng hồn, họ đã quên mất lòng ganh tị và hét lên, “Hoan Hô! Hoan Hô!” rồi chạy đến hôn trên má người thi sĩ đang vui mừng ngơ ngác với đôi môi ẩm ướt nhễ nhại, họ vò đầu tóc thi sĩ, đọc lại những câu thơ hay nhất, và gục gặc đầu tán thưởng.
Ngoài ra, thường thì họ phản ứng một cách khinh khỉnh trong yên lặng, không ai muốn nhìn vào mắt người thi sĩ hay giả vời bày tỏ sự quan tâm đến đề tài thi sĩ trình bày, hoặc chỉ khen ngợi một cách hời hợt sự xử dụng một ẩn dụ sống động. Khi một buổi diễn ngâm thất bại, người thi sĩ nhận ra được ngay. Thi nhân sẽ nốc một ly rượu, dùng tay áo của mình chùi mép, khuôn mặt đỏ ửng vì xấu hổ và lủi ra xa, làm ra vẻ chăm chú những cuốn sách trên kệ của cha tôi – như Balzac và Stendahl, Yeats và Baudelaire. Kẻ thất bại sẽ dời khỏi buổi họp mặt sau đó, nhưng bỏ đi quá sớm sẽ tỏ ra mình không có tinh thần thượng võ, một kiểu phản kháng hèn hạ, cho nên thi sĩ phải chờ đợi trong hai mươi phút một cách đau khổ, những người khác cố gắng không nhắc đến bài thơ ấy, tỷ như một cái rắm thối mà không ai nhẫn tâm kêu lên. Cuối cùng thi sĩ sẽ cám ơn mẹ tôi những món ăn ngon và lòng hiếu khách của bà, mỉm cười nhưng không nhìn vào mắt bà, và vội vàng biến ra khỏi cửa. Thi sĩ cũng biết rằng chỉ một phút sau thôi, mọi người sẽ chế nhạo về sự thảm khốc ông ta đã trình bày, nào là thật khủng khiếp, nào là một cái bao lổn nhổn những kỳ vọng và gian xảo
Kolya tự bảo vệ bằng cách đẻ ra Ushakovo. Một nhà văn tưởng tượng làm con rối để hắn có thể mang ra thử thách câu mở đầu, triết lý của nhân vật chính, ngay cả tiêu đề của cuốn sách, đo lường phản ứng của tôi mà không sợ bị chế nhạo. Sự dối trá, dù không hoàn hảo nhưng hắn đã kết thúc một cách vẹn toàn, và tôi nghĩ rằng nếu hắn sống sót qua cuộc chiến này, một ngày nào đó hắn sẽ viết một tiểu thuyết giá trị nếu chịu bỏ đi câu mở đầu sáo ngữ đó.
Cuộc nói chuyện với Kolya và đối đầu với Vika đã làm tôi tỉnh ngủ, tôi quan sát chung quanh khu rừng, hy vọng người đi trước và sau tôi có thể nhìn trong đêm tối rõ hơn tôi. Trăng đã xuống dưới ngọn cây; bình minh thì ít nhất vài giờ nữa mới đến; bây giờ bóng tối bao phủ mọi nơi. Đã hai lần tôi xém đụng vào thân cây. Bầu trời đầy sao, nhưng chỉ dể trang trí thôi, và tôi tự hỏi tại sao những mặt trời xa vời đó chỉ hiện ra như những đốm lửa chỉ to bằng đầu mũi kim. Nếu những nhà thiên văn nói đúng, và vũ trụ dầy đặc những vì sao, nhiều vì sao đó còn to hơn cả mặt trời gấp bội, và nếu ánh sáng di chuyển mãi mãi không bao giờ chậm hay biến mất, thì tại sao bầu trời không sáng rực rỡ suốt ngày? Câu trả lời thật là hiển nhiên mà tôi nghĩ mãi không ra. Ba mươi phút trôi qua, tôi không hề lo lắng đến bọn sát thủ Einsaztkommandos và người chỉ huy chúng, Abendroth; tôi quên mất cái bắp thịt bị chuột rút ở chân tôi; tôi cũng chẳng để ý đến cái giá lạnh của đêm đông. Có thể nào những vì sao giống như cái đèn pin, không thể nào chiếu sáng vượt qua một khoảng cách xa nào đó không? Từ trên nóc nhà của khu chung cư Kirov tôi có thể thấy được ánh sáng đèn pin của người lính ở cách xa vài cây số mặc dầu ánh sáng đó không soi sáng được mặt tôi. Nhưng một lần nữa, tôi tự hỏi tại sao ánh sáng đèn pin đó yếu đi sau khi di chuyển một khoảng cách? Có phải những hạt ánh sáng tung ra như những viên bi trong đạn shotgun? Có phải ánh sáng được tạo thành bởi những hạt li ti?
Những cái thắc mắc không rõ ràng của tôi cuối cùng cũng chấm dứt khi tôi đụng phải lưng của Kolya, đập cái mũi tôi vào đó và la lên vì bất ngờ. Hàng chục tiếng “suỵt” nổi lên bảo tôi im lặng. Nheo mắt nhìn những bóng lờ mờ trước mặt, tôi thấy tất cả mọi người đã tề tựu bên cạnh một tảng đá lớn bị tuyết che phủ. Vika đã đứng trên đỉnh tảng đá; tôi không hiểu làm sao nàng có thể leo lên cạnh đá trơn, đóng băng trong đêm tối.
“Chúng nó đang thiêu rụi làng mạc,” nàng nói xuống với Korsakov. Ngay khi đó tôi ngửi thấy mùi khói trong không khí.
“Chúng nó đã tìm được những tử thi,” Korsakov trả lời.
Tụi Đức đã tuyên bố rõ chính sách trả thù đối với cư dân trong vùng bị chiếm đóng. Chúng dán cáo thị trên tường; đọc công bố trên đài truyền thanh nói tiếng Nga của họ; nhắn tin qua đám cộng tác viên rằng: một lính Đức bị chết, chúng sẽ giết 30 người Nga để trả thù. Săn bắt kháng chiến quân thì khó, nhưng gom một số đông người già, đàn bà và trẻ con thi dễ, dù bây giờ một nửa nước đang chạy trốn.
Tôi cũng không biết Korsakov và bọn người của ông ta có động lòng khi biết rằng bao nhiêu người vô tội đã bị tàn sát vì cuộc tập kích lúc chập tối của đám kháng chiến quân không? Tôi không nghe bọn họ đả động gì tới cả trong cuộc trao đổi thì thầm với nhau. Kẻ thù đã tuyên chiến toàn diện khi xâm chiếm đất nước chúng tôi. Chúng lập lại lời thề nhiều lần là sẽ thiêu rụi tất cả thành phố và bắt dân chúng làm nô lệ. Chúng tôi không thể chiến đấu một cách nhân nhượng. Chúng tôi không thể đánh một cuộc chiến toàn diện với một nửa về phía chúng tôi. Kháng chiến quân sẽ tiếp tục tấn công bọn Đức và quân thù sẽ tiếp tục giết hại người dân không trang bị vũ khí; và dần dà tụi phát xít Đức sẽ hiểu được rằng chúng không thể thắng cuộc chiến dù rằng chúng vẫn giết 30 người dân cho mỗi tên lình Đức bị chết. Bài tính thật phũ phàng, nhưng bài tính phũ phàng luôn luôn mang lại lợi thế cho nước Nga.
Vika nhảy xuống từ tảng đá. Korsakov bước lại trao đổi tin tức với nàng. Khi đi ngang qua chúng tôi, anh ta lẩm bẩm với Kolya, “Thôi, chỉ có vậy cho Novoye Koshkino.”
“Chúng ta không đến đó sao?”
“Tai sao phải đến đó? Mục đích là đến đó trước khi mặt trời mọc và tìm kiếm bọn Einsatz. Cậu có ngửi thấy mùi khói không? Bọn Einsatz đang săn lùng chúng ta đó.”
Chương 18
Đám dân quân dùng một căn nhà cách hồ Ladoga vài cây số trong đất liền làm nơi trú ẩn, đó là cái chòi nhỏ của người thợ săn đã bị bỏ hoang từ lâu, ẩn trên sườn đồi dầy đặc cây thông. Chúng tôi đến đó một giờ trước bình minh. Bầu trời chuyển dần từ đen ra xám, tuyết rơi nhẹ khi trời sáng tỏ hơn. Mọi người đều nghĩ đó là một điềm tốt, tuyết sẽ che phủ những dấu chân và báo hiệu một ngày ấm áp hơn.
Trên đường tới cái chòi để dừng chân chúng tôi đi theo dãy sườn đồi nhìn xuống một ngôi làng bị đốt. Lửa đã dịu, những căn nhà nhỏ xập xuống không một lời than vãn, tàn lửa bùng lên không trung. Từ xa nhìn rất đẹp, và tôi nghĩ thật là kỳ cục, sự tàn bạo thường làm đôi mắt thỏa mãn, giống như nhìn đạn lửa vẽ những đường sáng trong đêm tối. Khi đi ngang ngôi làng chỉ cách không hơn 1 cây số, chúng tôi nghe tiếng súng nổ, bảy hay tám cây súng máy vang rền đồng điệu. Ai cũng hiểu tại sao nhưng vẫn tiếp tục bước đi.
Căn chòi hình như được ghép bởi những mảnh gỗ cũ bằng đinh rỉ sét. Chủ nhân của nó chắc không có nhiều kinh nghiệm về thợ mộc và chỉ làm qua loa. Cánh cửa xiêu vẹo trên bản lề, không có cửa sổ, chỉ có một ống khói nhỏ nhô ra khỏi mái nhà cho khói thoát hơi, nền nhà được làm bằng đất nện cứng. Bên trong, mùi phân người hôi thối rất khó chịu. Trên tường có những dấu hằn sâu như thể bị cào bởi móng sắc thú vật, và tôi suy nghĩ mãi trong đầu về một cảnh tượng trong đêm tối, khi những ngọn đèn cầy đã tắt ngúm, không biết mấy con ma của lũ chồn, cáo bị lột da có hiện hồn ra để cũng làm như vậy với khách vãng lai không.
Bên ngoài trời vẫn lạnh, trong nhà chỉ là nơi tránh gió và chẳng ấm áp thêm tí nào. Korsakov chỉ định người gác ca đầu tiên, thật không may mắn cho anh ta. Anh chàng mặc bộ đồ trượt tuyết cởi túi đeo lưng xuống và gầy một “lò sưởi sang trọng”, bằng những mảnh gỗ vụn còn sót lại. Khi ngọn lửa trong lò bùng lên, chúng tôi chen chúc ngồi sát lại gần nhau, mười ba người đàn ông và một đàn bà – hay nói đúng ra, mười hai đàn ông, một đàn bà và một thằng nhóc. Trong đêm đó, tôi tự hỏi hằng trăm lần, không biết nàng trông nàng như thế nào nếu cởi hết những quần áo bẩn thỉu đó ra, chắc chỉ thấy làn da nhợt nhạt dơ dáy che phủ những đường gân máu xanh xao. Không biết nàng có đôi nhũ hoa không hay ngực phẳng lì như một thằng con trai? Hông nàng nhỏ nhắn như của tôi, điều đó thì khẳng định rồi, nhưng dù với mái tóc cắt ngắn và chiếc cổ đầy đất vẫn không thể dấu được vẻ đàn bà bởi cái môi dưới cong cớn một cách lãng mạn như vậy. Không biết mấy người đàn ông trong bọn họ có để ý đến nàng không, hay họ cũng nhìn nàng như Korsakov đã nhìn, một người bắn sẻ chẳng có gì hấp dẫn với đôi mắt kỳ lạ. Họ ngốc nghếch hay tôi nhỉ?
Phân người hôi thối làm tôi chảy nước mắt, nhưng chẳng bao lâu mùi khói át hẳn mùi hôi, lửa và thân nhiệt ấm áp làm căn nhà dễ chịu hơn. Bây giờ tôi có thể ngủ ở bất cứ chỗ nào, với chiếc áo choàng hải quân của cha tôi làm nệm và khăn choàng cổ gấp lại làm gối, lần đầu tiên vừa đặt mình xuống là tôi thiếp đi.
Một lúc sau, Kolya thúc nhẹ.
Hắn nói nhỏ: “Này, mày còn thức không?”
Tôi nhắm mắt thật chặt, hy vọng hắn sẽ để tôi yên.
“Mày giận tao hả?” hắn hỏi. Miệng hắn sát bên tai tôi, hắn có thể thì thầm thẳng vào óc tôi không sợ làm phiền những người khác. Tôi muốn đấm một cái để hắn im miệng, nhưng tôi không muốn hắn đánh lại.
“Không,” tôi trả lời. “Ngủ đi.”
“Tao xin lỗi đã nói dối mày. Mặc dù tao tưởng là chúng ta sẽ chết, dù sao tao cũng sai rồi.”
“Cám ơn,” tôi bảo hắn, rồi nằm nghiêng một bên hy vọng hắn sẽ hiểu ý tôi.
“Mày thích tựa đề cuốn sách phải không? The Courtyard Hound? Mày hiểu nghĩa gì không?”
“Làm ơn … để tao ngủ.”
“Xin lỗi, thôi ngủ đi.”
Ba mươi giây trôi qua im lặng, tôi không thể thản nhiên được bởi vì tôi biết hắn vẫn còn thức, nhìn lên trần nhà, chờ để hỏi tôi câu khác.
“Mày muốn biết sự thật tại sao tao trốn khỏi tiểu đoàn của tao phải không?
“Ngày mai hãy nói.”
“Tao đã không gần đàn bà bốn tháng. Hai viên bi của tao kêu leng keng như hai quả chuông nhà thờ. Mày tưởng tao nói đùa phải không? Tao không giống như mày. Tao không kềm chế được như mày. Tao làm tình với bạn gái đầu tiên 3 ngày liên tiếp sau khi làm lần đầu. Lúc đó tao vừa 12 tuổi, chưa mọc lông, nhưng tao đã nhét vào con bé Klava Stepanovich trong buồng lò đốt, bum bum bum.”
Bum bum bum?
“Tao nói cho mày nghe, tao thèm khát như thế nào. Một tuần mà không được thỏa mãn, đầu óc tao không tập trung được, không suy nghĩ được, tao đi lòng vòng trong giao thông hào với thằng nhỏ ngỏng lên mãi.”
Hơi thở của hắn nóng hổi bên tai, tôi cố nhích xa hơn nhưng chúng tôi đều chen chúc với nhau trên nền nhà như những điếu thuốc lá đựng trong bao giấy.
“Cả tiểu đoàn dự định làm tiệc ăn mừng đêm giao thừa. Có rượu vodka, và ca hát nữa; Tao nghe đồn, tụi lính đã tìm được mấy con heo dấu trong nhà kho nông trại nào đó, và họ sẽ làm heo quay. Cả đêm vui nhộn phải không? Cho nên tao nghĩ đây là cơ hội tốt, để họ thưởng thức vodka và heo quay, tao có công việc riêng của mình. Nơi đóng quân chỉ cách Piter chưa đến một giờ lái xe. Tao có người bạn liên lạc về bộ chỉ huy. Anh ta sẽ làm việc ba bốn giờ ở thành phố. Toàn hảo. Tao đi theo anh ta, hắn bỏ tao ở nhà người bạn – “
“Sonya?”
“Không, một cô gái tên Yulia. Không phải là hoa hậu thế giới, cũng không phải là người đẹp. Nhưng nghe này Lev, cô này làm tao thèm muốn khi nàng dũa móng tay. Em bé của nàng như là ảo thuật. Thật đấy. Nàng sống trên lầu 6, trong lúc leo lên đó, tao đã chuẩn bị sẵn. Định làm tình kiểu nào – đẩy nàng nằm trên trường kỷ, chổng mông, thọc sâu vào. Tao không biết mày có học được gì ở dưới nhà không, nếu không, thì đó cũng là kiểu làm tình mày thích. Mày sẽ vô sâu lắm. Cuối cùng cũng lên tới căn chung cư của nàng, tao bắt đầu mở dây lưng ra và đập cửa nhà nàng, một bà già mở cửa. Chỉ cao hơn người lùn một chút, trông như bà già 200 tuổi. Tao bảo với bà ta rằng tao là bạn của Yulia và bà nói với tao rằng: ‘Chúa tha tội cho tôi, Yulia đã chết cách nay một tháng.’ Chúa tha tội cho tôi! Khốn nạn thật! Cho nên tao nói chia buồn với mụ già, cho mụ một mẩu bánh mì vì mụ không đứng nổi, và chạy xuống dưới nhà. Thời gian không còn nhiều. Còn một con nhỏ nữa ở gần đó, một trong những nữ vũ công mà tao đã kể cho mày nghe. Nàng có trái tim băng giá nhưng sở hữu một cặp giò đẹp nhất Piter. Tao phải leo qua cổng sắt để vào tòa nhà nàng ở, chút xíu thì bị cọc sắt chọc thủng đít, nhưng cũng vượt qua được. Lên đến chung cư của nàng, đập cửa và nói ‘Anh đây, Nikolai Alexandrovich, cho anh vô nhà với.’ Cửa mở ra, thằng chồng mập ú mắt chuột nhìn chòng chọc vào tao. Thằng thối tha đê tiện chẳng bao giờ ở nhà, trừ hôm nay. Hắn là người của đảng, dĩ nhiên rồi, hắn thường làm việc trong văn phòng, vẽ ra những luật lệ mới cho quân đội, nhưng hôm nay quyết định ở lại nhà để hành hạ mụ vợ trong đêm giao thừa. Hắn hỏi tao một cách giận dữ “Anh là ai? Làm gì ở đây?’ như thể tao làm hắn mất mặt vì đập cửa nhà hắn và đòi hỏi cái ấy ướt át của vợ hắn đặt trên đĩa. Tao muốn đấm hắn ngã chổng gọng, nhưng như vậy đời tao cũng tàn, cho nên tao chào hắn, một thằng dân sự khốn kiếp, bảo hắn là tao gõ nhầm cửa nhà, và biến mất. Bây giờ thì tao khốn nạn rồi. Chỉ còn mỗi con nhỏ quen ở phía này thành phố tên là Roza, nhưng mà nàng là gái điếm chuyên nghiệp mà tao thì chẳng còn đồng nào dính túi. Tao là khách quen, may ra nàng tin tưởng, may ra nàng sẽ lấy đồ ăn để trao đổi, phải không? Nàng ở cách đó chừng hai cây số thôi. Tao chạy vội vã, mồ hôi chảy ra nhễ nhại, đã từ hồi tháng Mười, chưa bao giờ đổ mồ hôi như thế. Chẳng còn nhiều thì giờ trước khi thằng bạn tao trở lại. Chạy gần đứt thở, cuối cùng cũng đến được khu chung cư, nhảy 4 cấp thang lầu mới đến căn phòng của nàng; cửa không khóa, tao lách vào, thấy đã có 3 tên lính đợi trong nhà bếp, đang chuyền tay nhau chai vodka. Tao có thể nghe được tiếng rên rỉ của nàng trong phòng bên kia và ba tên đần độn say khướt này đang vỗ lưng nhau ca nhạc đồng quê. Tên cuối cùng trong khách chờ nói:’Đừng có lo, tôi sẽ mau thôi’.
“Tao đề nghị cho họ tiền để được đi trước, nhưng mà tao thì không có tiền và bọn họ cũng không đến nỗi ngu đần cho lắm để lấy giấy nợ của tao. Tao nói với họ tao phải trở về đơn vị, một trong ba tên đó nói ‘Đêm nay là đêm Giao Thừa, ai cũng say sưa! Miễn là anh bạn cứ trở về sáng hôm sau là được.’ Nghe cũng đúng, bọn họ vẫn chuyền tay nhau chai vodka, chẳng bao lâu tao nhập bọn uống với họ và hát nhạc đồng quê khốn kiếp đó còn to hơn bọn chúng. Một giờ sau tao cũng được nằm với Roza. Tao không cần biết ai nói gì về gái điếm, nàng là cô gái dễ thương – nàng chịu trao đổi với tao để nhận miếng bánh mì còn sót lại, chẳng nhiều nhặn gì. Nàng nói cái đó của nàng đau lắm nên phải dùng miệng vậy. Mười lăm phút sau tao đã hứng trở lại, nàng cười và nói, ‘Ồ, em thích anh, trẻ và sung sức,’ và nàng để tao làm từ từ, nhẹ nhàng. Rồi nửa giờ sau lại làm lần nữa. Có lẽ tao cũng sả cả lít dung dịch trong người nàng, từ trên xuống dưới.”
Tôi cảm thấy hơi khó chịu khi nghĩ rằng Kolya đã đang tự làm hắn động tình khi kể lại câu chuyện.
“Thế là mày đã trễ chuyến xe trở về đơn vị?”
“Tao đã trễ cả mấy tiếng đồng hồ. Nhưng chẳng lo lắng gì cả, có thể quá giang xe khác trở về mà. Tao quen hầu hết mấy tên tài xế liên lạc hậu cứ, chẳng khó khăn gì. Mày phải thấy tao bước ra khỏi khu chung cư của Roza như thế nào: một người hoàn toàn khác với lúc bước vào, thoải mái, mặt mày rạng rỡ, bước đi nhẹ nhàng. Bước ra khỏi cửa chính của tòa nhà, nhảy qua lối đi, và gặp chiếc xe tuần cảnh của tụi NKVD, bốn thằng chó đẻ chặn tao lại. Chúng nó đòi xem giấy phép. Tao trả lời chẳng có giấy phép gì cả. Tao chuyển văn thư cho Tướng Stelmakh – người làm kế hoạch hành quân, ông ta cần súng trường, đạn súng cối, ông ta không có thì giờ để ký sự vụ lệnh thối tha cho tao. Tao nghĩ Stelmakh là người cùng sắc tộc với mày, mày biết không?”
“Câu chuyện này đến khi nào mới chấm dứt? Mày định kể cho tao suốt đời sao?”
“Cái thằng tuần cảnh cao quý này hạch sách tao đủ điều, hắn vẫn còn bộ râu Hitler. Mày chắc đã nghĩ rằng giờ này mọi người trong nước Nga với bộ râu Hitler hẳn đã cạo hết rồi phải không, nhưng mà không, thằng khốn kiếp này tưởng rằng hắn trông đẹp trai lắm với bộ râu đó. Nó hỏi tao rằng tại sao tao chuyển văn thư cho tướng Stelmakh tới tòa nhà chung cư trong khu Vyborg. Tao quyết định nói cho nó biết một chút sự thật chắc chẳng hại gì, gợi lên một chút lòng trắc ẩn. Tao nháy mắt với nó, bảo rằng trong khi chờ đợi đón xe trở về bộ chỉ huy của tướng Stelmakh, tao đi xả xui một chút thôi mà. Mày chắc phải nghĩ rằng nó sẽ cười to và vỗ trên lưng tao rồi nói lần tới hãy xin sự vụ lệnh đàng hoàng trước khi rời khỏi đơn vị. Bốn tháng tao ở tiền tuyến thì cái thằng lùn râu ria này chạy lăng quăng trong thành phố Piter, săn bắt mấy tên lính mang chút thịt thà hay một ít gạo về cho gia đình. Tao đã sai lầm khi cố gợi lòng trắc ẩn của một tên cạo giấy văn phòng. Nó ra lệnh đàn em còng tay tao rồi cười khinh khỉnh như một thượng cấp và bảo tướng Stelmakh hiện đang ở Tikhvin, cách đây 200 cây số. ông ta mới thắng một trận quan trọng.”
“Đáng lẽ mày không nên nhắc tới Stelmakh. Đồ ngu.”
“Dĩ nhiên là tao ngu rồi! Thằng nhỏ của tao còn ướt!”
Mấy người dân quân thì thầm biểu hắn im miệng lại và hắn hạ giọng. “Đầu óc tao đặc quánh, không tin rằng nó lại kết tội tao. Mày có hiểu tình trạng của tao thay đổi mau đến cỡ nào không? Tao vừa mới là thằng lính rất đàng hoàng lúc buổi chiều, và chỉ 5 giờ sau bị kết tội đào ngũ.Tao tưởng đã bị bắn chết ngay tại đó trên đường phố. Nhưng chúng nó mang tao về nhà tù Crosses. Rồi tao gặp mày, thằng nhóc Do Thái buồn giận bất thường của tao.”
“Yulia chết như thế nào?”
“Cái gì? Tao không biết. Tao đoán là cô ta bị chết đói.”
Chúng tôi nằm yên lặng bên nhau vài phút, lắng nghe những người chung quanh ngủ say, một vài người ngủ yên lặng, có người khò khè trong lỗ mũi, có người ngáy như gió thổi qua ống khói lò sưởi. Tôi cố phân biệt hơi thở của Vika với người khác, chỉ là tò mò muốn biết ban đêm cô ấy ngáy như thế nào, nhưng mà không thể nào phân biệt được.
Tôi đã bị Kolya quấy nhiễu, nằm thao thức nghe hắn nói chuyện không ngừng, nhưng trong yên lặng, bỗng nhiên thấy cô đơn vô cùng.
“Mày ngủ chưa?” tôi hỏi.
“Hừm!” hắn lẩm bẩm, yếu ớt, đúng là một kẻ dễ ngủ, hắn đã kể xong câu chuyện, bây giờ thì chìm trong mộng mị.
“Tại sao ban đêm trời lại tối thui?”
“Cái gì?”
“Nếu có hằng tỉ ngôi sao, và hầu hết đều sáng rực rỡ như mặt trời, và ánh sáng di chuyển không ngừng, thì tại sao trời không luôn luôn sáng?”
Tôi thật sự không mong câu trả lời. Tôi đoán rằng hắn sẽ khụt khịt và bảo tôi ngủ đi thôi hay vỗ nhẹ trên người tôi và nói đại khái như “Trời tối vì mặt trời lặn mất rồi”. Nhưng hắn ngồi nhổm dậy nhìn tôi. Tôi có thể thấy bộ mặt nhăn nhó của hắn lờ mờ dưới ánh sáng của cái lò sưởi quý phái.
“Đó là câu hỏi rất hay,” hắn suy nghĩ một chút, rồi nhìn chăm chú ra ngoài khoảng không đen tối xa hẳn ánh sáng của lò sưởi. Cuối cùng, hắn lắc đầu, ngáp dài, và nằm xuống đất trở lại. Chỉ 10 giây sau hắn đã ngủ say, ngáy khò khò.
Tôi vẫn trằn trọc khi người gác trở vào đánh thức người kế thay phiên anh ta. Hắn bỏ thêm vài cành cây vào bếp lò, và nằm xuống trong cái vòng tròn của đám người hỗn tạp. Thêm một giờ nữa, tôi nằm nghe tiếng lốp đốp của củi cháy, suy nghĩ về ánh sáng của các vì sao và về Vika, cuối cùng tôi cũng rơi vào giấc ngủ và mơ thấy những cô gái mập mạp rơi xuống từ trên trời.
Chương 19
Người kháng chiến quân canh gác hối hả tông cửa vào đánh thức chúng tôi dậy trước buổi trưa, mặc dù rất hoảng loạn nhưng anh ta cố giữ giọng nói nhỏ nhẹ.
“Chúng đang tới,” anh ta nói. Chúng tôi vội vã đứng lên trước khi anh ta nói tiếp câu thứ hai, chụp vội đồ đạc và nhận thức được tình thế nguy hiểm cấp bách. Vì chân luôn luôn mang giầy, chúng tôi đã sẵn sàng di chuyển. “Hình như cả đại đội với tù nhân nữa.”
Korsakov choàng dây đeo súng qua vai. “Bộ binh hả?”
“Không thấy chiến xa nào cả.”
Ba mươi giây sau chúng tôi lẻn ra khỏi cánh cửa xiêu vẹo đi vào vùng ánh sáng rực rỡ đầy bất trắc. Anh sáng giữa trưa chói lòa khiến tôi mở mắt ra không nổi vì vừa thoát ra khỏi cái chòi không cửa sổ tối đen như nhà mồ. Chúng tôi vọt theo Korsakov, lệnh hiểu ngầm đơn giản của anh ta là: chạy cho lẹ.
Không còn cơ hội nữa. Dù người cuối cùng chưa ra khỏi cửa đã nghe tiếng bọn Đức la lối ầm ĩ. Nỗi sợ hãi là động lực chính, tôi trở thành con thú hoang, không suy nghĩ. Không khí ấm áp hơn và tuyết trở nên nặng nề ẩm ướt, bám chặt lấy chân tôi kéo xuống.
Khi tôi mới chín tuổi, một phái đoàn nổi tiếng của đảng Cộng Sản Pháp viếng thăm thành phố Piter, Đảng đã quét dọn đường phố. Những công nhân với điếu thuốc lá tòn ten trên môi, đổ nhựa đường trên đường Voinova rồi dùng chiếc bay cán dài chà cho bằng phẳng, khiến mặt đường giống như một đại lộ được trét bằng chocolate. Tôi đứng ngay cổng chung cư Kirov, xem cả buổi sáng cùng với anh em sanh đôi nhà Antokolsky.
Tôi không nhớ điều gì đã kích động chúng tôi để cùng đi đến một quyết định. Không nói một lời, không cả ngấm ngầm nhìn nhau, chúng tôi tháo bỏ giày vớ, ném vào sân chung cư, cứ thế chạy băng ngang qua đường. Dù có thể bị phỏng gót chân cũng không màng, chúng tôi đã để lại dấu chân trên mặt đường mềm và tiếp tục chạy đến lề bên kia. Vì biết rằng chẳng làm gì được, bọn công nhân chỉ khua cái bay dài và chửi rủa, chẳng thiết đuổi theo.
Phải mất cả tiếng đồng hồ tối hôm ấy để Mẹ chùi rửa sạch sẽ chân tôi, chà sát đôi bàn chân một cách giận dữ bằng đá chà và xà phòng. Cha tôi đứng bên cửa sổ, chắp tay sau lưng, cố nhịn cười khi ông nhìn xuống đường Voinova. Dưới ánh đèn, con đường bóng loáng và hoàn hảo, ba cặp dấu chân bé nhỏ in trên mặt giống như những vết chân chim hải âu trên cát ướt.
Băng ngang qua mặt đường khi nhựa đang khô chẳng giống chút nào với chạy trên tuyết đang tan; tôi không hiểu sao hai sự kiện đó lại liên quan với nhau trong trí nhớ của tôi, nhưng sự thật là như vậy.
Tiếng súng nổ vang rền trong rừng thông. Một phát đạn bay vèo qua, nghe rất to và gần, tôi sờ bên đầu thử xem có bị gì không. Người đi trước tôi ngã xuống đất, nhìn cách anh ta đột quỵ, tôi biết anh ta sẽ chẳng bao giờ còn đứng dậy được. Tôi không thể chạy nhanh hơn nữa và cũng không sợ hơn thế nữa. Chứng kiến người đàn ông gục ngã, chẳng thay đổi gì trong tôi. Lúc đó, tôi không còn là Lev Abramovich Beniov. Tôi không có mẹ đang sống ở Vyazma hay người cha đã chết nằm dưới nấm mồ không mộ bia ở đâu đó. Tôi không còn là hậu duệ của những nhà nghiên cứu luật Torah đội nón đen, bên nội hay những tiểu thư khuê các ở Mạc Tư Khoa, bên ngoại. Nếu một tên lính Đức nắm được cổ tôi lúc đó, tra tấn, bắt tôi khai tên bằng một thứ tiếng Nga chuẩn xác, chắc tôi đã không thể trả lời được, cũng không nghĩ được một câu đơn giản xin tha mạng.
Tôi thấy Korsakov quay lại định bắn trả những quân địch đang đuổi theo. Trước khi anh ta bắn được một phát nào, một viên đạn đã làm văng mất cái hàm dưới. Anh ta chớp mắt, đôi mắt vẫn còn sống động mặc dù nửa mặt dưới đã biến mất. Tôi vượt qua Korsakov, băng ngang một khe núi dốc, nơi dòng nước hẹp lại chỉ bằng một cái khe, tuyết tan ra thành nước chảy quanh co qua đá sỏi và nhánh cây gẫy kêu róc rách.
Theo trực giác, tôi đổi hướng, chạy theo dòng nước, trên những phiến đá trơn trợt, thẳng xuống chân đồi, bây giờ thì nhanh hơn nhờ đã bước ra khỏi tuyết. Thân thể tôi đang chờ một viên đạn vô tình, như một nhát rìu đập vào giữa hai xương bả vai, khiến tôi chúi mặt xuống dòng nước lạnh. Mặc kệ mọi khó khăn, tôi nhanh nhẹn lạ thường, chân tôi tự động nhảy những bước kế tiếp chẳng cần hỏi cái đầu, đôi giày đạp tung tóe nước lạnh ngắt, chẳng hề vấp té.
Tôi không biết đã chạy được bao lâu và bao xa, cuối cùng thì cũng phải dừng lại. Tôi nấp sau một cây tùng già, những nhánh cây trĩu xuống vì tuyết đang tan, tôi ngồi dưới bóng cây thở dốc. Cẳng chân không ngừng run lẩy bẩy, mặc dù tôi đã đè lòng bàn tay trên đùi. Sau khi lấy lại nhịp thở điều hòa, tôi đi vòng ra phía bên kia thân cây và nhìn lên đồi.
Ba người đàn ông đang tiến về phía tôi, súng trên tay, chạy đều đều, không ai mặc quân phục lính Đức. Người gần nhất mặc bộ đồ lính trượt tuyết màu trắng, tôi nhận ra đó là anh chàng dân quân đã mút chiếc nhẫn cưới từ ngón tay tên lính Đức đã chết. Mấy người kia goị anh ta là Markov. Ngay lúc đó, tôi thương anh ta quá đỗi, thương khuôn mặt đỏ gay lỗ mãng của hắn, cặp mắt sâu hoắm mà mới đêm hôm trước nhìn giống kẻ sát nhân.
Theo sau anh ta là Kolya, tôi cười mừng rỡ khi nhìn thấy hắn. Tôi chỉ mới gặp hắn đêm thứ sáu, và chẳng có cảm tình cho đến hôm thứ hai, bây giờ là chiều thứ ba, nhìn thấy hắn sống sót khiến tôi muốn khóc vì sung sướng. Hắn đã rơi mất chiếc mũ Astrakhan trong khi chạy thục mạng, đang vén tóc vàng phủ lòa xòa trên trán. Hắn quay sang nói gì đó với người chạy bên cạnh,vừa cười cợt vừa nói, tôi biết hắn đang nghĩ là mình vừa kể một câu chuyện khôi hài rất có duyên.
Người đi bên cạnh hoá ra là Vika. Khác với Kolya, cô bé còn giữ được chiếc mũ lông; nàng kéo chiếc mũ xuống sát chân mày, dù nhìn từ đàng xa tôi vẫn nhận ra đôi mắt chó sói xanh lơ, linh hoạt ngay dưới cái riềm chiếc mũ. Không cần biết Kolya nói gì, điều đó chẳng làm nàng buồn cười. Nàng cũng không thèm để ý nghe hắn nói, thỉnh thoảng lại nhìn về phía sau để coi chừng kẻ địch duổi theo.
Cuộc đào thoát có lẽ không kéo dài lắm (hai mươi phút? mười phút?), nhưng ký ức về cái chòi của người thợ rừng dường như tôi đã ăn trộm của ai. Nỗi kinh hoàng vì tin chắc rằng đời mình sẽ kết thúc một cách khủng khiếp đã chiếm hết ký ức và xóa đi tất cả những cái khác. Cho nên dù sau khi gặp lại Kolya, Vika, và Markov, dù lúc này tôi cho rằng khuôn mặt của họ đẹp nhất nước Nga, tôi cũng không thể gọi được tên họ hay vẫy tay mừng. Khoảng không gian bên dưới cành cây to nặng trĩu gần mặt đất là nơi trú ẩn an toàn của tôi. Từ khi tôi tới đây, không có gì thảm khốc xảy ra nữa. Bọn Đức đã không kiếm thấy tôi. Tôi không còn nhìn thấy ai bị văng mất xương hàm dưới, chẳng còn gì trừ đôi mắt thất thần trong cái đống bầy nhầy trên thềm nhà hàng thịt. Tôi cũng không thể ra dấu cho Kolya, mặc dầu sau bốn ngày hắn đã trở nên người bạn thân thiết nhất của tôi.
Có lẽ vì tôi đã làm một động tác gì đó như xoay mình hay rùng mình, gây tiếng động nhỏ khiến Vika chĩa mũi súng về tôi, báng súng tựa trên vai, đầu ruồi nhắm vào đầu tôi. Đến lúc đó tôi vẫn không thể nhanh miệng kêu lên một tiếng để cứu mạng mình. Tôi có thể gọi tên cô ta hay nói bất cứ một câu tiếng Nga nào đó cũng được.
Nhưng không hiểu sao, Vika nhận ra khuôn mặt tôi và đã không kéo cò súng, mặc dầu tôi ngồi khuất sau những nhánh cây phủ đầy tuyết.
“Đó là chú bạn bé con của cậu,” cô ta nói với Kolya. “Có lẽ cậu ta bị thương.”
Kolya chạy vội lại, kéo mấy nhánh cây tùng qua một bên, nắm lấy ve áo khoác, xoay thân thể tôi qua trái rồi qua phải để tìm lỗ đạn.
“Mày có bị thương không?”
Tôi lắc đầu.
“Vậy thì nhanh lên thôi.” Hắn kéo tôi đứng dậy. “Chúng nó không cách xa lắm đâu.”
“Chậm mất rồi,” Vika nói. Nàng và Markov cùng nhập bọn sau tàng cây, cô ta hướng cây súng về đỉnh đồi và ước lượng khoảng cách.
Tụi Đức mặc áo choàng trắng, đã vượt qua đỉnh đồi, khoảng cách chưa tới 200 thước, súng sẵn sàng, đi một cách thận trọng, quan sát địa hình sợ bị phục kích. Lúc đầu chỉ một vài người, tiến qua vùng băng tuyết, càng lúc càng nhiều người nhấp nhô vượt lên, cho đến lúc cả sườn đồi bên trên đầy những lính Đức, những kẻ đang muốn tiêu diệt chúng tôi.
Markov lôi ra một ống nhòm từ trong túi áo khoác. Anh ta quan sát đám lính tiền thám đang đi dần xuống.
“Sư Đoàn sơn chiến Gebirgsjager số 1,” Markov thì thầm, đưa ống nhòm cho Vika. “Cô có nhận ra dấu hiệu hoa sơn cúc trắng không?”
Bỏ ống nhòm ra, nàng gật đầu. Giữa hai hàng lính Đức là một đoàn tù nhân, đầu cúi thấp bao gồm lính Hồng Quân, quân phục bẩn thỉu thấp thểu bên cạnh một đám nông dân tội nghiệp, mặc đủ thứ quần áo họ vơ vội được khi lính Đức tấn công vào làng. Có một vài kẻ không may mắn chỉ mặc mỗi áo chemise dài tay không áo khoác, không mũ, không bao tay. Bọn họ lội bì bõm trên tuyết, thầm lặng, cúi đầu, hướng về phía chúng tôi.
“Dường như cả đại đội tiến về đây, “Markov nói trong khi anh ta cất chiếc ống nhòm và cầm súng ở vị thế sẵn sàng. “Hãy tưởng tượng, tôi vừa vớ được một túi đầy vàng.”
Vika đặt tay trên cánh tay Markov. “Anh định quyết tử mau quá nhỉ?”
Anh liếc nhìn nàng, nhắm nòng súng về tên lính Đức gần nhất.
“Bắn một tên lính bộ binh,” nàng nói, “chẳng đáng giá gì cả. Chúng ta săn lùng Einsatz mà.”
Anh ta cau có đẩy tay nàng ra như thể nàng là mụ điên trên đường phố đang xin tiền.
“Chúng ta không được chọn lựa. Tôi chỉ thấy toàn lính sư đoàn sơn chiến.
“Bọn truy sát Einsatzguppe A đi cùng với Sư Đoàn Sơn Chiến số 1 Gebirgsjager. Anh cũng biết vậy mà. Abendroth chắc chắn ở gần đây thôi.”
Kolya và tôi nhìn nhau. Đêm hôm qua chúng tôi nghe tên Abendroth lần đầu tiên; âm thanh đó gắn liền với nỗi kinh hoàng. Tôi không thể nào xóa được hình ảnh Zoya nằm quằn quại trên nền nhà với đôi chân vừa bị cưa lìa. Tôi không hình dung được chính hắn ra sao vì mấy cô gái đó không tả ra, nhưng tôi có thể hình dung đôi bàn tay vấy máu của hắn, móng tay giũa gọn gàng, cẩn thận đặt cái cưa xuống nền gỗ của căn nhà trong nông trại.
“Kết thúc rồi,” Markov nói. “Không phải chạy trốn nữa.”
“Tôi không bao giờ nói đến chạy trốn. Chúng nó bắt được hơn một trăm tù nhân. Chúng ta trà trộn vào đó.”
“Cô trở nên mềm yếu rồi chăng, cô bé tội nghiệp ơi? Cô nghĩ rằng cô bước ra với khẩu súng hướng lên trời, bọn Đức sẽ cho cô đầu hàng hả?”
“Chúng ta không đầu hàng.” Nàng dùng một bàn tay mang găng với lên cành cây thấp rồi đu người lên, dấu cây súng trường trong cái nách giữa nhánh và thân cây. Nhảy xuống đất, phủi hai tay cho sạch tuyết và ra dấu cho Markov cũng làm như vậy.
“Chúng ta sẽ trà trộn với đám tù nhân và chờ cơ hội. Chúng nó đã khám xét vũ khí trong đàn cừu đó rồi. Anh có khẩu súng ngắn dấu đâu đó trong người phải không? Mau lên.Vứt bỏ cây súng trường đó đi.”
“Chúng có thể khám xét lần nữa.”
“Không đâu.”
Tên lính Đức gần nhất chỉ còn cách 100 thước, cái chụp đầu cột chặt trên nón trận. Markov nhìn chăm chú đám lính, mấy cái mặt ửng đỏ của chúng là mục tiêu dễ dàng cho một tay bắn giỏi.
“Chúng sẽ giết một nửa đám tù nhân đó lúc trời vừa tối.”
“Cho nên chúng ta sẽ ở trong đám người thuộc nửa kia.”
Kolya mỉm cười gật đầu tán thành. Đó là cách khôi hài có thể chính hắn cũng đã nghĩ như vậy và tôi không ngạc nhiên mấy khi nhận ra hắn thích thú về điều ấy.
“Đáng thử lắm,” hắn thì thầm. “Nếu chúng ta trà trộn vào bọn họ, vẫn còn có cơ hội. Nếu chẳng may bị phát giác, cũng chẳng sao, chúng ta sẽ có cuộc đọ súng. Đó là một kế hoạch hoàn hảo.”
“Đó là kế hoạch thối bỏ mẹ,” Markov nói. “Làm sao chúng ta nhập bọn với họ mà không bị phát giác?”
Vika hỏi “Anh vẫn còn vài trái lựu đạn phải không?”
Markov trừng mắt nhìn nàng. Anh ta giống như một người bị đấm vào mặt nhiều lần, mũi tẹt như mũi của võ sĩ quyền anh, mất hết một nửa răng hàm dưới. Markov lắc đầu, máng cây súng vào khúc cụt của cành cây gẫy, rồi chăm chú nhìn hàng dài người đang tiến tới.
“Cô đúng là con đĩ già miệng, cô biết không?”
“Cởi bộ đồ trắng ra,” nàng trả lời. “Anh trông giống như lính trợt tuyết. Chúng nó sẽ nhận ra ngay.”
Markov nhanh nhẹn cởi nút áo khoác, ngồi trên tuyết và tuột ra khỏi giày. Dưới bộ áo khoác trắng, anh ta mặc cái áo thợ săn bằng vải dồi bông, mấy lớp áo len và dạ, cái quần dính sơn loang lổ của người thợ. Anh ta lấy ra một lựu đạn dài giống như khúc cây từ trong chiếc túi vải, mở một cái ngòi dài như điếu thuốc lá, và nhét chiếc ngòi nổ đó vào đầu trái lựu đạn.
“Chúng ta phải điều chỉnh thời nổ cho chính xác,” anh ta nói.
Chúng tôi chụm lại chung quanh gốc cây tùng to lớn, co người lại và im lặng, nín thở khi đám lính Đức chỉ còn cách chừng dưới 20 thước.
Không ai quan tâm đến hỏi ý kiến của tôi, cũng đúng thôi vì tôi chưa hề mở miệng đề nghị điều gì. Tôi chưa nói một tiếng nào từ khi chạy ra khỏi chiếc lều thợ săn và bây giờ thì đã muộn rồi.
Tôi chẳng đồng ý kế hoạch nào. Một cuộc đấu súng cuối cùng chỉ hợp cho du kích quân dầy dạn như Markov thôi, tôi thì chưa sẵn sàng cho một cuộc cảm tử như thế. Giả làm tù nhân dường như là một tính toán quá sai lầm – Một tù nhân có thể sống sót bao lâu trong thời gian này? Nếu có ai hỏi tôi, chắc tôi đã khuyến khích mọi người chạy một lần nữa, mặc dầu tôi không biết chắc mình còn chạy được bao xa, hay là leo lên cây và chờ cho bọn Đức đi qua bên dưới. Nấp trong cành cây dường như là ý kiến hay, toán đầu lính Đức đi qua không hề phát giác ra chúng tôi.
Chương 20
Khi toán tù nhân người Nga ở mấy hàng đầu lê bước ngang qua cây tùng chỗ chúng tôi nấp, Vika gật đầu ra dấu cho Markov. Anh ta hít một hơi dài bước ra chỗ tàn cây xa nhất, và lấy hết sức mình ném trái lựu đạn ra thật xa.
Từ chỗ thuận lợi tôi đứng cũng khó có thể nói bọn Đức có thấy trái lựu đạn bay qua đầu chúng không? Tôi không nghe thấy tiếng la báo động nào cả. Trái đạn rớt xuống chỉ nghe một tiếng “Phụt” trên tuyết cách xa khoảng 30 thước. Trong vài giây, tôi đinh ninh là trái đạn đã bị tịt ngòi cho đến khi nó phát nổ, đủ mạnh để tuyết trên những cành cây tùng bị rung chuyển đổ xuống mình chúng tôi.
Tất cả mọi người di chuyển cùng đại đội, tù nhân lẫn lính tráng cúi thấp mình trong cơn hoảng hốt bất ngờ, nhìn về bên trái, một đám tuyết bắn tung lên. Chúng tôi lẻn ra khỏi bóng cây tùng, và bước đến đám tù nhân người Nga tả tơi trong khi sĩ quan Đức bắt đầu la lối ra lệnh, và đưa ống dòm về phía bìa rừng xa tìm kiếm tay súng bắn sẻ nấp trên cây. Chúng tôi tiến đến gần đám người cùng quê hương bị bắt làm tù binh: 15 thước, 14, 13, bước nhẹ nhàng cẩn thận, cố gượng lại ý muốn chạy như bay đến đám tù nhân. Tụi Đức tưởng rằng trông thấy sự chuyển động trong những bụi cây ở xa; có những tiếng ồn ào, chỉ trỏ, lính nằm bụng sát xuống đất và sẵn sàng khai hỏa.
Đến khi chúng nhận ra rằng chẳng có kẻ thù nào từ phía trái, chúng tôi đã xâm nhập từ bên phải. Vài tù nhân nhận ra chúng tôi. Họ không tỏ ra cử chỉ nào chào đón hay tình chiến hữu. Họ không có vẻ gì ngạc nhiên khi 4 người mới tới nhập làm đồng cảnh: tù nhân. Cả dân và lính đều bị đánh bại một cách thê thảm nên có thể họ nghĩ đương nhiên người Nga từ trong rừng chui ra hẳn là lặng lẽ đầu hàng quân thù.
Tất cả tù nhân đều là nam nhân, từ những thiếu niên răng mọc chưa đủ, mũi dãi lòng thòng đến những lão ông lưng còng, râu bạc lởm chởm quai hàm. Vika kéo chiếc mũ lông thỏ thấp hơn. Trong chiếc áo choàng che kín cả người, không có hình dáng gì cả, nàng trông giống một thanh niên nên chẳng có ai để ý đến nàng.
Ít nhất hai lính Hồng Quân không có giày, chỉ mang vớ bằng nỉ đã rách bươm để giữ cho chân ấm. Lính Đức cho rằng đôi giày da lót nỉ của lính Nga rất đáng giá, ấm hơn và bền bỉ hơn hẳn giày của bọn chúng. Những đôi vớ bằng nỉ hai người lính Nga đang mang chắc đã sũng nước tan ra từ tuyết. Khi nhiệt độ xuống thấp, những đôi vớ đó sẽ bị đóng băng, hai người này sẽ phải đi trên hai cục nước đá. Tôi tự hỏi không biết họ còn đi được bao xa, bao nhiêu cây số nữa, trước khi cẳng chân tê dại từ ngón chân lan lên đến đầu gối. Mắt của họ thất thần, đau khổ như mắt của những con ngựa dùng để kéo xe trên đường phố Piter ngập tuyết, trước khi thức ăn cạn kiệt và con ngựa bị xẻ thịt.
Tụi Đức bàn tán với nhau bằng tiếng của họ, tuy nhiên không ai bị thương nặng bởi mảnh lựu đạn, chỉ có mỗi anh lính trẻ bị một vết sướt ngang má, nhẹ và đỏ, anh ta kéo bao tay ra, lấy ngón tay cái thoa lên máu và khoe cho chiến hữu coi, rất hài lòng về vết thương đầu tiên của anh từ khi tham chiến.
“Bọn chúng tưởng đó là mìn bẫy,” Kolya thì thầm với tôi. Hắn nheo mắt khi cố lắng nghe lệnh của sĩ quan Đức. “Bọn chúng chắc là người bản địa Tyrol (Tây Nam nước Đức). Phát âm rất khó nghe. Đúng vậy, chúng nói là mìn bẫy.”
Sĩ quan ra lệnh, lính Đức trở lại với đám tù nhân ngoan ngoãn đang chờ đợi và ra dấu bằng súng cho họ tiếp tục đi.
“Khoan đã!” một người Nga la lên, hắn là thường dân khoảng 40 tuổi, môi dày, đội chiếc mũ len đan, hai cái che lỗ tai được cột chặt dưới cằm. “Người này là du kích!”
Hắn ta chỉ tay vào Markov. Mọi người khác trên sườn đồi đều im lặng.
“Thằng đó đến nhà tôi hồi tháng rồi, lấy hết khoai tây, thức ăn của tôi và nói rằng dùng cho kháng chiến! Nghe rõ không? Nó là thằng dân quân! Nó đã giết rất nhiều người Đức!”
Markov nhìn sững người nông dân, đầu quẹo qua một bên như con chó cắn nhau.
“Câm miệng mày lại,” Markov nói nhỏ, mặt anh ta đỏ lên vì tức giận.
“Mày không còn ra lệnh cho tao nữa đâu! Không bảo tao phải làm gì nữa!”
Một Trung Úy chạy lại, 3 tên lính theo sau, rẽ đám đông đang quây tròn Markov và người kết tội anh ta.
“Cái gì thế?” hắn hét lên. Hắn chắc là người thông dịch cho đại đội, nói tiếng Nga với giọng Ukraina. Hắn trông giống một người mập phì vừa mới sụt ký mất hết mỡ, hai gò má xẹp, da nhăn nhúm chùng xuống trên xương mặt.
Người tố cáo đứng đó chỉ tay, đúng là một đứa trẻ lớn quá khổ với hai cái che tai và cặp môi run lên, nói với tên Trung Úy nhưng mắt không rời Markov.
“Nó là thằng sát nhân, người này đây! Nó đã giết hại lính của ông!”
Kolya mở miệng định nói giúp Markov nhưng Vika húc mạnh cùi chõ vào mạng mỡ hắn, khiến hắn câm họng. Tôi thấy hắn thọc tay vào túi áo khoác, chắc chuẩn bị khẩu súng ngắn Tokarev khi cần thiết.
Markov lắc đầu, nở trên môi một nụ cười lạ lùng, hung hãn.
“Tao ỉa vào mặt mẹ mày.”
“Mày không còn can đảm nữa! Không còn cứng cỏi nữa! Phải rồi, mày là kẻ hung hãn khi tước đoạt khoai tây của người dân thường, còn bây giờ thì sao? Mày là cái thớ gì?”
Markov gầm lên và rút nhanh một cây súng ngắn từ trong túi áo săn. Anh ta là người khỏe mạnh, rút súng ra nhanh như những tay chơi súng lão luyện Hoa Kỳ, đưa nòng súng lên trong khi người kết tội anh ta ngã ngửa ra sau, đám tù nhân đứng chung quanh chạy tán loạn như chim vỡ tổ.
Bọn lính Đức còn nhanh hơn. Trước khi Markov có thể bóp cò, một tràng đạn từ khẩu súng tự động MP40 xuyên trên ngực áo săn của anh ta một hàng những lỗ nhỏ. Markov chao đảo, chau mày như thể anh ta vừa quên một tên rất quan trọng và té ngửa xuống trên vùng tuyết mềm, một mảng bông gòn lòi ra từ những lỗ thủng của chiếc áo săn.
Người kết tội chăm chú nhìn thân thể Markov. Hắn chắc hiểu rằng lời tố cáo của hắn sẽ dẫn đến kết quả ra sao, nhưng vẫn cảm thấy vô cùng sửng sốt. Tên trung úy suy nghĩ một chút không biết nên thưởng hay phạt hắn. Cuối cùng anh ta giật khẩu súng ngắn của Markov để làm kỷ niệm và bỏ đi, mặc kệ những rắc rối sau lưng. Đám lính trẻ đi theo anh ta, liếc nhìn cái xác của Markov, chắc đang tự hỏi ai trong bọn chúng đã bắn làn đạn giết chết hắn.
Chẳng bao lâu, cả đại đội lại tiếp tục di chuyển. Tuy nhiên, đội hình được thay đổi. Sáu người Nga đi hàng đầu, trước người lính Đức gần nhất 10 thước, để làm cái máy dò mìn bằng thân người. Mỗi bước đi là một nỗi kinh sợ cho họ, chờ đợi sợi giây mìn bẫy kích hỏa, chiếc lò so bật tung lên. Chắc họ cũng có ý định chạy trốn, nhưng không thể chạy quá ba bước trước khi bị bắn gục.
Không ai đi gần người tố giác Markov. Hắn đã bị nhiễm bịnh, một thứ bệnh truyền nhiễm. Hắn nói lẩm bẩm một mình, lời phân trần dài dòng chẳng ai nghe được, mắt hắn liếc qua trái rồi qua phải như thể coi chừng sự trả thù.
Tôi đi phía sau hắn hằng tá người, lê lết mệt nhọc trên tuyết mềm giữa Vika và Kolya. Nếu có tù nhân nào đó nói lớn tiếng tụi Đức nghe được, một tên Đức sẽ nạt nộ ngay, “Halts Maul!” Không cần một thông dịch viên, ai cũng hiểu được và người tù nhân mau lẹ im miệng lại, đầu cúi xuống, và đi nhanh hơn. Tù nhân vẫn có thể nói chuyện với nhau nếu chịu khó nói nho nhỏ và coi chừng đám lính gác.
“Thành thật chia buồn về người chiến hữu của cô!” Tôi thì thầm với Vika.
Nàng tiếp tục đi không nói một lời hay tỏ vẻ gì đã nghe tôi nói. Tôi sợ mình đã xúc phạm đến nàng.
“Anh ta có vẻ là một người tốt,” tôi thêm vào. Cả hai câu nói hoàn toàn bình thường, cái thứ bày tỏ tình cảm nhàm chán người ta hay dùng trong một đám ma của người bà con xa, mình chẳng thân thiện gì cho lắm. Tôi chẳng trách nàng đã phớt lờ.
Cuối cùng nàng lên tiếng: “Chẳng tốt lành gì, nhưng dù sao tôi cũng thích anh ta.”
“Tên phản quốc đáng phải treo cổ trên cây,” Kolya thì thầm trong khi cúi đầu thấp để tiếng nói không vọng đi xa. Hắn liếc nhìn vào gáy tên phản bội. “Tay không, tao cũng có thể bẻ gẫy cổ nó, tao biết cách mà.”
“Để nó yên,” Vika nói. “Nó không đáng quan tâm.”
“Nhưng đối với Markov thì khác,” tôi nói.
Vika liếc nhìn tôi và mỉm cười. Đó không phải là nụ cười lạnh lẽo của con thú dữ mà tôi đã thấy trước đây. Nàng có vẻ ngạc nhiên về lời nhận xét của tôi, như thể nàng đang nghe bản “Fur Elise” chơi bằng cách thổi chiếc còi gỗ của người Mông Cổ không thiếu một nốt.
“Đúng, nó quan trọng đối với Markov, cậu thật kỳ lạ.”
“Tại sao?”
“Hắn là một tên tiểu quỷ kỳ lạ,” Kolya nói, trong khi hích nhẹ một cách thân mật vào lưng tôi. “Nhưng hắn chơi cờ vua hết xảy.”
“Tại sao tôi kỳ lạ chứ?”
“Markov không quan trọng,” nàng nói. “Tôi không quan trọng. Các cậu không quan trọng. Thắng trận chiến này là điều duy nhất quan trọng.”
“Không,” tôi nói. “Tôi không đồng ý. Markov là quan trọng. Tôi và cả hai người cũng vậy. Cho nên chúng ta phải thắng. “
Kolya nhướng mày, rất khâm phục vì tôi dám chống đối lại cô bé cuồng tín.
“Tôi là quan trong một cách đặc biệt, “hắn tuyên bố, “tôi đang viết một tiểu thuyết vĩ đại cho thế kỷ hai mươi.”
“Hai người đã yêu nhau nửa chừng rồi đó, biết không?” nàng nói.
Bọn đàn ông đi trước chúng tôi đã chùn bước khiến cuộc di hành ngừng lại, đám tù nhân bối rối không hiểu tại sao cả đoàn bị trì trệ như thế. Một người trong toán lính Nga đi chân đất không muốn đi thêm nữa. Chiến hữu của anh ta khẩn khoản xin anh tiếp tục đi, cả nài nỉ lẫn chửi rủa. Anh ta lắc đầu, không nói một lời, chân chôn chặt xuống tuyết. Người bạn cố đẩy anh ta đi, nhưng vô dụng thôi; anh ta đã chọn lựa nơi an nghỉ cho mình. Khi đám lính Đức chạy đến, huơ những cây súng máy và hét lên bằng ngôn ngữ của chúng, đám lính Hồng Quân Nga miễn cưỡng dang ra xa khỏi người chiến hữu chấp nhận số phận. Anh ta mỉm cười với tụi Đức và dơ một tay lên chào kiểu quân Đội Nazi. Tôi quay mặt đi vừa đúng lúc.
Một giờ trước khi mặt trời lặn, đại đội dừng lại bên cạnh một trường học xây bằng gạch đỏ có tường bao bọc, một trong những công trình của Nhân Dân trong kế hoạch 5 năm. Cửa kính nhỏ như những lỗ châu mai thời Trung Cổ. Một hàng chữ bằng đồng cao 2 bộ gắn trên cửa chính, ghi câu nói bất hủ của Lenin: “Hãy giao cho chúng tôi một đứa trẻ trong 8 năm, và nó sẽ trở thành người Bolshevik cả đời.”
Mộ kẻ xâm lăng nào đó nói tiếng Nga đã viết nguệch ngoạc lời đối đáp bằng sơn trắng nhem nhuốc: “Giao con các người cho chúng tôi trong 8 giây và sẽ chẳng còn một Bolshevik nào nữa.”
Đoàn quân wehrmacht đã dùng trường học làm bộ chỉ huy. Sáu chiếc xe kubelwagen đậu gần cổng ra vào. Một lính Đức đầu trần, tóc cắt ngắn và vàng như gà con mới nở, đang đổ xăng vào một trong chiếc xe bằng chiếc thùng sắt màu xanh. Người lính nhìn lơ đãng đại đội đang tiến tới với đám tù nhân.
Sĩ quan ra lệnh, lính tan hàng, hầu hết lính Đức chạy vào trong nhà, cởi bỏ ba lô nặng trĩu trên vai, lớn tiếng nô đùa với nhau vui vẻ, sẵn sàng để tắm rửa (nếu có nước) và thưởng thức một bữa ăn nóng hổi. Đám lính còn lại khoảng một trung đội 40 người, bất bình vì còn nhiệm vụ, chắc chắn đang mệt nhọc và đói khát sau một ngày dài lăn lội trong rừng. Họ dồn chúng tôi đến cạnh một tòa nhà.
Một người Sĩ Quan Đức ngồi đợi, ngả người trong chiếc ghế bành, vừa đọc báo vừa hút thuốc. Hắn thoáng nhìn chúng tôi với nụ cười bất động, mừng rỡ, như thể vừa gặp bạn bè mới tới để ăn bữa cơm tối. Cuối cùng, để tờ báo qua một bên, đứng dậy gật đầu và quan sát từng khuôn mặt tù nhân, tình trạng y phục, giày tốt hay xấu. Hắn mặc bộ quân phục Waffen-SS màu xám, cổ tay áo màu xanh, chiếc áo lạnh khoác ngoài màu xám máng trên lưng ghế. Vika đi bên cạnh tôi, thì thầm “Lính Einsatzkommando.”
Khi chúng tôi bị sắp thành mấy hàng dài, tên sĩ quan Einsatzkommando liệng thuốc lá xuống tuyết và gật đầu với người thông dịch lính Sơn Cước da nhăn nheo. Chúng trao đổi tin tức mật với nhau bằng tiếng Đức, dường như khoe khoang với kẻ nào trong bọn tôi hiểu được tiếng Đức.
“Bao nhiêu?”
“Chín mươi bốn. Không, chín mươi hai.”
“Đúng? Và hai người bỏ lại dọc đường. Tốt lắm.”
Người sĩ quan Einsatzkommando, đối mặt với chúng tôi, ngắm nghía từng người, nhìn thẳng vào mắt. Hắn trông đẹp trai, đội chiếc mũ trận nghiêng ra phía sau, dơ chiếc trán rám nắng. Hàm râu trên tỉa cẩn thận, giáng như một ca sĩ hát nhạc Jazz.
Hắn bảo chúng tôi: “Đừng sợ, Tôi biết các anh đã đọc tuyên truyền. Bọn Cộng Sản muốn các anh nghĩ chúng tôi như những kẻ man rợ, đến đây để tàn sát. Nhưng tôi nhìn mặt các anh, quả là những công nông tốt, thực thà. Có người Cộng Sản Bolshevik nào trong các anh không?”
Không ai dơ tay. Tên lính Đức mỉm cười.
“Tôi nghĩ như vậy. Các anh thông minh hơn thế. Các anh hiểu rằng chủ thuyết Bolshevik đơn giản là một ý tưởng cực đoan nhất của tụi Do Thái muốn chế ngự toàn thế giới.
Hắn nhìn đám người Nga đối diện, mặt trơ như đá, bày tỏ sự vui vẻ bằng cái nhún vai.
“Nhưng chúng ta không cần nói văn hoa bóng bẩy, Các anh cũng biết sự thực từ tận đáy lòng, Điều đó mới quan trọng. Không có lý do gì để nhân dân hai nước chúng ta phải chiến tranh. Cả hai chúng ta đều có một kẻ thù chung.”
Hắn ra dấu cho một người lính lấy chồng báo trên sạp gỗ đặt bên cạnh chiếc ghế bành và chia đều cho 5 người lính khác. Mấy người lính xen vào những hàng dọc tù nhân và phát cho mỗi người 1 tờ. Tờ báo của tôi là Komsomol’s Truth (Sự Thật của Liên Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Nga), Vika và Kolya nhận được tờ Sao Đỏ.
“Tôi hiểu rằng đây là một khái niệm khó nắm vững, sau bao nhiêu năm đã bị tuyên truyền. Nhưng hãy tin rằng đây là sự thật: Chiến thắng của người Đức cũng là chiến thắng cho nhân dân Nga. Nếu các bạn không hiểu bây giờ, các bạn cũng sớm hiểu thôi. Và con cháu bạn lớn lên cũng hiểu được thôi.”
Mặt trời đang lặn, làm bóng chúng tôi thành những người khổng lồ, viên sỹ quan Einsatz thích thú về những lời nói của hắn và ấn tượng hắn đã gieo vào lòng chúng tôi. Tiếng Nga của hắn về văn phạm thật chính sác, nhưng không muốn che dấu giọng phát âm địa phương. Tôi băn khoăn không biết hắn học tiếng Nga ở đâu. Có phải là hắn đã sinh ra ở một trong những thuộc địa cũ của Đức như Meltitopol hay Besarabia chẳng hạn. Hắn nhìn lên một chuỗi ba đám mây nhỏ trên mãi tân xa trên bầu trời trắng bạc.
“Tôi rất yêu đất nước này, mảnh đất đẹp tuyệt vời.” Hắn cúi đầu thấp và làm cử chỉ nhún vai buồn bã. “Chắc các bạn đang nghĩ, những lời biện hộ của tôi là vô dụng, Hai nước chúng ta đang trong chiến tranh, phải không? Sự thực là chúng tôi đang cần các bạn. Mỗi người trong các bạn có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề. Trong tay các bạn, đang cầm một tờ truyền đơn in những lời nói láo của chế độ. Các bạn cũng biết những tờ báo này trung thực thế nào rồi! Họ nói với các bạn rằng chiến tranh này đáng lẽ không sảy ra, sự thực là chúng ta đang ở trong tình trạng chiến tranh! Họ nói với bạn rằng quân Đức sẽ bị đẩy ra khỏi biên giới vào tháng Tám, nói cho tôi biết” – Giọng hắn run rẩy – “Các bạn có nghĩ là tháng Tám không? Thôi không cần đâu, không cần. Mỗi người sẽ đọc to một đoạn. Những người chữ nghĩa giỏi sẽ theo chúng tôi đến Vyborg, ở đó tôi hứa các bạn sẽ được ăn ngày ba bữa trong thời gian thông dịch tài liệu cho chính quyền lâm thời. Được làm việc trong phòng có máy sưởi nữa cơ! Những người nào không đạt tiêu chuẩn, ái chà … hơi khó đây. Tôi chưa bao giờ đến nhà máy thép ở Estonia, nhưng tôi nghe nói đó là nơi rất nguy hiểm. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cho các bạn đồ ăn vẫn khá hơn những gì Hồng Quân phân phát cho các bạn – và tôi không dám đoán các bạn dân sự đã ăn gì trong mấy tháng qua.”
Một vài nông dân già nua than van và lắc đầu, nhìn nhau trao đổi những cái nhún vai. Người sĩ quan Einsatzkommando gật đầu với anh chàng thông dịch viên lính Gebirgsjager, trong vòng vài giây sau hai tên Đức bắt đầu khảo sát đám tù nhân. Họ chỉ cần nghe đọc vài câu để khẳng định trình độ tiếng Nga của người tù. Tôi nhìn vào tờ Pravda (Sự Thật). Trên đầu là đề mục chính được in nét đậm trích ra từ lời nói của Stalin. “Đồng Bào! Các Đồng Chí! Vinh quang vĩnh cửu cho các anh hùng đã hy sinh mạng sống của mình cho sự tự do và hạnh phúc của cả nước!”
Những người nông dân già nhún vai và trả tờ báo về cho hai tên lính Đức, không cần nhìn đến chữ nghĩa. Nhiều người trẻ trong nông trường khó khăn lắm mới rặn ra vài chữ. Những người tù coi sự khảo sát này rất nghiêm trọng, chau mày cố gắng đoán ý nghĩa của những chữ vừa đọc. Hai tên Đức cười một cách rộng lượng đối với sai lầm của họ, vỗ vai mấy anh chàng mù chữ, và diễu cợt họ.
“Không thích đọc sách hả? Lo tán gái phải không?”
Chẳng bao lâu, đám tù nhân thấy thoải mái hơn, gọi bạn bè từ mãi tận những hàng ở xa. Họ cười cầu tài với cai ngục khi lắp bắp đánh vần từng chữ. Có vài kẻ tự đặt tin tức, làm như thể đang đọc bài báo trong khi bịa ra nào là cuộc chiến ngoại ô Mạc Tư Khoa hay đánh bom Trân Châu Cảng, bắt chước rất khá cách tường thuật họ nghe được trên đài vô tuyến. Hai tên Đức rất thích thú với mưu mẹo của chúng. Cả hai đều hiểu không ai bị lừa cả.
Lính Đức yêu cầu ai không đạt tiêu chuẩn đứng qua bên trái. Vài người đầu tiên tỏ ra xấu hổ, nhưng rồi cũng vui vẻ khi hàng ngũ mù chữ tăng lên cao.
“Ồ, Sasha, anh nữa à, tôi tưởng anh giỏi giang chứ!”
“Hãy nhìn hắn kìa, còn làm giáng trước mặt sĩ quan! Thôi đi, thôi đi, nhà máy thép là số phận của chúng ta! Sao, mày nghĩ mày sẽ được làm việc văn phòng hả? Diễu hoài; Nhìn hắn kìa, còn cố mãi.”
“Già Edik, ông nghĩ có thể lội bộ đến tận Estonia không? Nào, cố lên, vui lên, chúng tôi sẽ giúp ông.”
Đám người biết đọc, muốn gây ấn tượng với lính Đức. Họ đọc từng câu như thể một tài tử đang độc thoại. Nhiều người còn ráng đọc thêm khi đã bảo ngừng, nhấn mạnh những chữ lớn, ra vẻ thông thạo từ ngữ. Họ được xếp hàng bên phải, hãnh diện và rạng rỡ, gục gặc cái đầu với nhau, những kẻ có học, hài lòng một ngày đã trôi qua theo ý nguyện. Vyborg không xa lắm, và làm việc trong phòng ấm cúng với máy sưởi cùng ba bữa ăn một ngày vẫn hơn là ngồi trong giao thông hào cả đêm chờ pháo địch.
Kolya trợn mắt nhìn những kẻ biết đọc chúc mừng nhau. “Nhìn bọn họ xem, “hắn thì thầm trong hơi thở. “Họ chỉ muốn được tưởng thưởng vì đọc được báo ư. Còn bọn Đức tỏ vẻ khinh dể biết bao. Chắc tao phải đọc cho chúng nó nghe chương đầu của Eugene Onegin. Xem chúng có nể không? 60 đoạn thơ, ta ta ta ... Chúng tưởng chỉ nước Đức mới có văn hóa trên toàn lãnh thổ Châu Âu thôi sao? Chúng có muốn so tài của Goethe và Heine với Pushkin và Tolstoy không? Chúng có thể khá về âm nhạc, nhưng cũng xuýt xoát thôi. Được đi, cho chúng âm nhạc. Và triết học. Còn văn chương? Không, không đời nào.”
Chương 21
Chúng tôi ngủ trong kho chứa dụng cụ của trường học, 35 người chúng tôi chen chúc trong một khoảng không gian chỉ đủ cho 8 người nằm thoải mái. Không ai có thể nằm thẳng lưng. Tôi ngồi co ro trong một góc, giữa Kolya và Vika. Thật là tội nghiệp cho cái lưng của tôi, nhưng rất dễ thở, bởi vì khe hở giữa hai tấm ván vách tường là cái thông hơi duy nhất, nếu ngộp ngạt quá, tôi có thể quay đầu ra và hít hơi lạnh trong lành.
Không có ánh sáng. Bọn lính Đức đã đóng kín cánh cửa nhà kho bằng đinh sắt; tôi vẫn có thể nghe bọn lính gác ở bên ngoài nói chuyện và mồi thuốc lá, tuy vậy đám tù binh vẫn bàn về việc đào thoát. Tôi không thấy mặt bọn họ, nhưng cảm giác y hệt như lúc nghe radio những vở kịch nói mà mẹ tôi rất thích.
"Tôi nói cho mà nghe, chúng ta có thể nậy tấm ván này như đập vỡ vỏ hột dẻ. Một người kề vai vào khe hở đó, thế là hắn có thể lách ra ngoài dễ dàng."
"Bạn nghĩ vậy hả, bạn là thợ mộc hả? Tôi là thợ mộc đây, khi chúng nhốt chúng ta vào đây, tôi đã để ý nhìn bức tường gỗ này. Đó là gỗ cây bạch dương, cứng lắm đó."
"Nếu thoát ra ngoài, sẽ ra sao? Mấy thằng lính Đức đang chờ ở đó với súng máy, biết không."
"Mấy thằng lính? hai hay ba? Chúng ta sẽ đánh chúng nó, có thể chúng giết vài ba người chúng ta, nhưng chúng ta sẽ thanh toán chúng nó."
"Có ai biết chúng nó có bao nhiêu người ngoài đó không?"
Tôi nghiêng đầu nhìn ra ngoài qua khe hở.
"Tôi thấy hai tên Đức. Nhưng có thể nhiều hơn nữa ở phía bên kia."
"Sao cũng được, miễn sao tôi không phải là người ra đầu tiên."
"Chúng ta thoát một lượt cùng nhau."
"Thế nào đi nữa cũng phải có người đầu tiên và người cuối cùng chứ."
"Tôi nói cho các bạn nghe, thôi thì cứ đợi và làm theo ý bọn Đức. Chiến tranh không kéo dài mãi mãi đâu."
"Chúng nó là ai vậy, Edik, Sao mày không chết trong hỏa ngục cho rồi, hỡi con chó già? Mày không nhìn thấy chuyện gì đã sảy ra hôm nay sao? Mày còn tin mấy thằng đụ ngựa đó sao?"
"Nếu chúng nó muốn giết mình, chúng đã làm rồi. Chúng chỉ giết mấy thằng rửng mở thôi, mấy thằng nhóc trong Đảng ấy."
"A! mày là thằng già dịch, mày biết không? Tao mong mấy đứa con mày ỉa trong bát cháo của mày."
Kolya nghiêng qua người tôi trong đêm tối để hắn có thể thì thầm với Vika tránh đám người đang cãi cọ kia.
"Tên chỉ huy Đức .. ở ngay sát chúng ta. Cô hãy nói với Marko chúng ta không giết tụi lính Đức, hãy để dành cho bọn lính Đặc Nhiệm Einsatz."
Một khắc yên lặng, không thấy Vika trả lời, Tôi nghĩ nàng đang tức giận vì lối nói chuyện châm biếm đó, nhưng Vika lên tiếng rất ôn tồn.
"Chắc tôi hơi sợ rồi, còn anh?"
Kolya thở dài. "Tôi không muốn làm lúc đó. Giết một người, rồi mình bị tan ra từng mảnh à?"
"Nhưng mà có lẽ chúng ta đã chờ quá lâu rồi, Thời gian đó có lẽ là cơ hội tốt nhất của chúng ta."
Tôi chỉ quen nàng mới một ngày, nhưng ý tưởng của nàng làm tôi ngạc nhiên. Nàng không phải là hạng người mất tự tin nhưng trong câu nói đã dùng chữ có lẽ đến hai lần.
"Tao gần như muốn ra tay lúc đó." Kolya vừa nói vừa huých vào vai tôi. "Khi hắn ta hỏi mày về ông bà ông vải của mày. Tao nghĩ nó muốn tụt quần mày ra coi xem chim có teo không? Tao đã nắm lấy cán súng rồi, nhưng may mắn, tao thuyết phục được hắn, phải không nhóc. Mày có thích cái ý kiến đó của tao không?"
Tôi nói: "Mày tài lắm, mau mắn lắm"
"Thật tình mà nói nó nhìn tao, muốn chửi thề."
Vika thì thầm với tôi trong khi đụng vào đầu gối tôi trong đêm tối: "Như tôi vẫn nói trước đây, về người Do Thái, bọn Đức ghét nhất người nào đó, thì người ấy là bạn tôi."
"Nó chỉ có một nửa là Do Thái thôi." Kolya chêm vào như một lời vuốt đuôi với Vika.
"Một nửa tốt nhất đó," tôi trả lời. Vika cười. Tôi không ngờ nàng lại dễ cười như vậy, tiếng cười rất lạ lùng, không phải có gì đặc biệt, chỉ là tiếng cười của một cô gái bình thường.
Tôi hỏi nàng: "Cô làm gì trước chiến tranh?"
"Tôi đi học."
"Ừm!" đó là tiếng than của Kolya. Tôi tưởng rằng nó đã ngủ rồi, nhưng coi bộ còn tỉnh táo lắm, chắc đủ để tham gia một cuộc trò chuyện dài.
"Tôi cũng thế, Cô học ngành gì thế? Canh Nông phải không?"
"Tại sao canh nông."
"Cô không phải từ nông trường ra sao."
"Tôi có giống người trong nông trường chó đẻ đó chăng? Tôi đến từ Archangel."
"À, gái Bắc, thế thì đúng rồi." Nó huých cùi chõ vào cạnh sườn tôi. "Nàng là hậu duệ của đám VIKING. Vậy cô học trường Đại Học trên đó hả, nghiên cứ về gỗ và rái cá hả."
"Thiên Văn cơ."
"Tôi học văn chương, đại học Leningrad."
Bọn lính Đức nậy tấm ván ép đóng trên khung cửa làm chúng tôi thức giấc. Ánh sáng đầu ngày xuyên qua kẽ hở của những tám ván, lấp lánh trên chiếc trán bóng nhẫy, trên đôi giày da há mõm, trên khuy áo choàng bằng sừng của một lão già.
Vika ngồi cạnh tôi, cắn móng tay. Nàng cắn móng tay một cách từ tốn, không giống một người đang lo lắng mà giống một tên đồ tể đang mài sắc lưỡi dao của mình. Một lúc nào đó trong đêm tối, nàng đã nhẹ nhàng rời xa tôi mà tôi không hề hay biết. Khi thấy tôi đang chăm chú nhìn, nàng nhìn trả lại với ánh mắt lạnh lùng. Bất kỳ dấu vết thân tình nào mà tôi cảm nhận được tối hôm qua cũng đã biến mất theo đêm tối, khi những tia sáng đầu ngày vừa xóa tan màn đêm.
Cánh cửa mở, lính Đức quát tháo bắt chúng tôi lên đường, đám nông dân rời nhau ra. Tôi thấy lão già Edik đưa ngón tay trỏ xần xùi đè lên một bên mũi và hỉ ra một đống nước mũi trên sàn nhà chút xíu thì trúng vào mặt người khác.
Kolya vừa quấn khăn choàng quanh cổ vừa làu bàu “Ối chà, có phải mày cũng từng muốn sống chung với mấy đồng chí nông dân trong nông trường không hả?”
Khi tù nhân bắt đầu bước ra cửa, một người đàn ông mãi tân góc xa của nhà kho hét lên thất thanh. Mấy người chung quanh anh ta cố tìm hiểu cái gì làm anh ta sợ hãi như vậy, ngay sau đó họ lo lắng thì thầm với nhau. Từ xa chúng tôi chỉ nhìn thấy những cái lưng của bọn nông dân. Kolya và tôi đứng bất động, tò mò nhìn cảnh tượng huyên náo đó. Vika chẳng quan tâm, nàng bước về hướng cửa ra vào.
Hai đứa tôi đi về phía bên kia tường nhà kho, nhẹ nhàng quanh đám nông dân và nhìn xuống người đàn ông vẫn còn nằm trên sàn nhà. Đó là anh chàng đã tố cáo Marko, bị cắt cổ, máu chảy thành dòng, mặt trắng bệch. Hắn chắc chắn bị giết chết khi còn say ngủ, nếu không chúng tôi đã nghe tiếng la hét. Mắt hắn đã mở lớn khi lưỡi dao chạm vào da thịt. Đôi tròng mắt muốn lòi ra ngoài, kinh hoàng trợn chừng vào những khuôn mặt đang cúi xuống.
Một anh nông dân giựt đôi giày từ chân người chết, người khác thì lấy đôi bao tay bằng da cừu, người thứ ba kéo cái dây lưng bằng da. Kolya quỳ xuống và nhanh tay giựt chiếc mũ chùm đầu. Tôi quay lại nhìn thấy Vika đang sửa lại chiếc mũ lông thỏ, kéo xuống thấp che gần hết trán. Nàng nhìn lại tôi trong một giây rồi bước khỏi cửa. Một chập sau, tên linh Đức bước vào, giận dữ như vẻ sãn sàng nổ súng vì việc di chuyển bị trì trệ. Anh ta nhìn thấy thi thể người chết, cái cổ bị cắt lìa, dòng máu dưới lưng chia làm hai, trông giống như thể đôi cánh đen thui của một quái vật. Cảnh ám sát làm người lính ngại ngùng, hắn sẽ trả lời thế nào cho cấp trên. Người lính hỏi một câu bằng tiếng Đức có lẽ cho chính anh ta hơn là cho chúng tôi, không trông chờ câu trả lời. Kolya hắng giọng rồi trả lời. Tôi chẳng biết khả năng nói tiếng Đức của hắn thế nào nhưng người lính Đức rất ngạc nhiên khi nghe tiếng mẹ đẻ của mình qua miệng một tù nhân.
Người lính lắc đầu, trả lời một câu cộc cằn rồi ra dấu cho chúng tôi ra khỏi nhà chứa dụng cụ. Khi ra bên ngoài, tôi hỏi Kolya xem hắn đã nói gì.
“Tao nói với nó rằng bọn nông dân ghét người Do Thái hơn cả người Đức.”
“Hắn trả lời sao?”
“Làm đúng lắm, như người Đức vậy.”
Kolya cố chùm cái mũ lên đầu, chiếc mũ hơi nhỏ, nhưng làm sao hắn cũng kéo được hai miếng che tai xuống để cột hai đầu sợi dây với nhau.
“Mày tưởng là cho chúng biết mày nói được tiếng Đức là khôn ngoan sao? Sau khi trải qua những sự kiện như tối hôm qua”
“Không, rất nguy hiểm là đàng khác, Nhưng mà ít ra bây giờ chúng cũng không hỏi gì nữa.”
Bọn tù nhân xếp thành một hàng dọc. Bước đi lộn xộn, nheo mắt trong nắng sớm chói chang, đi tới môt tên lính gật gà gật gù, đôi mắt vãn còn lem nhem ngái ngủ. Anh ta phát cho chúng tôi một miếng bánh bích quy tròn cứng như cục than đá.
“Điềm tốt,” Kolya vừa lẩm bẩm vừa lấy móng tay gõ trên miếng bánh.
Chẳng bao lâu, chúng tôi đi bộ theo đại đội Gebirgsjager, đầu cúi xuống để tránh gió. Hôm nay được đi trên đường, mặc dầu mặt đường bị phủ bởi lớp tuyết dầy in đầy dấu bánh xe. Được vài cây số khỏi trường học, vượt qua bảng chỉ đường tới Mga, tôi ra dấu cho Kolya.
“Hừ, hôm nay là thứ mấy rồi?”
Tôi phải tính toán một chút, đếm ngược lại đến thứ bảy.
“Thứ Tư. Chúng ta phải trình diện ngày mai với một tá trứng gà.”
“Thứ Tư à …tao chưa đi cầu 13 ngày rồi. 13 ngày …sao vậy nhỉ? Dường như tao chưa hề ăn cháo gà, xúc xích, củ khoai tây với hai cô bé, bánh mì khẩu phần…sao vậy, chẳng lẽ mấy thứ đó cứ nằm trong bụng mãi thành một đống khốn kiếp ư?
“Mày muốn đi cầu, hãy hỏi Edik.” Một lão già nhà quê râu xồm xoàm vừa nghe kolya than phiền vội cho hắn lời khuyên.
“Lấy ít vỏ cây hắc mai, bỏ vào nước, đun sôi, uống nước đó, bảo đảm hiệu nghiêm.”
“Hay lắm, ông thấy cây hắc mai nào gần đây không?’
Edik dòm hàng cây thông bên đường rồi lắc đầu.
“Tôi sẽ ra dấu cho cậu, nếu chúng ta đi ngang qua cây đó.”
“Cám ơn nhiều lắm. Nếu có thể, làm ơn kiếm giúp tôi nước sôi luôn thể.”
Edik đã quay mặt về phía trước và trở lại vị trí của lão hiểu rằng một tên lính Đức đang nhìn về phía chúng tôi.
Kolya bắt đầu kể chuyện diễu.
“Stalin đi thăm một nông trường ngoại ô Mạc Tư Khoa, tìm hiểu xem kế hoạch 5 năm được thi hành ra sao. Ông ta hỏi một nông dân ‘Đồng chí cho tôi hay mùa trồng khoai tây năm nay thu hoạch thế nào?’ “Tốt lắm, đồng chí Stalin. Nếu chúng ta chất thành đống sẽ cao đến mặt Thượng Đế.’ ‘Nhưng mà làm gì có Thượng Đế hả đồng chí nông dân?’ ‘Khoai Tây cũng vậy thưa đồng chí Stalin.’ “
“Cũ rích.”
“Chuyện cười trở thành cũ chỉ vì rất hay. Nếu không, ai mà thèm kể đi kể lại?”
“Những người chẳng biết khôi hài là gì như mày ấy.”
“Chẳng giúp được gì, nếu mày không cười, Tao làm bọn con gái cười nghiêng ngả, đó mới quan trọng.”
“Mày có nghĩ cô ta làm việc đó không?” Tôi hỏi hắn. Nó liếc nhìn tôi, bỡ ngỡ một chút đến lúc thấy tôi đang nhìn Vika, cô nàng đi cách chúng tôi một khoảng, gần về phía hàng đầu.
“Chứ còn ai nữa.”
“Tao mới … Nàng tựa sát vào tao cả đêm. Khi tao ngủ quên, đầu nàng còn dựa trên vai tao…”
“Đó là sự cận kề nhất của mày trong vấn đề yêu thương. Mày thấy không? Hãy nghe lời tao, mày sẽ học được nhiều đấy.”
“- Và không biết làm sao nàng rời xa tao, mày nên biết tao không ngủ mê, bò qua 30 tên nông dân, trong đêm tối, cắt cổ tên phản bội, rồi bò trở lại? Không khinh động một ai?”
Kolya gật đầu, vẫn dòm chừng Vika đang đi một mình, lướt mắt thăm dò con đường và vị trí đám lính Đức.
“Nàng là một thiên tài sát thủ.”
“Đặc biệt cho một nhà thiên văn học.”
“Này, đừng tin tất cả những gì lọt vào lỗ tai.”
“Mày nghĩ cô ả đang nói dối sao?”
“Tao tin rằng cô ta học Đại Học một thời gian, người ta móc nối cô ta ở đó. Nhưng mà chú sư tử nhỏ của tôi ơi, mày nghĩ cô ta học bắn súng hay như vậy trong lớp học thiên văn à? Cô ả là Mật Vụ đấy, họ có nhân viên trong mỗi tổ dân quân kháng chiến đó.”
“Mày biết đếch gì?”
Hắn im lặng trong vài giây, chân này đá vào giày chân kia cho tuyết rớt ra khỏi đế giày, tay vin vào tôi để giữ thăng bằng.
“Tao không biết gì hết. Có lẽ tên mày cũng không phải là Lev. Có lẽ mày là kẻ si tình hạng nhất trong lịch sử nước Nga. Nhưng tao cân nhắc bằng chứng và tuyên bố một suy đoán đứng đắn rằng đám dân quân là du kích địa phương. Đó là lý do họ chiến đấu rất hiệu quả, họ thông hiểu đường đi nước bước hơn tụi Đức. Họ có bạn bè quanh đây, gia đình cho đồ ăn, chỗ ngủ an toàn. Nào, cho tao hay từ đây dến Archangel bao xa?”
“Tao Không biết.”
“Tao cũng không biết, 7 trăm hay 800 cây số? Biên giới Đức chắc còn gần hơn. Bộ mày tưởng đám nông dân đó tin một cô gái rớt từ trên trời xuống ư? Không đâu, cô ả được gởi đến cho họ.”
Nàng đang bước nặng nề trên tuyết phía trước, hai tay thọc trong áo khoác ngoài. Nhìn từ đàng sau, nàng giống như một đứa bé trai 12 tuổi mặc một bộ đồ thợ máy ăn cắp ở đâu đó.
“Không biết cô ta đã dậy vú chưa nhỉ?” Kolya nói.
Lời nói thô tục của hắn làm tôi ngượng ngùng, mặc dầu tôi cũng thắc mắc như hắn. Suy đoán thân thể của nàng dưới bao nhiêu lớp áo là điều không thể. Nhưng tôi có thể nói nàng chẳng có một đường cong nào cả, phẳng lỳ và mảnh khảnh như chiếc lá cỏ.
Hắn đoán được tư tưởng tôi hiện ra trên mặt bèn mỉm cười.
“Tao đã đả kích mày hả? Tao xin lỗi vậy. Mày thích cô bé phải không?
“Tao không biết.”
“Tao sẽ không nói về cô bé như thế nữa, mày bỏ qua nhé?”
“Mày có thể nói về cô ta bằng cách nào tùy ý.”
“Không, không, bây giờ tao hiểu rồi. Nhưng nghe tao đi, đây không phải là con cá dễ cắn câu đâu.”
“Mày sắp sửa cho tao thêm những lời khuyên từ cuốn sách tưởng tượng của mày phải không?”
“Hãy nghe lời tao. Chế diễu tao cũng được, nhưng tao hiểu mấy vụ lẩm cẩm này hơn mày. Tao đoán cô nàng có chút cảm tình với cái tên Korsakov đó. Hắn từng trải hơn mày, cho nên đừng cố lấy cảm tình của nàng bằng cách tỏ ra rằng mình ngon lành hơn nó.
“Nàng không yêu hắn đâu.”
“Một chút cảm tình thôi.”
“Tao chưa bao giờ nghĩ sẽ phô trương với nàng về sự phong trần của tao. Mày nghĩ tao ngu lắm phải không?”
“Vậy thì vấn đề sẽ là mày chiếm cảm tình của nàng bằng cách nào?”
Kolya im lặng một hồi lâu, mắt nhíu lại, trắn nhăn lên, duyệt lại xem tôi có ưu điểm nào. Trước khi hắn có thể tìm được gì, chúng tôi nghe tiếng la hét phía sau, bọn lính cai tù đang làm dấu cho chúng tôi dạt ra bên đường. Một đoàn xe với những chiếc xe chạy vừa bằng bánh cao xu và xích sắt, ầm ĩ vượt qua chúng tôi, thùng xe được đậy kín bằng vải bạt. Đoàn xe chở vật liệu tiếp tế ra mặt trận, Chúng tối đứng nhìn năm phút rồi, nhưng đoàn xe dài như bất tận. Tụi Đức chẳng muốn khoe khoang với đám tù nhân, nhưng tôi thực sự thán phục. Xăng dầu trong thành phố Piter thiếu thốn đến nỗi tôi chỉ thấy khoảng bốn hay năm chiếc xe di chuyển trong một ngày. Tôi đã đếm được hơn bốn mươi xe vận tải hai hệ, hai bánh trước bằng cao xu, hai bánh sau là xích sắt, có những ngôi sao ba góc gắn trên chiếc lưới sắt phía trước, phía sau sơn những hình chữ thập đen viền trắng.
Sau đoàn xe hai hệ, là những chiếc xe thiết giáp 8 bánh, rồi đến thiết giáp hạng nặng với súng đại bác, cuối cùng là những xe vận tải hạng nhẹ chở lính ngồi đối diện trên 2 hai hàng song song. Những người lính mặc áo chòang trắng, mặt mày mệt mỏi, râu ria xồm xoàng, súng khoác trên vai.
Chúng tôi nghe tiếng chửi thề từ toán đầu của đoàn xe, mấy người tài xế ngóc đầu ra ngoài để xem chuyện gì sảy ra. Một chiếc chiến xa gắn đại bác bị tuột giây xích, người tài xế đang vội vã sửa chữa. Khẩu đại bác làm nghẽn lối những chiếc xe phía sau.
Lính tráng được dịp xuống xe và đứng một hàng dài đái bên lề đường, một hàng dài chừng vài trăm người. Họ dậm chân la hét lẫn nhau để xem ai bắn súng nước xa nhất. Hơi nước bốc lên từ tuyết màu vàng.
“Xem kìa mấy thằng khốn nạn đái bừa bãi trên đát của cbungs mình, “Kolya thì thầm. “Chúng nó sẽ không cười cợt khi tao ngồi xổm và ỉa giữa thành phố Bá Linh. “Suy nghĩ vớ vẩn làm hắn tươi tỉnh hẳn lên. “Có lẽ đó là lý do tao đã không ỉa ra được, chắc để chờ ngày chiến thắng.”
“Cái bụng yêu nước.”
” Toàn phần thân thể tao đều yêu nước. Con cu của tao sẽ huýt gió bài ca Sô Viết khi ngày chiến thắng đến.”
“Mỗi khi tôi nghe mấy người nói chuyện, toàn là nói chuyện tục tĩu không vậy,”
Vika đã rón rén đến sau lưng chúng tôi như mọi lần không một tiếng động, khiến tôi giât mình khi nàng lên tiếng. “Sao mấy người không trần truồng ra làm luôn đi cho xong việc.”
“Không phải hắn muốn lột trần tôi ra đâu,” Kolya nói một cách dâm đãng.
Tôi cảm thấy xấu hổ và cơn giân dâng trào, nhưng Vika coi như không nghe thấy gì cả. Nàng vừa canh chừng bọn lính gác và đám tù nhân rồi dúi cho chúng tôi mỗi người một nửa lát bánh mì lúa mạch.
“Có thấy chiếc xe chỉ huy ở cuối đoàn xe không?” Nàng vừa hỏi mắt nhìn về đó nhưng không dùng tay để ra dấu.
“Đây là miếng bánh mì ngon nhất kể từ dạo mùa hè,” Kolya bình phẩm, miếng bánh mì đã ăn hết mất rồi.
“Thấy chiếc xe Comandeurwagon với cái chắn bùn vẽ hình chữ thập kia không? Đó là chiếc xe của thằng Abendroth đó.”
“Sao mà cô biết?” Tôi hỏi nàng.
“Bởi vì chúng tôi đã theo dõi nó 3 tháng nay. Suýt nữa tôi đã có cơ hội giết nó bên ngoài thị trấn Budogoshch. Cái xe đó là của nó.”
“Có kế hoạch gì chưa?” Kolya vừa hỏi vừa cậy một hạt careway dính giữa kẽ răng.
“Khi đoàn xe di chuyển trở lại, tôi sẽ đợi hắn đến gần để có cơ hội giết hắn. Chẳng mấy khó khăn.”
Tôi nhìn đoạn đường từ trên xuống dưới. Chúng tôi đứng giữa ước chừng một tiểu đoàn lính Đức, hàng trăm tay súng vừa trên xe bọc sắt vừa bộ binh bao chung quanh. Lời nói của Vika vừa rồi có nghĩa là chúng tôi sẽ mất mạng trong vài phút nữa, dù nàng có bắn trúng mục tiêu hay không.
“Tôi sẽ bắn,” Kolya nói. “Cô và Lev đứng chung với đám nông dân ngu muội kia. Không lý do gì lại hy sinh tất cả. “
Vika cong đôi môi trong kiểu cười nửa miệng và lắc đầu:
” Tôi bắn giỏi hơn cậu.”
“Cô chưa thấy tôi bắn bao giờ.”
“Đúng vậy. Và tôi bắn giỏi hơn cậu.”
Tôi chêm vào:
“Cả hai người cùng bắn cũng chẳng khác gì, bộ hai người nghĩ bọn chúng sẽ tha cho bất cứ ai trong chúng ta sao.”
“Cậu nhóc nói có lý”, Kolya nói. Hắn đảo mắt nhìn đám tù nhân mù chữ đứng chung quanh. Họ đang dậm chân và xoa tay để cố giữ hơi ấm, hầu hết bọn họ là những nông dân chưa hề đi xa nông trường vài cây số. Một vài người là lính Vệ Binh Đỏ lẫn lộn trong đó. Một hay hai người, tôi biết chắc rằng cũng biết đọc như tôi.
“Chúng nó nói có bao nhiêu tù nhân nhỉ? Ba mươi tám phải không?”
“Còn ba mươi bảy thôi,” Vika sửa lại. Thấy tôi đang nhìn nàng chăm chú, đôi mắt màu xanh lơ của nàng không ngại ngùng hất ngược lại. “Cậu nghĩ có thể sống được bao lâu nếu đám dân quê đó phát hiện cậu thiếu cái gì ở đó” nàng chỉ xuống háng của tôi, “và tố cáo cậu để được thêm tí xúp?”
“Ba mươi bảy … Hình như hơi quá đáng để đánh đổi một tên Đức,” Kolya nói.
“Ba mươi bảy tù nhân đến xưởng luyện thép ư? Những người này không còn là người Nga nữa,” nàng lẩm nhẩm bằng một dọng bình thản. “Họ là lao động Đức. và đáng để đổi mạng với tên Abendroth.” Kolya gật đầu hướng về chiêc xe chỉ huy đang đậu ở đàng xa kia.
“Chúng ta là quân tốt đen, nó là tướng đấy, có phải ý cậu vậy không?”
“Chúng ta còn kém hơn quân tốt đen. Tốt đen cũng còn có giá trị.”
“Nếu chúng ta bắt được Tướng vậy chúng ta cũng có giá lắm chứ.”
Vừa nói kolya vừa nháy mắt với tôi. Hắn nở một nụ cười tinh quái, mặt rạng rỡ vẻ kiêu ngạo của một tên Cossack với ý tưởng mới lóe trong đầu.
“Tôi có cách khác. Chờ ở đây một chút.”
“Anh làm gì thế?” Vika vội can hắn. Nhưng đã quá trễ; Hắn vội vã bước đến một đám lính gần đó. Đám lính Đức nheo mắt nhìn hắn và tay sẵn sàng trên cò súng. Kolya dơ hai tay lên cao và bắt đầu nói bằng tiếng Đức, hoạt bát vui vẻ như thể tất cả mọi người đang tụ tập dể xem một buổi diễn hành. Chỉ sau ba mươi giây, bọn lính cười rộn rã khi nghe hắn kể một chuyện tiếu lâm gì đó. Có một tên lính còn cho hắn kéo ké một hơi thuốc lá dài nữa chứ.
“Anh ta thật có duyên,” Vika khen. Nàng giống như một nhà côn trùng học đang phê bình đôi cánh của con bọ rầy.
“Có lẽ bọn chúng cho rằng hắn là người anh em thất lạc từ lâu.”
“Hai cậu thật là một đôi kỳ lạ.”
“Chúng tôi không phải là một cặp đôi.”
“Tôi không có ý đó. Đừng để ý, Lyova à. Tôi biết cậu thích con gái mà.”
Ba tôi thường gọi tôi trìu mến như vậy, Lyova, và bây giờ bất ngờ tôi lại được nghe từ chính miệng của nàng gọi tên cúng cơm của tôi một cách trơn tru tự nhiên như thể nàn đã gọi như thế hàng bao nhiêu năm rồi. Tôi muốn khóc.
“Anh ta chọc giân cậu lắm phải không? Khi anh ta bảo muốn nhìn thấy tôi trần truồng phải không?”
“Hắn nói nhiều câu ngớ ngẩn.”
“Thế cậu không muốn nhìn thấy tôi trần như nhộng?”
Vika nở nụ cười chế diễu, hai chân dạng ra xa, tay thọc trong túi áo khoác.
“Tôi không biết.” Đúng là một câu trả lời ngớ ngẩn và nhát hít, thực sự tôi không thể thích ứng được những thay đổi đối cực nhau. Một lúc tôi nghĩ mình chỉ còn vài phút sống sót, sau đó lại thấy cô nàng bắn sẻ đang đùa cợt với mình. Nàng đang cợt nhả với tôi sao? Tôi bị rối trí với những diễn biến nguy cơ kề cận. Những điều dường như “không thể tưởng tượng được“sảy ra buổi chiều lại trở nên sự thực vào buổi tối. Xác chết tên lính Đức rơi từ trên trời xuống, một tên bán làm xúc xich làm bằng thịt người ở Chợ Trời Haymarket. Những con chó trở thành những trái bom. Những xác chết đông đá trở thành bảng chỉ đường. Người nông dân mất nửa mặt đứng lắc lư trong mưa tuyết, đôi mắt buồn thảm nhìn kẻ sát hại mình. Tôi chẳng có tí gì trong bụng, chẳng còn chút mỡ nào còn bám lấy xương. Không còn chút sinh lực nào cho cuộc hành trình hung hiểm này. Tôi chỉ lê bước, hy vọng sẽ tìm được một mảu bánh mì cho chính tôi và một tá trứng cho cô con gái Đại Tá.
“Anh ta nói ba của cậu là một thi sĩ nổi tiếng.”
“Ông không nổi tiếng như vậy đâu.”
“Có phải cậu cũng muốn trở thành như vậy không? Thi sĩ?”
“Không, tôi chẳng có tì gì về thơ cả.”
“Vậy cậu có tài gì?”
“Tôi không biết. Đâu phải ai cũng có tài năng thiên phú.”
“Đúng vậy. Mặc dù người ta luôn bảo thế.”
Nhìn bề ngoài có vẻ Kolya đang diễn thuyết trước đám lính đứng thành nửa vòng tròn bao quanh hắn, dơ tay múa chân để nhấn mạnh lời nói. Hắn chỉ tay về phía tôi, làm cổ họng tôi thắt lại khi đám lính quay mặt nhìn tôi, tỏ vẻ hiếu kỳ và nhạo báng.
“Hắn nói với bọn chúng cái gì đấy hả Trời?”
Vika nhún vai. “Nếu không cẩn thận hắn sẽ tự chuốc lấy họa.”
Những người lính dường như nghi ngờ, nhưng Kolya vẫn tiếp tục dỗ dành họ và cuối cùng một người trong số họ, lắc đầu như thể không thể tin nổi mình đang nghe vị nguời Nga điên này nói, điều chỉnh dây đeo MP40 và lao về phía sau đoàn xe. Kolya gật đầu với những người còn lại đang tụ tập xung quanh mình, buông một câu đùa cuối cùng khiến họ lại cười tươi, rồi thong thả trở lại chỗ chúng tôi.
"Bọn Nazis rất ngưỡng mộ cậu đấy," Vika nói. "Cậu đang trích Mein Kampf à?"
"Tôi đã thử đọc một lần. Rất chán."
"Cậu nói gì với họ vậy?"
"Tôi bảo tôi có một cuộc cá cược cho Herr Abendroth. Rằng bạn tôi ở đây, một cậu bé mười lăm tuổi từ khu Leningrad kém sang hơn, có thể chơi mà không cần hậu vẫn thắng Sturmbannfuhrer trong một ván cờ."
"Tớ mười bảy tuổi rồi."
"Ồ. Thế mười lăm chỉ là một nhát châm chọc thôi."
"Đây có phải là một trò đùa không?" Vika hỏi, nghiêng đầu sang một bên, nhìn Kolya và chờ cậu ấy cười và giải thích rằng cậu ấy không làm chuyện ngớ ngẩn đó.
"Không phải đùa."
"Cậu không nghĩ là nó sẽ thắc mắc làm sao cậu biết nó ở đây à? Biết cấp bậc của nó, biết nó chơi cờ sao?"
"Tớ nghĩ chắc nó sẽ thắc mắc tất cả những điều đó. Và điều đó sẽ làm nó tò mò, và điều đó sẽ khiến nó đến với chúng ta."
"Cá cược là gì?" tớ hỏi.
"Nếu nó thắng, nó có thể bắn chết chúng ta ngay lập tức."
"Nó có thể bắn chết chúng ta bất cứ lúc nào nó muốn, đồ ngốc đầu đặc."
"Đó là những gì các lính nói. Tất nhiên là nó có thể. Nhưng tớ nói với họ rằng Sturmbannführer là một người có danh dự, một người có nguyên tắc. Tớ nói rằng tớ tin lời nó và tớ tin vào tinh thần cạnh tranh của nó. Chúng say mê tất cả mấy chuyện máu me và danh dự đó."
"Còn nếu tớ thắng thì chúng ta được gì?"
"Đầu tiên, hắn giải phóng cả ba chúng ta." Hắn nhìn thấy nét mặt chúng tôi và cắt ngang trước khi chúng tôi kịp nói. "Đúng, đúng, các anh nghĩ tôi ngốc, nhưng hai người các anh mới là người chậm chạp. Chúng ta không thể chơi bây giờ, khi đoàn xe đang di chuyển. Hy vọng trò chơi sẽ diễn ra tối nay, bên trong, tránh xa tất cả những chuyện này." Kolya vẫy tay, chỉ vào những người lính Đức đang đứng thành vòng tròn lỏng lẻo, trò chuyện và hút thuốc; những chiếc xe bán bánh xe chở đầy lương thực; pháo hạng nặng. "Hắn sẽ không bao giờ thả chúng ta ra." "Rõ ràng hắn sẽ không bao giờ thả chúng ta. Nhưng chúng ta sẽ dễ dàng hơn nhiều trong việc tấn công hắn. Và nếu các vị thần mỉm cười, có thể chúng ta còn có cơ hội chạy trốn." "'Nếu các vị thần đang mỉm cười,'" Vika nói, chế giễu sự kiêu ngạo của Kolya. "Anh có chú ý đến cuộc chiến này không?"
Các thợ cơ khí đã gắn lại hệ thống xích trên pháo tự hành. Tài xế và đội của anh nhảy vào hầm lái. Chẳng bao lâu sau, động cơ khạc trở lại và con thú tháp pháo dài rên rỉ tiến lên, nghiền nát lớp băng đã hình thành quanh các miếng xích thép đúc. Những lính bộ binh dường như không vội quay lại xe tải của mình, nhưng sau lời tạm biệt khàn đặc cuối cùng, với các sĩ quan la hét và đoàn xe bắt đầu di chuyển, họ hít một hơi dài điếu thuốc, tắt chúng đi và nhảy trở lại những xe chở phủ bạt.
Người lính đã đi phát thông điệp cho Abendroth chạy bộ trở về đơn vị. Khi thấy chúng tôi nhìn theo, anh gật đầu và cười. Mặt anh hồng và không có lông, má tròn, dễ dàng tưởng tượng anh như một đứa bé trọc đầu đang khóc. Anh hô một từ tiếng Đức với chúng tôi trước khi chạy kịp chiếc xe tải đang lăn bánh, đưa tay ra và để một đồng đội kéo anh lên xe.
“Tối nay,” Kolya nói.
Những người lính canh của chúng tôi đã sủa vào mặt chúng tôi rồi, biết là chúng tôi chẳng hiểu gì và cũng không quan tâm. Thông điệp thì đủ đơn giản. Các tù nhân xếp thành hàng lần nữa, Vika trôi đi xa chúng tôi, và chúng tôi chờ đoàn xe dài đi qua. Khi Kommandeurwagen chạy qua, tôi cố nhín xem Abendroth, nhưng kính cửa sổ đã đóng băng.
Tôi nhớ ra một điều đã làm tôi bực bội và quay sang Kolya.
“Điều thứ hai cậu yêu cầu là gì vậy?”
“Hm?”
“Cậu nói nếu tớ thắng, trước hết hắn thả chúng ta. Vậy điều thứ hai cậu yêu cầu là gì?”
Anh ấy nhìn xuống tôi, đôi mày nghiêng lại về nhau, khó tin là tôi không đoán được.
“Không rõ ràng sao? Một tá trứng.”
Tối hôm đó, chúng tôi ngồi cùng những tù nhân khác trong một chuồng cừu ngay ngoài Krasnogvardeysk. Không khí có mùi len ướt và phân. Người Đức đã cho chúng tôi vài cành cây làm củi, và hầu hết mọi người đều tụ tập quanh một đống lửa nhỏ rụt rè ở giữa chuồng. Tối nay, họ mệt quá nên không muốn trò chuyện về việc trốn thoát. Họ kêu ca lười biếng rằng người Đức chưa cho ăn kể từ cái bánh quy buổi sáng, lẩm bẩm dự đoán thời tiết cho ngày mai, và chẳng bao lâu, tất cả đều ngủ trên nền lạnh, ôm nhau cho ấm. Vika, Kolya và tôi ngồi dựa lưng vào bức tường gỗ sứt mẻ, run rẩy, tranh luận xem liệu trò chơi có diễn ra không.
"Nếu hắn gọi chúng ta," Vika nói, "nếu họ đưa chúng ta đến gặp hắn, tớ hứa với cậu, họ sẽ khám chúng ta xem có vũ khí không."
"Họ đã khám tù nhân rồi mà. Họ sẽ nghĩ thế nào, rằng chúng ta tìm thấy súng trong chuồng cừu sao?"
"Người đó biết mình là mục tiêu. Hắn rất cẩn thận. Họ sẽ tìm thấy súng."
Kolya đáp lại bằng một tiếng xì đầy thương tiếc, trầm và trang nghiêm như một nốt nhạc duy nhất từ kèn bariton. Vika nhắm mắt lại vài giây, thở bằng miệng. Tôi quan sát hàng mi đỏ nhạt của cô dưới ánh lửa.
"Dù sao đi nữa," cuối cùng cô nói, "họ sẽ tìm thấy súng thôi."
"Vậy chúng ta nên làm gì, siết cổ người đó sao?"
Cô đưa tay vào bộ đồ bảo hộ, rút con dao Phần Lan của mình khỏi bao dao trên thắt lưng, và bắt đầu khắc một nấm mồ nhỏ trên đất đóng băng. Khi nó đủ sâu, cô chôn khẩu súng lục và đưa tay ra để nhận tay Kolya.
"Tôi muốn giữ nó."
Cô ấy chờ với tay ra và cuối cùng anh ta cũng đưa cho cô ấy. Khi cả hai khẩu súng lục đều bị đất phủ, cô ấy cởi áo liền quần ra và tháo thắt lưng. Kolya nhúc nhích nhẹ tôi một cái. Áo liền quần đã trượt khỏi vai Vika; bên dưới cô ấy mặc một chiếc áo sơ mi kiểu của thợ làm rừng bằng len dày và hai lớp áo lót dài, nhưng trong giây lát tôi nhìn thấy xương quai xanh của cô ấy dịch chuyển dưới làn da lấm tấm bụi. Trước đây tôi chưa bao giờ để ý đến xương quai xanh của người khác; xương của cô ấy trông như những cánh chim hải âu bay. Cô ấy giật dây lưng vải ra, nâng áo sơ mi và hai chiếc áo lót lên đến ngay dưới ngực, giữ áo bằng cằm, và quấn thắt lưng vào làn da trần. Vỏ dao giờ đặt lên xương ức cô ấy, và khi cô ấy kéo áo lót và áo sơ mi xuống rồi cài lại áo liền quần, không thể nhận ra hình dạng của nó.
Cô ấy nắm lấy tay tôi và đặt nó lên ngực cô ấy. "Cậu có cảm thấy gì không?"
Tôi lắc đầu và Kolya cười. "Trả lời sai rồi."
Vika mỉm cười với tôi. Tay tôi vẫn đặt trên ngực có đệm của cô ấy. Tôi vừa sợ chuyển động nó, vừa sợ cứ để nguyên ở đó. "Đừng nghe hắn, Lyova. Hắn sinh ra từ mông mẹ hắn mà."
"Hai cậu muốn chuyện riêng với nhau à? Tôi có thể qua chia chỗ nằm với ông già Edik bên đó. Hắn trông cô đơn lắm."
"Còn con dao của tôi thì sao?" tôi hỏi cô ấy.
"Tôi quên mất con dao của cậu rồi."
"Để tôi lấy đi," Kolya nói. "Tôi biết cách dùng nó."
“Không,” Vika nói. “Họ sẽ lục soát cậu kỹ nhất. Cậu là người duy nhất trông như một binh sĩ.” Cô nghiêng người về phía trước và tôi rụt tay lại, chắc chắn rằng mình đã bỏ lỡ một cơ hội dù không biết đó là gì hay nó đi đâu mất. Cô gỡ vỏ dao găm ra khỏi giày tôi và nhấc nó lên một lúc, cân nhắc kích thước và hình dạng. Cuối cùng, cô trượt nó sâu vào trong giày tôi, dưới tất. Cô lại kiểm tra giày một lần nữa. Không nhìn thấy gì cả. Cô vỗ vỗ vào da giày và trông có vẻ hài lòng.
“Cậu đi bình thường được không?”
Tôi đứng dậy và đi vài bước. Tôi cảm nhận lưỡi dao găm đâm vào chân, nhưng có vẻ chắc chắn, được giữ chặt bởi tất và giày của tôi.
“Nhìn kìa,” Kolya nói. “Kẻ giết người im lặng.”
Tôi lại ngồi xuống bên Vika. Cô chạm vào chỗ mềm dưới tai tôi và kéo ngón tay qua cổ tôi, dừng lại dưới tai bên kia.
“Cậu cắt chỗ đó ra,” cô nói với tôi, “thì không ai bao giờ đóng được nó lại nữa.”
Ý cô muốn nói cắt cổ người ta như thế.
Các sĩ quan cao cấp của Einsatzgruppe A đã chiếm trụ sở đảng Krasnogvardeysk, một chuỗi các văn phòng nhỏ bẩn thỉu với sàn linoleum bong tróc ở trên xác tòa nhà cảnh sát đen kịt. Tòa nhà bốc mùi khói và khí diesel nhưng người Đức đã khôi phục điện và đốt lò; tầng hai ấm áp và thoải mái, ngoài vài vệt máu khô trên tường. Vài giờ sau khi chúng tôi chôn súng, hai binh sĩ từ tiểu đoàn Gebirgsjager dẫn ba chúng tôi vào phòng họp, nơi trước khi thị trấn thất thủ, các thành viên ban lập kế hoạch đã gặp để thảo luận các mệnh lệnh từ trên xuống và chỉ thị cho dưới. Những cửa sổ bốn ô nhìn xuống con đường chính của Krasnogvardeysk không có đèn. Áp phích viết khẩu hiệu tuyên truyền của Lenin và Zhdanov vẫn treo trên tường, không ai động đến, như thể biểu cảm nghiêm nghị của họ làm người Đức chẳng bận tâm đến mức không đáng để xé hay làm hỏng.
Abendroth ngồi ở cuối bàn dài, uống rượu trong ly bằng pha lê. Anh gật đầu khi chúng tôi bước vào phòng, nhưng không hề đứng dậy. Chiếc mũ xám có vành đen với đầu lâu bạc phía dưới đại bàng Đức đặt trên mặt bàn. Một bàn cờ du lịch, các quân đã được sắp xếp sẵn, nằm giữa mũ và một chai rượu gần như trống không có nhãn.
Tôi đã tưởng tượng một người thon thả, phong cách học giả, nhưng Abendroth là một người to lớn, cơ bắp như vận động viên ném búa, cổ áo ghì chặt vào các tĩnh mạch trên cổ dày của anh. Cái ly nặng trông mong manh như ly nhỏ xíu trong lòng bàn tay anh. Anh trông không già hơn ba mươi, nhưng tóc cắt sát hai bên đã trắng, và râu ria trên cằm cũng vậy. Những hình SS sáng loáng trên ve cổ bên phải; bốn chấm bạc chỉ cấp bậc trên ve trái; và một Huân chương Hiệp sĩ đen-bạc treo giữa hai ve áo.
Anh ta ít nhất cũng hơi say, dù các cử động vẫn hoàn toàn nhịp nhàng. Tôi đã học từ một tuổi rất nhỏ cách nhận biết người say, kể cả những kẻ say khéo giữ được bình tĩnh. Bố tôi không phải là người uống rượu nhiều, nhưng bạn bè ông thì ai cũng uống, những nhà thơ và nhà viết kịch chưa bao giờ đi ngủ khi còn tỉnh táo trong suốt cuộc đời trưởng thành. Một số thì tình cảm lộ liễu, hôn má tôi và làm rối tóc tôi trong khi nói với tôi rằng có một người cha như ông thật là may mắn. Số khác thì lạnh lùng và xa cách như những mặt trăng quay quanh, chờ tôi trở lại phòng tôi chia sẻ với chị gái, để lại người lớn một mình cho họ tiếp tục các cuộc tranh luận về Bộ Chính Trị Đảng hay khiêu khích mới nhất của Mandelstam. Một số lắp bắp sau chỉ một ly vodka và một số chỉ nói rõ ràng sau khi cạn chai đầu tiên.
Đôi mắt của Abendroth sáng lên hơi quá mức. Thỉnh thoảng ông ta cười mà không vì lý do gì rõ ràng, có vẻ tự vui với những câu đùa của chính mình. Ông ta quan sát chúng tôi và không nói gì cho đến khi một ly rượu trong tay đã cạn, lau tay lại và nhún vai.
"Rượu mận," ông ta nói với chúng tôi, tiếng Nga khá chuẩn, mặc dù giống như sĩ quan Einsatz cùng trường học, ông ta không cố gắng bắt chước giọng. "Một ông già tôi quen làm rượu này thủ công, ngon nhất thế giới, và giờ tôi mang theo một thùng mỗi khi đi đâu đó. Một người trong số các cậu biết nói tiếng Đức không?"
"Tôi biết," Kolya nói.
"Cậu học ở đâu vậy?"
"Bà ngoại tôi đến từ Vienna." Dù điều này có đúng hay không, tôi cũng chẳng biết, nhưng ông ta nói với một sự tin tưởng đến mức Abendroth có vẻ chấp nhận điều đó.
"Cậu đã từng đến Vienna chưa?" (Nói bằng tiếng Đức)
"Chưa." (Trả lời bằng tiếng Đức)
"Tiếc quá. Thành phố đẹp lắm. Và cho đến giờ vẫn chưa ai đánh bom nó, nhưng điều đó sẽ không kéo dài. Tôi dự đoán người Anh sẽ đến đó trước khi năm kết thúc. Có ai nói với cậu tôi chơi cờ không?"
"Một trong những đồng đội của ông. Một Obersturmfuhrer, tôi tin vậy? Ông ấy nói tiếng Nga gần giỏi như ông."
"Kuefer? Người ria mép nhỏ đó à?"
"Đúng rồi. Ông ấy rất…" Kolya ngập ngừng như thể không biết nên tiếp tục thế nào mà không nói điều gì xúc phạm. "… thân thiện."
Abendroth nhìn Kolya vài giây trước khi khịt mũi, vừa buồn cười vừa ghê tởm. Ông ta che miệng bằng mu bàn tay và ợ trước khi rót thêm một ly rượu schnapps.
"Tôi chắc là ông ấy vậy. Ừ, ông ấy rất thân thiện, Kuefer. Và cuộc trò chuyện của các người sao lại chuyển sang tôi vậy?"
Tôi nói với hắn là bạn tôi đây là một trong những tay chơi cờ giỏi nhất ở Leningrad và hắn nói—
"Bạn Do Thái của cậu đây à?"
"Ha, đó cũng là trò đùa của hắn, nhưng không, Lev không phải Do Thái. Hắn bị lời nguyền mũi mà không có tí tiền nào."
"Tôi ngạc nhiên là Kuefer không kiểm tra bộ phận sinh dục của thằng bé để xác minh chủng tộc."
Vẫn nhìn tôi, Abendroth bình luận bằng tiếng Đức cho các binh sĩ, những người liếc tôi, tò mò.
"Cậu có hiểu tôi vừa nói gì không?" hắn hỏi Kolya.
"Hiểu."
"Dịch cho bạn bè của cậu đi."
"‘Việc của tôi là nhận ra người Do Thái khi tôi gặp họ.'"
"Rất tốt. Và khác với bạn Kuefer của chúng ta, tôi cũng có thể nhận ra một cô gái. Cởi mũ ra đi, cô bé."
Trong một khoảng thời gian dài, Vika không cử động. Tôi không dám nhìn cô, nhưng tôi biết cô đang cân nhắc xem có nên vung dao hay không. Hành động đó sẽ vô ích, những tên lính sẽ bắn cô trước khi cô bước đi một bước, nhưng dường như những hành động vô ích là tất cả những gì chúng tôi còn lại. Tôi có thể cảm nhận Kolya căng thẳng bên cạnh mình—nếu Vika vung dao, anh sẽ lao vào tên lính gần nhất, và mọi chuyện sẽ kết thúc rất nhanh.
Cái chết sắp đến không làm tôi sợ hãi nhiều như lẽ ra phải vậy. Tôi đã sợ quá lâu rồi; tôi quá mệt mỏi, quá đói để cảm nhận điều gì đó với cường độ đúng mức. Nhưng nếu nỗi sợ của tôi giảm đi, không phải vì lòng dũng cảm của tôi tăng lên. Cơ thể tôi yếu đến mức đôi chân run rẩy vì nỗ lực đứng thẳng. Tôi không thể tập trung nghĩ về một mối quan tâm lớn lao nào, kể cả số phận của Lev Beniov.
Cuối cùng Vika cởi chiếc mũ lông thỏ và giữ nó trong tay. Abendroth uống nửa ly rượu chỉ trong một hơi, mím môi và gật đầu.
"Cô sẽ xinh đẹp khi tóc mọc dài ra. Bây giờ mọi thứ đều rõ ràng, đúng không? Nói cho tôi nghe một điều này," ông nói với Kolya. "Cậu nói tiếng Đức khá tốt, nhưng lại không đọc được tiếng Nga à? Nói cho tôi nghe," ông nói với Kolya. "Cậu nói tiếng Đức khá tốt, nhưng lại không đọc được tiếng Nga à?"
"Nó luôn làm tôi đau đầu khi cố đọc."
"Tất nhiên rồi. Còn bạn," Ông ta nói với tôi, "Cậu là một trong những kỳ thủ cờ hay nhất ở Leningrad, nhưng cậu cũng không đọc được sao? Thật là một sự kết hợp kỳ lạ, đúng không? Hầu hết các kỳ thủ cờ mà tôi biết đều khá chữ nghĩa."
Tôi mở miệng, hy vọng lời nói dối sẽ tuôn ra nhanh như Kolya, nhưng Abendroth giơ một tay lên và lắc đầu.
"Đừng bận tâm. Cậu đã vượt qua bài kiểm tra của Kuefer, tốt lắm, tôi tôn trọng điều đó. Các cậu là những người sống sót. Nhưng tôi không phải là người ngốc. Một người trong số các cậu là người Do Thái giả vờ làm người Gentile; một người là con gái giả làm con trai; tất cả các cậu, tôi cho rằng, đều biết chữ giả làm mù chữ. Và mặc dù có sự chú ý của những quân nhân Biệt Đội Sơn Cước cảnh giác của chúng tôi và Obersturmfuhrer Kuefer danh tiếng, tất cả những chiêu trò này đều thành công. Nhưng các cậu lại xin đến đây chơi cờ. Các cậu muốn tôi chú ý đến các cậu. Điều này thật kỳ lạ. Các cậu không phải là kẻ ngốc, điều đó rõ ràng, nếu không các cậu đã chết từ lâu rồi. Các cậu có thực sự nghĩ rằng tôi sẽ thả tự do cho các cậu nếu các cậu thắng trò chơi này không? Còn những tá trứng… tá trứng là phần kỳ lạ nhất của toàn bộ kế hoạch này."
"Tôi nhận Ông không có quyền để thả chúng tôi," Kolya nói, "Nhưng tôi nghĩ, nếu bạn tôi thắng, có lẽ Ông có thể nói giúp với cấp trên của ông-"
‘‘Tất nhiên tôi có quyền thả các cậu. Không phải là vấn đề- à.’’ Abendroth chỉ vào Kolya và gật đầu, gần như mỉm cười. ‘‘Rất tốt. Cậu thật thông minh. Đánh vào cái tôi của người Đức. Phải, không có gì ngạc nhiên khi Kuefer lại thích cậu đến thế. Giải thích về tá trứng đi.’’
Tôi đã không ăn một quả nào kể từ tháng Tám. Chúng tôi luôn nói về những món ăn thèm muốn, và tôi không thể xua bỏ ý nghĩ về trứng chiên ra khỏi đầu. Cả ngày, đi bộ trong tuyết, đó là điều duy nhất tôi nghĩ tới.’
Abendroth gõ nhẹ vào mặt bàn bằng đầu ngón tay. ‘‘Vậy, hãy xem xét tình huống. Cả ba người các cậu đều là kẻ nói dối đã rõ. Các cậu bịa ra một câu chuyện mơ hồ khiến mình được gặp riêng-’’ Abendroth liếc nhìn các binh sĩ và nhún vai. ‘‘Một buổi gặp gỡ riêng với một sĩ quan cao cấp của Einsatzgruppe A bị khinh miệt. Rõ ràng là các cậu có tin tức mà muốn trao đổi.’
Có một khoảnh khắc im lặng trước khi Kolya nói, "Tôi không hiểu."
"Tôi nghĩ cậu hiểu đấy. Cậu biết những tù nhân nào là Bolshevik, có lẽ, hoặc cậu đã nghe thấy kế hoạch di chuyển quân của Hồng quân. Cậu không thể cung cấp thông tin này trước mặt các người Nga khác, nên cậu sắp xếp cuộc gặp này. Điều đó xảy ra khá thường xuyên, cậu biết mà. Những người đồng hương dường như rất háo hức phản bội Đồng chí Stalin."
"Chúng tôi không phải kẻ phản bội," Kolya nói. "Cậu bé tình cờ giỏi cờ vua. Tôi nghe nói cậu chơi cờ. Tôi thấy một cơ hội."
"Đây là câu trả lời tôi mong đợi," Abendroth nói với một nụ cười. Ông uống cạn phần còn lại trong ly rượu schnapps và rót ly cuối cùng, giơ lên ánh sáng để ngắm nhìn rượu.
"Ôi trời ơi, đúng là thứ này. Bảy năm trong thùng gỗ sồi…"
Ông ta nhấp một ngụm nhỏ nữa, giờ thì kiên nhẫn, không muốn vội uống cạn ly cuối cùng. Sau một lúc thưởng thức schnapps, ông ta nói vài lời nhỏ bằng tiếng Đức. Một trong những lính canh chĩa MP40 về phía chúng tôi trong khi người kia tiến lại gần và bắt đầu lục soát tôi.
Con dao dường như được giấu kĩ trong chuồng cừu, nhưng khi đứng đó trong lúc người lính lục soát tôi, tôi chỉ nghĩ đến chiếc vỏ da cứng đang cấn vào mặt trên chân mình. Anh ta lục soát các túi áo khoác cũ của cha tôi, kiểm tra dưới nách, dưới thắt lưng, dọc theo chân tôi. Anh ta thọc ngón tay vào trong giày tôi và nỗi sợ hãi quay trở lại, một cú sốc kinh hoàng, nhạo báng sự tê liệt mà tôi vừa cảm thấy năm phút trước. Tôi cố gắng thở bình thường, giữ một gương mặt bình tĩnh. Anh ta dò dọc ống chân tôi, không tìm thấy gì, rồi chuyển sang lục soát Kolya.
Tôi tự hỏi anh lính đó đã hụt tới mức nào, bao nhiêu milimet tách biệt các ngón tay anh ta và vỏ đựng dao găm. Anh ta là một cậu bé, lớn hơn tôi một, hai tuổi, khuôn mặt đầy những nốt ruồi nâu nhỏ. Bạn cùng lớp chắc chắn đã trêu cậu ấy về những nốt ruồi đó. Cậu ấy đã nhìn chúng trong gương, u sầu và xấu hổ, tự hỏi liệu cậu có thể cạo chúng bằng dao cạo của bố không. Nếu tối qua cậu ấy có thêm mười lăm phút để ngủ, nếu cậu ấy ăn thêm một thìa súp nữa, có lẽ cậu ấy đã có năng lượng để làm việc của mình đúng cách và tìm ra con dao của tôi. Nhưng cậu ấy không thế, và sự cẩu thả của cậu đã thay đổi mọi thứ đối với cả hai chúng tôi.
Khi anh ta xong việc lục soát Kolya, anh ta bước sang bên Vika. Người đồng đội của anh ta nói đùa một câu và cười thầm với sự chọc gẹo của mình. Có lẽ anh ta muốn khiêu khích cậu bé để vỗ mông Vika hoặc sờ một bên núm vú, nhưng cô ấy nhìn anh ta bằng đôi mắt lạnh lùng, không chớp, và anh ta dường như bị bối rối, kiểm tra cô ấy ít kỹ hơn nhiều so với Kolya và tôi. Tôi nhận ra cậu bé chắc hẳn còn chưa cắt chỉ; cậu ấy lo lắng trước cơ thể phụ nữ như tôi vậy.
Sau khi lúng túng kiểm tra đôi chân cô ấy, anh ta đứng dậy, gật đầu với Abendroth và lùi lại. Sturmbannführer quan sát cậu bé một lát, nụ cười nhẹ xuất hiện trên môi ông ta.
"Tôi nghĩ hắn sợ cậu," hắn nói với Vika. Hắn đợi vài giây để xem cô có phản ứng không, và khi cô không nói gì, hắn quay sang Kolya. "Cậu là một người lính, tôi không thể thả cậu được, nếu không cậu sẽ trở lại Quân đội Đỏ, và nếu cậu giết một người Đức, cha mẹ họ sẽ đổ lỗi cho tôi." Hắn nhìn tôi. "Còn cậu là người Do Thái; thả cậu đi là trái với lương tâm của tôi. Nhưng nếu cậu thắng, tôi sẽ để cô gái về nhà. Đây là lời đề nghị tốt nhất tôi có thể đưa ra."
"Tôi có lời hứa của ông là ông sẽ để cô ấy đi sao?" Tôi hỏi.
Abendroth xoa phần râu bạc trên cằm bằng các khớp ngón tay. Chiếc nhẫn cưới vàng trên ngón áp út của hắn hắt ánh sáng từ bóng đèn phía trên.
"Cậu thích cô gái ấy à. Thú vị. Còn cậu, cô gái tóc đỏ nhỏ một tẹo, cậu có thích tên Do Thái không? Thôi nào, thôi nào, không cần thô tục như vậy. Vậy… cậu không có quyền để đòi hỏi, nhưng được, tôi hứa với cậu. Tôi đã tìm được một trò chơi hay từ khi ở Leipzig. Đất nước Nga này có những kỳ thủ chơi cờ hay nhất thế giới và tôi chưa thấy ai giỏi cả."
"Có thể ông đã bắn họ chết trước khi biết được họ có giỏi hay không," Kolya nói. Tôi nín thở, khá chắc chắn đây là bước đi quá đà, nhưng Abendroth gật đầu.
"Có thể như vậy. Công việc quan trọng hơn vui chơi. Nào," hắn nói với tôi, "ngồi xuống. Nếu cậu giỏi như bạn cậu nói, tôi có thể giữ cậu lại cho cuộc thi."
"Đợi đã," Kolya nói. "Nếu hắn thắng, Ông sẽ thả cô ấy và đưa trứng cho tụi tôi chứ?"
Sự kiên nhẫn của Abendroth với những lời qua lại bắt đầu cạn kiệt. Lỗ mũi Ông ta phập phồng khi Ông nghiêng người về phía trước, dù không lớn tiếng.
"Những gì tôi đề nghị còn hơn cả hào phóng. Cậu muốn tiếp tục sự ngu ngốc này sao?"
"Tôi tin bạn tôi. Nếu anh ta thua, hãy bắn vào đầu chúng tôi. Nhưng nếu anh ta thắng, chúng tôi muốn có trứng chiên cho bữa tối."
Abendroth lại nói bằng tiếng Đức và người lính lớn tuổi đã chĩa nòng súng vào đầu Kolya.
"Cậu thích mặc cả hả?" Abendroth hỏi. "Tốt, chúng ta mặc cả. Cậu nghĩ mình có quân bài tẩy hả. Cậu không có gì đâu. Tôi nói hai tiếng thôi là cậu thành xác chết. Đúng không? Hai tiếng. Cậu có hiểu chuyện đó xảy ra nhanh thế nào không? Cậu là xác chết, họ kéo xác cậu ra ngoài, tôi chơi cờ với bạn cậu. Sau này, có thể tôi sẽ đưa cô gái tóc đỏ về phòng, tắm cho cô ấy, xem cô ấy trông thế nào khi không còn bụi bẩn. Hoặc không làm gì cả, có thể không tắm, có thể tối nay tôi muốn làm tình với một con thú hoang. Bây giờ hãy suy nghĩ kỹ đi, cậu bé, suy nghĩ thật kỹ trước khi mở miệng. Vì chính bản thân cậu, vì mẹ cậu nếu con đàn bà thối tha đó còn sống, hãy nghĩ kỹ đi."
Một người đàn ông khác sẽ quyết định bỏ qua và im lặng mãi mãi. Kolya không do dự quá một giây.
"Tất nhiên, Ông có thể giết tôi bất cứ khi nào ông muốn. Điều này là không thể phủ nhận. Nhưng ông nghĩ bạn thân nhất của tôi sẽ còn tâm trí để chơi cờ sau khi thấy óc tôi văng trên bàn không? Ông muốn chơi cờ với một tay kỳ phùng địch thủ của Leningrad hay với một cậu bé sợ hãi đến nỗi nước tiểu chảy xuống chân? Nếu cậu ấy không giành được tự do cho chúng tôi, thì tôi hiểu, đây là chiến tranh. Nhưng ít nhất hãy cho cậu ấy cơ hội thắng bữa tối mà chúng tôi mơ ước."
Abendroth nhìn Kolya, đầu ngón tay Ông ta gõ nhịp chậm trên mặt bàn, là âm thanh duy nhất trong phòng. Cuối cùng, ông ta quay sang người lính có nốt ruồi và ra lệnh ngắn gọn. Sau khi người Đức trẻ tuổi chào và rời phòng, Sturmbannfuhrer ra hiệu cho tôi ngồi vào chiếc ghế ở góc bàn bên cạnh Ông. Ông gật đầu với Kolya và Vika và chỉ vào những chiếc ghế ở cuối bàn.
"Ngồi đi," ông ta ra lệnh cho họ. "Các cậu đã đi cả ngày rồi phải không? Ngồi đi, ngồi đi. Chúng ta nên tung đồng xu không?" ông ta hỏi tôi. Không chờ phản hồi, ông ta lấy một đồng từ túi ra và cho tôi xem con đại bàng đang kẹp chữ vạn một bên và ký hiệu năm mươi Reichspfennig bên kia. Ông ta hất đồng xu lên không trung bằng ngón tay cái, hứng nó, đặt lên mu bàn tay còn lại, và nhìn tôi. "Chim hay số?"
" Số!"
"Cậu không thích con chim Đại Bàng của chúng tôi sao?" anh ta hỏi với một nụ cười nhẹ. Anh ta rút tay ra và chỉ cho tôi con đại bàng Nazi. "Tôi sẽ chơi quân trắng. Và đừng lo - cậu vẫn giữ được quân hậu của mình."
Anh ta di chuyển quân cờ Queen của mình tiến hai ô và gật đầu khi tôi cũng làm như vậy.
"Một ngày nào đó tôi sẽ chọn khai cuộc khác." Ông ta di chuyển cánh bên c-pawn tiến hai ô, dâng quân để thí. Chiến thuật Gambit Hậu. Ít nhất nửa số ván tôi từng chơi bắt đầu bằng những nước đi này. Từ người chơi a-ma-tơ cuối tuần cho đến đại kiện tướng đều bắt đầu bằng kết hợp này; vẫn còn quá sớm để biết anh chàng Đức này có biết mình đang làm gì không. Tôi từ chối Gambit và di chuyển quân cờ vua tiến một ô.
Qua nhiều năm, tôi đã chơi hàng nghìn trận đấu với hàng trăm đối thủ. Tôi đã từng chơi trên một tấm chăn ở Summer Gardens (Vườn Giải Trí Mùa Hè), trong các giải đấu tại Cung điện Pioneers, trong sân Kirov với bố tôi. Khi tôi chơi cho câu lạc bộ Spartak, tôi ghi lại tất cả các ván đấu của mình, nhưng tôi đã vứt chúng đi khi bỏ thi đấu. Tôi chưa bao giờ định nghiên cứu các ván cũ, nhất là sau khi nhận ra mình chỉ là một người chơi hạng trung. Nhưng nếu bạn đưa cho tôi một tờ giấy và một cây bút, ngay cả hôm nay, tôi vẫn có thể viết ra ký hiệu đại số của toàn bộ ván đấu với Abendroth.
Tôi tung quân cờ Queen ra từ hàng sau ở nước đi thứ sáu, điều này dường như làm anh ta ngạc nhiên. Ông ta nhăn mặt, gãi ria mép bằng móng tay một cách chần chừ. Tôi chọn nước đi đó vì tôi nghĩ nó hay, nhưng cũng vì nó có thể trông như một nước đi tệ—cả hai chúng tôi đều chưa biết rõ trình độ của đối thủ, và nếu ông ấy tin rằng tôi là một người chơi kém, tôi có thể dụ ông ta mắc sai lầm quan trọng.
Ông ấy lẩm bẩm gì đó bằng tiếng Đức và di chuyển mã bên cánh vua, một phản ứng hợp lý nhưng không phải là cái tôi lo sợ. Nếu ông ấy ăn quân tốt của tôi, ông ấy sẽ giữ được thế chủ động, buộc tôi phải phản ứng với sự tấn công của Ông ấy. Thay vào đó, ông ta chơi phòng ngự, và tôi tận dụng cơ hội đưa quân cờ Bishop vào lãnh thổ bên địch.
Abendroth ngả lưng vào ghế, nhìn chăm chú vào bàn cờ. Sau một phút suy nghĩ, ông mỉm cười và nhìn tôi.
"Lâu rồi tôi mới được chơi một ván hay."
Tôi không nói gì, chỉ nhìn vào bàn cờ, hình dung các chuỗi nước đi có thể xảy ra.
"Cậu không cần lo lắng đâu," ông tiếp tục. "Thắng hay thua, cậu vẫn an toàn. Một ván cờ hay ho, mỗi đêm, sẽ giữ cho tôi tỉnh táo."
Ông lại nghiêng người về phía bàn và di chuyển quân Queen. Trong khi tôi đang cân nhắc, người lính trẻ quay lại mang theo một cái hộp gỗ sọc rơm đầy rơm. Abendroth hỏi anh ta một câu và người lính trẻ gật đầu, đặt hộp lên bàn.
"Cậu làm tôi hào hứng lên rồi đấy," Abendroth nói với Kolya. "Nếu tôi thắng, tôi có thể ăn một bữa trứng chiên 12 cái."
Kolya, ngồi ở đầu bàn xa nhất, cười khi nhìn thấy hộp trứng. Cả hai lính giờ đứng sau lưng cậu ta và Vika, tay họ không rời khỏi tay cầm súng máy. Kolya đã cố gắng theo dõi trò chơi từ xa, nhưng Vika chỉ chăm chăm nhìn bàn. Khuôn mặt cô ấy hiếm khi biểu lộ gì, nhưng tôi có thể thấy cô ấy khó chịu và tôi nhận ra, quá muộn, rằng mình đã bỏ lỡ cơ hội. Khi tên lính đi lấy trứng, chúng tôi tạm thời đông hơn người Đức; họ có súng còn chúng tôi chỉ có dao, nhưng đó có thể là cơ hội tốt nhất của chúng tôi.
Tám nước đi vào ván cờ, Sturmbannführer và tôi bắt đầu trao đổi quân. Tôi ăn một tốt; hắn ăn một knight. Tôi ăn một bishop ; hắn ăn một tốt. Kết thúc chuỗi nước đi này, lực lượng của chúng tôi vẫn cân bằng, nhưng bàn cờ đã mở ra và tôi đánh giá vị trí của mình mạnh hơn.
"Những tay chơi vĩ cầm và tay chơi cờ vua, hả?"
Trước đó tôi còn sợ nhìn hắn, nhưng giờ tôi lén liếc khi hắn phân tích các đội hình. Ngồi gần như vậy, tôi thấy những vầng thâm sưng dưới đôi mắt màu nâu hạt dẻ của hắn. Quai hàm hắn cương quyết và vuông góc, nhìn nghiêng giống chữ L hoa. Hắn nhận ra tôi đang nhìn mình và ngẩng đầu khổng lồ để nhìn lại tôi. Tôi nhanh chóng cúi mắt xuống.
"Nòi giống của cậu," anh ta nói. "Dù mọi thứ thế nào, các cậu vẫn trở thành những nghệ sĩ violin tài ba và kỳ thủ cừ khôi."
Tôi rút lại quân Queen và trong mười hai nước đi tiếp theo, chúng tôi tập hợp lực lượng, tránh va chạm trực tiếp. Cả hai chúng tôi đều làm nước nhập thành, bảo vệ vua trong khi chuẩn bị cho trận chiến tiếp theo, tiến về trung tâm, cố gắng chiếm đất tốt nhất. Ở nước đi thứ hai mốt, tôi suýt mắc vào cái bẫy nhỏ tinh tế mà ông ta giăng ra. Tôi đã sẵn sàng ăn một tốt thí, nhưng rồi nhận ra kế hoạch của người Đức. Tôi lui lại Bishop và di chuyển quân Queen để cho quân cờ này một góc tấn công tốt hơn.
"Tiếc thật," Abendroth nói. "Đáng lẽ đó là một nước đi nhỏ xinh đẹp."
Tôi nhìn sang và thấy Kolya cùng Vika đang nhìn chằm chằm vào tôi. Kế hoạch chưa bao giờ được nói rõ, nhưng giờ thì có vẻ rõ ràng. Tôi luồn chân trong giày và cảm nhận được vỏ dao găm của phi công đã chết đang cắm vào mắt cá chân mình. Tôi có thể rút lưỡi dao nhanh đến mức nào? Dường như không thể rút dao ra và cắt cổ Abendroth trước khi lính bắn hạ tôi. Ngay cả khi không có binh lính bảo vệ, Abendroth vẫn trông quá mạnh mẽ để tôi có thể giết hắn chết. Khi tôi còn nhỏ, tôi từng thấy một người đàn ông mạnh mẽ trong rạp xiếc với đôi tay giống Sturmbannfuhrer - ông ta đã xoắn một chiếc mỏ lết thép nặng thành một nút thắt, và vì hôm ấy là sinh nhật tôi, tôi được giữ nó làm kỷ niệm. Nhiều năm tôi đã giữ chiếc mỏ lết bị thắt nút, khoe nó với bạn bè trong Kirov, khoe khoang về việc người đàn ông mạnh mẽ đã làm rối tóc tôi và nháy mắt với mẹ tôi. Một ngày nọ tôi tìm kiếm nhưng không thấy; Tôi nghi ngờ Oleg Antokolsky đã lấy trộm nó, nhưng tôi chưa bao giờ có bằng chứng.
Ý tưởng so dao với một người to lớn như vậy khiến tôi hoảng sợ, nên tôi dừng suy nghĩ về nó vài phút và tập trung vào trò chơi. Vài nước đi sau, tôi thấy cơ hội để đổi Knight. Vị trí của tôi có vẻ hơi chật hẹp, nên tôi buộc phải trao đổi. Abendroth thở dài khi lấy quân của tôi.
"Tôi không nên để điều đó xảy ra."
"Đánh hay quá," Kolya reo lên từ đầu bàn xa. Tôi quay lại, thấy cậu ấy và Vika vẫn đang nhìn tôi, và nhanh chóng quay lại tập trung vào bàn cờ. Làm sao tôi trở thành sát thủ được chọn vậy? Kolya chẳng phải đã biết tôi rồi sao? Abendroth nên chết, tôi biết điều đó - tôi đã muốn hắn chết từ khi nghe câu chuyện của Zoya. Không nghi ngờ gì nữa, hắn đã sát hại hàng ngàn đàn ông, phụ nữ và trẻ em khi theo quân đội Wehrmacht khắp châu Âu. Berlin đã trao cho hắn những huy chương lấp lánh vì đã hành quyết người Do Thái, Cộng Sản và các du kích của các quốc gia bị chiếm đóng. Hắn là kẻ thù của tôi. Nhưng khi đối mặt với hắn giờ đây trên bàn cờ, nhìn hắn lo lắng và chiếc nhẫn cưới lấp lánh khi suy tính nước đi tiếp theo. Tôi chẳng bao giờ nghĩ rằng mình có thể giết được hắn, gã khổng lồ to hơn tôi gấp bội.
Vỏ dao găm cứa vào mắt cá chân tôi. Sturmbannführer ngồi đối diện với tôi, cổ áo khoác của hắn cấn vào một mạch máu xanh to ở bên cổ rộng. Kolya và Vika ngồi ở đầu bàn xa nhất, chờ tôi hành động. Với tất cả những phiền nhiễu này, tôi vẫn xoay xở được để chơi cờ tương đối tốt. Dù kết quả có thể chẳng có ý nghĩa gì, nhưng ván cờ vẫn quan trọng với tôi.
Tôi chống cùi chỏ lên bàn, đầu dựa trên bàn tay để tay che tầm nhìn của tôi khỏi Kolya và Vika. Ở nước đi thứ hai mươi tám, tôi đẩy tốt lên hàng năm, một bước tiến đầy quyết đoán.
Abendroth có thể ăn quân đó bằng quân tốt của mình. Có một quy tắc cũ trong cờ vua rằng người chơi nên “ăn về phía trung tâm.” Abendroth theo chiến lược cổ điển, dùng tốt, tạo ưu thế ở giữa bàn cờ. Nhưng đúng như Tarrasch nói, “Luôn đặt xe phía sau các tốt, trừ khi làm thế là sai,” việc ăn về phía trung tâm là nước đi đúng ngoại trừ khi nó sai. Khi chuỗi nước đi kết thúc, chúng tôi mỗi người đã đổi hai tốt, số lượng quân vẫn cân bằng, và giống như một người đã nuốt độc nhưng vẫn tiếp tục nhai thịt mình, không nhận ra cái chết đã cận kề, Abendroth chẳng biết mình đã phạm phải một sai lầm chết người.
Hắn đáng lẽ phải di chuyển quân cờ vua của mình, anh chàng Đức này nghĩ rằng mình đang nắm ưu thế. Khi chúng tôi tiến đến cuối trận, quân tốt của anh ấy đứng một mình ở mép bàn cờ, chạy về hàng tám, nơi nó có thể biến thành quân Queen và tấn công phòng thủ của tôi. Abendroth quá chú tâm vào việc có quân Queen thứ hai nên ông ấy vui vẻ chấp nhận các trao đổi mà tôi đề xuất. Làm sao ông ấy có thể thua khi đang tấn công với hai quân Queen chứ? Chỉ tập trung vào quân tốt của mình, ông ấy không nhận ra cho đến khi quá muộn rằng tôi cũng có một quân tốt lọt vào trung tâm bàn cờ. Cuối cùng, quân tốt của tôi được thành quân cờ Queen trước một nước so với quân tốt của ông ta. Hai quân Queen thật khó đánh bại trừ khi đối thủ của bạn có quân Queen thứ hai trước.
Abendroth vẫn chưa nhận ra trò chơi đã kết thúc, nhưng nó đã kết thúc. Tôi liếc nhìn Vika, ngốc nghếch tự hào về chiến thắng sắp tới của mình, và thấy tay cô ấy đã trượt vào trong bộ đồ bảo hộ. Cô ấy sẽ không chờ tôi hành động nữa, cô ấy đang với tay lấy dao; và Kolya đặt tay lên mép bàn, sẵn sàng đứng dậy và tấn công khi cô ấy làm vậy. Ánh mắt tôi chạm vào Vika và tôi biết rõ ràng rằng nếu tôi ngồi yên, cơ thể rách nát của cô ấy sẽ sớm nhỏ giọt những giọt cuối cùng trên sàn linoleum loang lổ.
Trong khi Abendroth suy nghĩ về bàn cờ và đám quân Queen hiếm hoi, tôi giả vờ gãi bắp chân, từ từ luồn tay vào bốt. Đây không phải là một làn sóng can đảm, mà ngược lại — nỗi sợ cái chết của Vika đã lấn át tất cả những nỗi sợ khác của tôi. Abendroth nheo mắt nhìn quân cờ vua của ông ta và tôi thấy sắc mặt của ông thay đổi khi hiểu ra sự thật về vị trí của mình. Tôi tưởng thất bại sẽ làm anh tức giận. Thay vào đó, một nụ cười đã làm sáng khuôn mặt ông và trong một khoảnh khắc tôi có thể thấy ông ta trông như thế nào khi còn là một cậu bé con.
“Thật tuyệt,” anh ấy nói, ngẩng đầu nhìn tôi. “Lần sau tôi sẽ không uống nhiều như thế đâu.”
Những gì ông ấy nhìn thấy trên khuôn mặt tôi khiến ông ấy bối rối. Ông liếc quanh bàn và nhìn thấy tay tôi đang móc vào bên trong chiếc ủng. Tôi lóng ngóng với cán dao và cuối cùng giật con dao ra khỏi vỏ. Trước khi tôi kịp vung, Abendroth lao tới, hất tôi khỏi ghế xuống sàn, ghìm tay cầm dao của tôi bằng tay trái và với tay phải nhắm tới khẩu súng trong bao của ông.
Nếu tôi kịp rút dao ra nhanh hơn, nếu tôi may mắn cắt trúng tĩnh mạch cổ hắn, nếu điều kỳ diệu đó xảy ra, Vika, Kolya và tôi đã chết. Các binh sĩ sẽ giơ MP40 lên và xóa sổ chúng tôi. Sự cảnh giác của Abendroth — hay sự vụng về của tôi, tùy theo cách nhìn — đã cứu chúng tôi. Khi các binh sĩ lao tới để giúp Sturmbannfuhrer, người không cần sự giúp đỡ, họ đã bỏ qua các tù nhân khác. Chỉ trong một khoảnh khắc, nhưng điều đó là đủ rồi.
Abendroth rút súng tự động của mình ra. Nghe thấy tiếng ồn ào ở cuối phòng, hắn nhìn về hướng đó. Dù thấy gì đi nữa cũng khiến hắn lo lắng hơn là cảnh tên Do Thái ốm yếu, gầy gò đang quằn quại dưới mình. Hắn ngắm mục tiêu—Vika hay Kolya, tôi không trông thấy. Tôi la lên và với tay kéo nòng súng bằng tay trái, tát vào nòng chỉ ngay khi hắn bóp cò. Súng giật và tiếng nổ làm tôi gần như điếc. Abendroth gầm gừ và cố giật súng ra khỏi tay tôi đang bám chặt. Chống lại hắn chẳng khác gì đánh nhau với gấu, nhưng tôi vẫn bám chắc vào nòng súng bằng tất cả sức lực còn lại. Những giây đó là một hỗn loạn của tiếng ồn và bạo lực, tiếng la hét bằng tiếng Đức và những nòng súng lóe sáng, tiếng gõ giày trên sàn linoleum.
Bực bội vì cái nắm cứng đầu của tôi, Abendroth đấm mạnh vào bên đầu tôi bằng tay trái. Tôi đã từng trải qua vài lần va chạm và vật lộn khi lớn lên ở Kirov, nhưng đó là kiểu đánh nhau vụng về, không đổ máu mà bạn mong đợi từ những cậu bé thuộc câu lạc bộ cờ vua. Chưa ai từng đánh tôi vào mặt. Căn phòng mờ đi, đom đóm bay ngang tầm nhìn của tôi, khi Abendroth giật lấy súng tự động khỏi tay tôi và chĩa vào mắt tôi.
Tôi ngồi dậy và đâm mũi dao sâu vào ngực anh ta, xuyên qua túi áo khoác ngực, dưới cụm huy chương, lưỡi dao cắm sâu đến tận phần bảo vệ ngón tay trên cán dao màu bạc.
Abendroth run rẩy và chớp mắt, nhìn xuống chuôi đen. Hắn vẫn có thể bắn một viên đạn xuyên qua đầu tôi, nhưng trả thù cho cái chết của chính mình dường như không quan trọng với hắn. Hắn trông thất vọng, môi cong xuống, và cuối cùng trông bối rối, chớp mắt đều đặn, hơi thở gấp gáp. Hắn muốn đứng dậy, nhưng chân hắn mềm nhũn và ngã sang một bên, ngã khỏi con dao trong tay tôi, khẩu súng rơi khỏi những ngón tay lỏng lẻo. Hắn mở to mắt - cảnh tượng như một người đàn ông ngái ngủ cố gắng tỉnh dậy - đặt lòng bàn tay lên sàn linoleum, cố bò ra khỏi cảnh tượng bẩn thỉu, phớt lờ sự náo động xung quanh. Hắn không đi được bao xa.
Tôi quay lại và thấy Kolya đang vật lộn trên sàn với một trong những binh sĩ Đức, cả hai đều cố gắng kiểm soát khẩu súng tiểu liên của người Đức. Lúc đó tôi coi Kolya là một chiến binh vô địch, nhưng không ai nói với binh sĩ đó và anh ta dường như đang chiếm ưu thế. Tôi không nhớ mình đã đứng dậy hay chạy đến giúp, nhưng trước khi tên lính đó kịp chĩa súng MP40 và bắn hết băng đạn vào ngực Kolya, tôi đã leo lên lưng người đàn ông đó, đâm dao vào và rút ra, hết lần này đến lần khác.
Cuối cùng Vika cũng kéo tôi ra khỏi người đàn ông đã chết. Bộ đồ bảo hộ của cô ấy ướt đẫm máu và trước khi lý trí kịp suy nghĩ, tôi đoán cô ấy bị bắn vào bụng. Tôi nghĩ mình không nói gì rõ ràng, nhưng cô ấy lắc đầu, dỗ dành tôi và nói, "Tôi không bị thương. Đây, cho tôi xem tay anh."
Tôi không hiểu yêu cầu đó. Tôi giơ tay phải lên, vẫn nắm chặt con dao dính máu, nhưng cô ấy nhẹ nhàng đẩy xuống, nắm lấy cổ tay còn lại của tôi, và giữ tay trái tôi giữa hai lòng bàn tay. Lần đầu tiên tôi nhận ra mình đã mất một nửa ngón trỏ. Vika quỳ xuống bên cạnh một trong những binh sĩ đã chết - cậu bé có nốt ruồi, mắt nhìn chằm chằm không hồn lên trần nhà, cổ họng rách toạc - và cắt một dải len từ quần. Cô quay lại với tôi và buộc nó quanh ngón tay tôi, một chiếc băng để cầm máu.
Kolya đã lấy được hai khẩu MP40. Cậu ném một khẩu cho Vika, giữ lại khẩu còn lại cho mình, và giật cái thùng trứng trên bàn. Chúng tôi có thể nghe thấy giọng Đức vang lên từ chỗ khác trong tòa nhà, những sĩ quan bối rối tự hỏi liệu tiếng súng họ nghe trong giấc ngủ có phải là mơ hay thật. Kolya trượt mở một trong những cửa sổ bốn ô kính và bò ra mép cửa sổ.
“Nhanh lên,” cậu ấy nói, ra hiệu cho chúng tôi theo hắn. Anh nhảy xuống và tôi vội chạy theo. Khoảng cách từ tầng hai không quá cao và tuyết dưới cửa sổ dày khoảng một mét. Tôi mất thăng bằng khi đạp xuống đát, ngã sấp mặt vào tuyết. Kolya giúp tôi đứng dậy và phủi tuyết trên mặt. Chúng tôi nghe thấy một loạt một loạt tiếng súng từ phòng hội nghị. Một lúc sau, Vika nhảy khỏi cửa sổ, khói bốc lên từ nòng súng tiểu liên của cô ấy.
Chúng tôi chạy khỏi trạm cảnh sát cũ bị cháy. Những cột đèn đường không sáng, uốn cong phía trên chúng tôi như những dấu hỏi. Tiếng hò hét từ trụ sở Đảng cũ càng lúc càng dữ dội và tôi tưởng như đạn sẽ bắt đầu xé nát không khí, nhưng chẳng có viên nào tới. Những lính canh đứng trước cửa chắc đã chạy vào bên trong khi nghe tiếng súng; đến khi họ nhận ra sai lầm thì chúng tôi đã biến mất trong bóng tối.
Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã đến rìa thị trấn nhỏ. Chúng tôi rẽ khỏi con đường và chạy qua những cánh đồng nông trại đông lạnh, vượt qua những bóng dáng của những chiếc máy kéo bỏ hoang. Trở lại Krasnogvardeysk, chúng tôi có thể nghe tiếng động cơ ô tô gầm gừ và những chiếc lốp quấn xích lăn qua tuyết. Trong khoảng cách mờ ảo phía trước, chúng tôi có thể nhìn thấy bìa đen của khu rừng rộng lớn đang chờ đón chúng tôi, để che giấu chúng tôi khỏi mắt kẻ thù.
Tôi chưa bao giờ là người yêu nước đúng nghĩa. Bố tôi sẽ không bao giờ cho phép chuyện đó khi ông còn sống, và cái chết của ông đã đảm bảo rằng nguyện vọng của ông được thực hiện. Thành phố Piter chiếm được nhiều tình cảm và lòng trung thành của tôi hơn cả đất nước. Nhưng tối hôm đó, khi chạy qua những cánh đồng lúa mì chưa cày mùa đông, với quân xâm lược Phát xít phía sau và khu rừng Nga tối tăm trước mặt, tôi cảm nhận một luồng tình yêu thuần khiết dành cho đất nước.
Chúng tôi chạy về phía rừng, lao qua những cây lúa mì, dưới ánh trăng lên và những vì sao ngày càng xa, chỉ có một mình dưới bầu trời vô thần.
Chương 22
Bọn lính Đức nậy tấm ván ép đóng trên khung cửa làm chúng tôi thức giấc. Ánh sáng đầu ngày xuyên qua kẽ hở của những tám ván, lấp lánh trên chiếc trán bóng nhẫy, trên đôi giày da há mõm, trên khuy áo choàng bằng sừng của một lão già.
Vika ngồi cạnh tôi, cắn móng tay. Nàng cắn móng tay một cách từ tốn, không giống một người đang lo lắng mà giống một tên đồ tể đang mài sắc lưỡi dao của mình. Một lúc nào đó trong đêm tối, nàng đã nhẹ nhàng rời xa tôi mà tôi không hề hay biết. Khi thấy tôi đang chăm chú nhìn, nàng nhìn trả lại với ánh mắt lạnh lùng. Bất kỳ dấu vết thân tình nào mà tôi cảm nhận được tối hôm qua cũng đã biến mất theo đêm tối, khi những tia sáng đầu ngày vừa xóa tan màn đêm.
Cánh cửa mở, lính Đức quát tháo bắt chúng tôi lên đường, đám nông dân rời nhau ra. Tôi thấy lão già Edik đưa ngón tay trỏ xần xùi đè lên một bên mũi và hỉ ra một đống nước mũi trên sàn nhà chút xíu thì trúng vào mặt người khác.
Kolya vừa quấn khăn choàng quanh cổ vừa làu bàu “Ối chà, có phải mày cũng từng muốn sống chung với mấy đồng chí nông dân trong nông trường không hả?”
Khi tù nhân bắt đầu bước ra cửa, một người đàn ông mãi tân góc xa của nhà kho hét lên thất thanh. Mấy người chung quanh anh ta cố tìm hiểu cái gì làm anh ta sợ hãi như vậy, ngay sau đó họ lo lắng thì thầm với nhau. Từ xa chúng tôi chỉ nhìn thấy những cái lưng của bọn nông dân. Kolya và tôi đứng bất động, tò mò nhìn cảnh tượng huyên náo đó. Vika chẳng quan tâm, nàng bước về hướng cửa ra vào.
Hai đứa tôi đi về phía bên kia tường nhà kho, nhẹ nhàng quanh đám nông dân và nhìn xuống người đàn ông vẫn còn nằm trên sàn nhà. Đó là anh chàng đã tố cáo Marko, bị cắt cổ, máu chảy thành dòng, mặt trắng bệch. Hắn chắc chắn bị giết chết khi còn say ngủ, nếu không chúng tôi đã nghe tiếng la hét. Mắt hắn đã mở lớn khi lưỡi dao chạm vào da thịt. Đôi tròng mắt muốn lòi ra ngoài, kinh hoàng trợn chừng vào những khuôn mặt đang cúi xuống.
Một anh nông dân giựt đôi giày từ chân người chết, người khác thì lấy đôi bao tay bằng da cừu, người thứ ba kéo cái dây lưng bằng da. Kolya quỳ xuống và nhanh tay giựt chiếc mũ chùm đầu. Tôi quay lại nhìn thấy Vika đang sửa lại chiếc mũ lông thỏ, kéo xuống thấp che gần hết trán. Nàng nhìn lại tôi trong một giây rồi bước khỏi cửa. Một chập sau, tên linh Đức bước vào, giận dữ như vẻ sãn sàng nổ súng vì việc di chuyển bị trì trệ. Anh ta nhìn thấy thi thể người chết, cái cổ bị cắt lìa, dòng máu dưới lưng chia làm hai, trông giống như thể đôi cánh đen thui của một quái vật. Cảnh ám sát làm người lính ngại ngùng, hắn sẽ trả lời thế nào cho cấp trên. Người lính hỏi một câu bằng tiếng Đức có lẽ cho chính anh ta hơn là cho chúng tôi, không trông chờ câu trả lời. Kolya hắng giọng rồi trả lời. Tôi chẳng biết khả năng nói tiếng Đức của hắn thế nào nhưng người lính Đức rất ngạc nhiên khi nghe tiếng mẹ đẻ của mình qua miệng một tù nhân.
Người lính lắc đầu, trả lời một câu cộc cằn rồi ra dấu cho chúng tôi ra khỏi nhà chứa dụng cụ. Khi ra bên ngoài, tôi hỏi Kolya xem hắn đã nói gì.
“Tao nói với nó rằng bọn nông dân ghét người Do Thái hơn cả người Đức.”
“Hắn trả lời sao?”
“Làm đúng lắm, như người Đức vậy.”
Kolya cố chùm cái mũ lên đầu, chiếc mũ hơi nhỏ, nhưng làm sao hắn cũng kéo được hai miếng che tai xuống để cột hai đầu sợi dây với nhau.
“Mày tưởng là cho chúng biết mày nói được tiếng Đức là khôn ngoan sao? Sau khi trải qua những sự kiện như tối hôm qua”
“Không, rất nguy hiểm là đàng khác, Nhưng mà ít ra bây giờ chúng cũng không hỏi gì nữa.”
Bọn tù nhân xếp thành một hàng dọc. Bước đi lộn xộn, nheo mắt trong nắng sớm chói chang, đi tới môt tên lính gật gà gật gù, đôi mắt vãn còn lem nhem ngái ngủ. Anh ta phát cho chúng tôi một miếng bánh bích quy tròn cứng như cục than đá.
“Điềm tốt,” Kolya vừa lẩm bẩm vừa lấy móng tay gõ trên miếng bánh.
Chẳng bao lâu, chúng tôi đi bộ theo đại đội Gebirgsjager, đầu cúi xuống để tránh gió. Hôm nay được đi trên đường, mặc dầu mặt đường bị phủ bởi lớp tuyết dầy in đầy dấu bánh xe. Được vài cây số khỏi trường học, vượt qua bảng chỉ đường tới Mga, tôi ra dấu cho Kolya.
“Hừ, hôm nay là thứ mấy rồi?”
Tôi phải tính toán một chút, đếm ngược lại đến thứ bảy.
“Thứ Tư. Chúng ta phải trình diện ngày mai với một tá trứng gà.”
“Thứ Tư à …tao chưa đi cầu 13 ngày rồi. 13 ngày …sao vậy nhỉ? Dường như tao chưa hề ăn cháo gà, xúc xích, củ khoai tây với hai cô bé, bánh mì khẩu phần…sao vậy, chẳng lẽ mấy thứ đó cứ nằm trong bụng mãi thành một đống khốn kiếp ư?
“Mày muốn đi cầu, hãy hỏi Edik.” Một lão già nhà quê râu xồm xoàm vừa nghe kolya than phiền vội cho hắn lời khuyên.
“Lấy ít vỏ cây hắc mai, bỏ vào nước, đun sôi, uống nước đó, bảo đảm hiệu nghiêm.”
“Hay lắm, ông thấy cây hắc mai nào gần đây không?’
Edik dòm hàng cây thông bên đường rồi lắc đầu.
“Tôi sẽ ra dấu cho cậu, nếu chúng ta đi ngang qua cây đó.”
“Cám ơn nhiều lắm. Nếu có thể, làm ơn kiếm giúp tôi nước sôi luôn thể.”
Edik đã quay mặt về phía trước và trở lại vị trí của lão hiểu rằng một tên lính Đức đang nhìn về phía chúng tôi.
Kolya bắt đầu kể chuyện diễu.
“Stalin đi thăm một nông trường ngoại ô Mạc Tư Khoa, tìm hiểu xem kế hoạch 5 năm được thi hành ra sao. Ông ta hỏi một nông dân ‘Đồng chí cho tôi hay mùa trồng khoai tây năm nay thu hoạch thế nào?’ “Tốt lắm, đồng chí Stalin. Nếu chúng ta chất thành đống sẽ cao đến mặt Thượng Đế.’ ‘Nhưng mà làm gì có Thượng Đế hả đồng chí nông dân?’ ‘Khoai Tây cũng vậy thưa đồng chí Stalin.’ “
“Cũ rích.”
“Chuyện cười trở thành cũ chỉ vì rất hay. Nếu không, ai mà thèm kể đi kể lại?”
“Những người chẳng biết khôi hài là gì như mày ấy.”
“Chẳng giúp được gì, nếu mày không cười, Tao làm bọn con gái cười nghiêng ngả, đó mới quan trọng.”
“Mày có nghĩ cô ta làm việc đó không?” Tôi hỏi hắn. Nó liếc nhìn tôi, bỡ ngỡ một chút đến lúc thấy tôi đang nhìn Vika, cô nàng đi cách chúng tôi một khoảng, gần về phía hàng đầu.
“Chứ còn ai nữa.”
“Tao mới … Nàng tựa sát vào tao cả đêm. Khi tao ngủ quên, đầu nàng còn dựa trên vai tao…”
“Đó là sự cận kề nhất của mày trong vấn đề yêu thương. Mày thấy không? Hãy nghe lời tao, mày sẽ học được nhiều đấy.”
“- Và không biết làm sao nàng rời xa tao, mày nên biết tao không ngủ mê, bò qua 30 tên nông dân, trong đêm tối, cắt cổ tên phản bội, rồi bò trở lại? Không khinh động một ai?”
Kolya gật đầu, vẫn dòm chừng Vika đang đi một mình, lướt mắt thăm dò con đường và vị trí đám lính Đức.
“Nàng là một thiên tài sát thủ.”
“Đặc biệt cho một nhà thiên văn học.”
“Này, đừng tin tất cả những gì lọt vào lỗ tai.”
“Mày nghĩ cô ả đang nói dối sao?”
“Tao tin rằng cô ta học Đại Học một thời gian, người ta móc nối cô ta ở đó. Nhưng mà chú sư tử nhỏ của tôi ơi, mày nghĩ cô ta học bắn súng hay như vậy trong lớp học thiên văn à? Cô ả là Mật Vụ đấy, họ có nhân viên trong mỗi tổ dân quân kháng chiến đó.”
“Mày biết đếch gì?”
Hắn im lặng trong vài giây, chân này đá vào giày chân kia cho tuyết rớt ra khỏi đế giày, tay vin vào tôi để giữ thăng bằng.
“Tao không biết gì hết. Có lẽ tên mày cũng không phải là Lev. Có lẽ mày là kẻ si tình hạng nhất trong lịch sử nước Nga. Nhưng tao cân nhắc bằng chứng và tuyên bố một suy đoán đứng đắn rằng đám dân quân là du kích địa phương. Đó là lý do họ chiến đấu rất hiệu quả, họ thông hiểu đường đi nước bước hơn tụi Đức. Họ có bạn bè quanh đây, gia đình cho đồ ăn, chỗ ngủ an toàn. Nào, cho tao hay từ đây dến Archangel bao xa?”
“Tao Không biết.”
“Tao cũng không biết, 7 trăm hay 800 cây số? Biên giới Đức chắc còn gần hơn. Bộ mày tưởng đám nông dân đó tin một cô gái rớt từ trên trời xuống ư? Không đâu, cô ả được gởi đến cho họ.”
Nàng đang bước nặng nề trên tuyết phía trước, hai tay thọc trong áo khoác ngoài. Nhìn từ đàng sau, nàng giống như một đứa bé trai 12 tuổi mặc một bộ đồ thợ máy ăn cắp ở đâu đó.
“Không biết cô ta đã dậy vú chưa nhỉ?” Kolya nói.
Lời nói thô tục của hắn làm tôi ngượng ngùng, mặc dầu tôi cũng thắc mắc như hắn. Suy đoán thân thể của nàng dưới bao nhiêu lớp áo là điều không thể. Nhưng tôi có thể nói nàng chẳng có một đường cong nào cả, phẳng lỳ và mảnh khảnh như chiếc lá cỏ.
Hắn đoán được tư tưởng tôi hiện ra trên mặt bèn mỉm cười.
“Tao đã đả kích mày hả? Tao xin lỗi vậy. Mày thích cô bé phải không?
“Tao không biết.”
“Tao sẽ không nói về cô bé như thế nữa, mày bỏ qua nhé?”
“Mày có thể nói về cô ta bằng cách nào tùy ý.”
“Không, không, bây giờ tao hiểu rồi. Nhưng nghe tao đi, đây không phải là con cá dễ cắn câu đâu.”
“Mày sắp sửa cho tao thêm những lời khuyên từ cuốn sách tưởng tượng của mày phải không?”
“Hãy nghe lời tao. Chế diễu tao cũng được, nhưng tao hiểu mấy vụ lẩm cẩm này hơn mày. Tao đoán cô nàng có chút cảm tình với cái tên Korsakov đó. Hắn từng trải hơn mày, cho nên đừng cố lấy cảm tình của nàng bằng cách tỏ ra rằng mình ngon lành hơn nó.
“Nàng không yêu hắn đâu.”
“Một chút cảm tình thôi.”
“Tao chưa bao giờ nghĩ sẽ phô trương với nàng về sự phong trần của tao. Mày nghĩ tao ngu lắm phải không?”
“Vậy thì vấn đề sẽ là mày chiếm cảm tình của nàng bằng cách nào?”
Kolya im lặng một hồi lâu, mắt nhíu lại, trắn nhăn lên, duyệt lại xem tôi có ưu điểm nào. Trước khi hắn có thể tìm được gì, chúng tôi nghe tiếng la hét phía sau, bọn lính cai tù đang làm dấu cho chúng tôi dạt ra bên đường. Một đoàn xe với những chiếc xe chạy vừa bằng bánh cao xu và xích sắt, ầm ĩ vượt qua chúng tôi, thùng xe được đậy kín bằng vải bạt. Đoàn xe chở vật liệu tiếp tế ra mặt trận, Chúng tối đứng nhìn năm phút rồi, nhưng đoàn xe dài như bất tận. Tụi Đức chẳng muốn khoe khoang với đám tù nhân, nhưng tôi thực sự thán phục. Xăng dầu trong thành phố Piter thiếu thốn đến nỗi tôi chỉ thấy khoảng bốn hay năm chiếc xe di chuyển trong một ngày. Tôi đã đếm được hơn bốn mươi xe vận tải hai hệ, hai bánh trước bằng cao xu, hai bánh sau là xích sắt, có những ngôi sao ba góc gắn trên chiếc lưới sắt phía trước, phía sau sơn những hình chữ thập đen viền trắng.
Sau đoàn xe hai hệ, là những chiếc xe thiết giáp 8 bánh, rồi đến thiết giáp hạng nặng với súng đại bác, cuối cùng là những xe vận tải hạng nhẹ chở lính ngồi đối diện trên 2 hai hàng song song. Những người lính mặc áo chòang trắng, mặt mày mệt mỏi, râu ria xồm xoàng, súng khoác trên vai.
Chúng tôi nghe tiếng chửi thề từ toán đầu của đoàn xe, mấy người tài xế ngóc đầu ra ngoài để xem chuyện gì sảy ra. Một chiếc chiến xa gắn đại bác bị tuột giây xích, người tài xế đang vội vã sửa chữa. Khẩu đại bác làm nghẽn lối những chiếc xe phía sau.
Lính tráng được dịp xuống xe và đứng một hàng dài đái bên lề đường, một hàng dài chừng vài trăm người. Họ dậm chân la hét lẫn nhau để xem ai bắn súng nước xa nhất. Hơi nước bốc lên từ tuyết màu vàng.
“Xem kìa mấy thằng khốn nạn đái bừa bãi trên đát của cbungs mình, “ Kolya thì thầm. “Chúng nó sẽ không cười cợt khi tao ngồi xổm và ỉa giữa thành phố Bá Linh. “ Suy nghĩ vớ vẩn làm hắn tươi tỉnh hẳn lên. “Có lẽ đó là lý do tao đã không ỉa ra được, chắc để chờ ngày chiến thắng.”
“Cái bụng yêu nước.”
” Toàn phần thân thể tao đều yêu nước. Con cu của tao sẽ huýt gió bài ca Sô Viết khi ngày chiến thắng đến.”
“Mỗi khi tôi nghe mấy người nói chuyện, toàn là nói chuyện tục tĩu không vậy,”
Vika đã rón rén đến sau lưng chúng tôi như mọi lần không một tiếng động, khiến tôi giât mình khi nàng lên tiếng. “Sao mấy người không trần truồng ra làm luôn đi cho xong việc.”
“Không phải hắn muốn lột trần tôi ra đâu,” Kolya nói một cách dâm đãng.
Tôi cảm thấy xấu hổ và cơn giân dâng trào, nhưng Vika coi như không nghe thấy gì cả. Nàng vừa canh chừng bọn lính gác và đám tù nhân rồi dúi cho chúng tôi mỗi người một nửa lát bánh mì lúa mạch.
“Có thấy chiếc xe chỉ huy ở cuối đoàn xe không?” Nàng vừa hỏi mắt nhìn về đó nhưng không dùng tay để ra dấu.
“Đây là miếng bánh mì ngon nhất kể từ dạo mùa hè,” Kolya bình phẩm, miếng bánh mì đã ăn hết mất rồi.
“Thấy chiếc xe Comandeurwagon với cái chắn bùn vẽ hình chữ thập kia không? Đó là chiếc xe của thằng Abendroth đó.”
“Sao mà cô biết?” Tôi hỏi nàng.
“Bởi vì chúng tôi đã theo dõi nó 3 tháng nay. Suýt nữa tôi đã có cơ hội giết nó bên ngoài thị trấn Budogoshch. Cái xe đó là của nó.”
“Có kế hoạch gì chưa?” Kolya vừa hỏi vừa cậy một hạt careway dính giữa kẽ răng.
“Khi đoàn xe di chuyển trở lại, tôi sẽ đợi hắn đến gần để có cơ hội giết hắn. Chẳng mấy khó khăn.”
Tôi nhìn đoạn đường từ trên xuống dưới. Chúng tôi đứng giữa ước chừng một tiểu đoàn lính Đức, hàng trăm tay súng vừa trên xe bọc sắt vừa bộ binh bao chung quanh. Lời nói của Vika vừa rồi có nghĩa là chúng tôi sẽ mất mạng trong vài phút nữa, dù nàng có bắn trúng mục tiêu hay không.
“Tôi sẽ bắn,” Kolya nói. “Cô và Lev đứng chung với đám nông dân ngu muội kia. Không lý do gì lại hy sinh tất cả. “
Vika cong đôi môi trong kiểu cười nửa miệng và lắc đầu:
”Tôi bắn giỏi hơn cậu.”
“Cô chưa thấy tôi bắn bao giờ.”
“Đúng vậy. Và tôi bắn giỏi hơn cậu.”
Tôi chêm vào:
“Cả hai người cùng bắn cũng chẳng khác gì, bộ hai người nghĩ bọn chúng sẽ tha cho bất cứ ai trong chúng ta sao.”
“Cậu nhóc nói có lý”, Kolya nói. Hắn đảo mắt nhìn đám tù nhân mù chữ đứng chung quanh. Họ đang dậm chân và xoa tay để cố giữ hơi ấm, hầu hết bọn họ là những nông dân chưa hề đi xa nông trường vài cây số. Một vài người là lính Vệ Binh Đỏ lẫn lộn trong đó. Một hay hai người, tôi biết chắc rằng cũng biết đọc như tôi.
“Chúng nó nói có bao nhiêu tù nhân nhỉ? Ba mươi tám phải không?”
“Còn ba mươi bảy thôi,” Vika sửa lại. Thấy tôi đang nhìn nàng chăm chú, đôi mắt màu xanh lơ của nàng không ngại ngùng hất ngược lại. “Cậu nghĩ có thể sống được bao lâu nếu đám dân quê đó phát hiện cậu thiếu cái gì ở đó” nàng chỉ xuống háng của tôi, “và tố cáo cậu để được thêm tí xúp?”
“Ba mươi bảy … Hình như hơi quá đáng để đánh đổi một tên Đức,” Kolya nói.
“Ba mươi bảy tù nhân đến xưởng luyện thép ư? Những người này không còn là người Nga nữa,” nàng lẩm nhẩm bằng một dọng bình thản. “Họ là lao động Đức. và đáng để đổi mạng với tên Abendroth.” Kolya gật đầu hướng về chiêc xe chỉ huy đang đậu ở đàng xa kia.
“Chúng ta là quân tốt đen, nó là tướng đấy, có phải ý cậu vậy không?”
“Chúng ta còn kém hơn quân tốt đen. Tốt đen cũng còn có giá trị.”
“Nếu chúng ta bắt được Tướng vậy chúng ta cũng có giá lắm chứ.”
Vừa nói kolya vừa nháy mắt với tôi. Hắn nở một nụ cười tinh quái, mặt rạng rỡ vẻ kiêu ngạo của một tên Cossack với ý tưởng mới lóe trong đầu.
“Tôi có cách khác. Chờ ở đây một chút.”
“Anh làm gì thế?” Vika vội can hắn. Nhưng đã quá trễ; Hắn vội vã bước đến một đám lính gần đó. Đám lính Đức nheo mắt nhìn hắn và tay sẵn sàng trên cò súng. Kolya dơ hai tay lên cao và bắt đầu nói bằng tiếng Đức, hoạt bát vui vẻ như thể tất cả mọi người đang tụ tập dể xem một buổi diễn hành. Chỉ sau ba mươi giây, bọn lính cười rộn rã khi nghe hắn kể một chuyện tiếu lâm gì đó. Có một tên lính còn cho hắn kéo ké một hơi thuốc lá dài nữa chứ.
“Anh ta thật có duyên,” Vika khen. Nàng giống như một nhà côn trùng học đang phê bình đôi cánh của con bọ rầy.
“Có lẽ bọn chúng cho rằng hắn là người anh em thất lạc từ lâu.”
“Hai cậu thật là một đôi kỳ lạ.”
“Chúng tôi không phải là một cặp đôi.”
“Tôi không có ý đó. Đừng để ý, Lyova à. Tôi biết cậu thích con gái mà.”
Ba tôi thường gọi tôi trìu mến như vậy, Lyova, và bây giờ bất ngờ tôi lại được nghe từ chính miệng của nàng gọi tên cúng cơm của tôi một cách trơn tru tự nhiên như thể nàn đã gọi như thế hàng bao nhiêu năm rồi. Tôi muốn khóc.
“Anh ta chọc giân cậu lắm phải không? Khi anh ta bảo muốn nhìn thấy tôi trần truồng phải không?”
“Hắn nói nhiều câu ngớ ngẩn.”
“Thế cậu không muốn nhìn thấy tôi trần như nhộng?”
Vika nở nụ cười chế diễu, hai chân dạng ra xa, tay thọc trong túi áo khoác.
“Tôi không biết.” Đúng là một câu trả lời ngớ ngẩn và nhát hít, thực sự tôi không thể thích ứng được những thay đổi đối cực nhau. Một lúc tôi nghĩ mình chỉ còn vài phút sống sót, sau đó lại thấy cô nàng bắn sẻ đang đùa cợt với mình. Nàng đang cợt nhả với tôi sao? Tôi bị rối trí với những diễn biến nguy cơ kề cận. Những điều dường như “không thể tưởng tượng được“sảy ra buổi chiều lại trở nên sự thực vào buổi tối. Xác chết tên lính Đức rơi từ trên trời xuống, một tên bán làm xúc xich làm bằng thịt người ở Chợ Trời Haymarket. Những con chó trở thành những trái bom. Những xác chết đông đá trở thành bảng chỉ đường. Người nông dân mất nửa mặt đứng lắc lư trong mưa tuyết, đôi mắt buồn thảm nhìn kẻ sát hại mình. Tôi chẳng có tí gì trong bụng, chẳng còn chút mỡ nào còn bám lấy xương. Không còn chút sinh lực nào cho cuộc hành trình hung hiểm này. Tôi chỉ lê bước, hy vọng sẽ tìm được một mảu bánh mì cho chính tôi và một tá trứng cho cô con gái Đại Tá.
“Anh ta nói ba của cậu là một thi sĩ nổi tiếng.”
“Ông không nổi tiếng như vậy đâu.”
“Có phải cậu cũng muốn trở thành như vậy không? Thi sĩ?”
“Không, tôi chẳng có tì gì về thơ cả.”
“Vậy cậu có tài gì?”
“Tôi không biết. Đâu phải ai cũng có tài năng thiên phú.”
“Đúng vậy. Mặc dù người ta luôn bảo thế.”
Nhìn bề ngoài có vẻ Kolya đang diễn thuyết trước đám lính đứng thành nửa vòng tròn bao quanh hắn, dơ tay múa chân để nhấn mạnh lời nói. Hắn chỉ tay về phía tôi, làm cổ họng tôi thắt lại khi đám lính quay mặt nhìn tôi, tỏ vẻ hiếu kỳ và nhạo báng.
“Hắn nói với bọn chúng cái gì đấy hả Trời?”
Vika nhún vai. “Nếu không cẩn thận hắn sẽ tự chuốc lấy họa.”
Những người lính dường như nghi ngờ, nhưng Kolya vẫn tiếp tục dỗ dành họ và cuối cùng một người trong số họ, lắc đầu như thể không thể tin nổi mình đang nghe vị nguời Nga điên này nói, điều chỉnh dây đeo MP40 và lao về phía sau đoàn xe. Kolya gật đầu với những người còn lại đang tụ tập xung quanh mình, buông một câu đùa cuối cùng khiến họ lại cười tươi, rồi thong thả trở lại chỗ chúng tôi.
"Bọn Nazis rất ngưỡng mộ cậu đấy," Vika nói. "Cậu đang trích Mein Kampf à?"
"Tôi đã thử đọc một lần. Rất chán."
"Cậu nói gì với họ vậy?"
"Tôi bảo tôi có một cuộc cá cược cho Herr Abendroth. Rằng bạn tôi ở đây, một cậu bé mười lăm tuổi từ khu Leningrad kém sang hơn, có thể chơi mà không cần hậu vẫn thắng Sturmbannfuhrer trong một ván cờ."
"Tớ mười bảy tuổi rồi."
"Ồ. Thế mười lăm chỉ là một nhát châm chọc thôi."
"Đây có phải là một trò đùa không?" Vika hỏi, nghiêng đầu sang một bên, nhìn Kolya và chờ cậu ấy cười và giải thích rằng cậu ấy không làm chuyện ngớ ngẩn đó.
"Không phải đùa."
"Cậu không nghĩ là nó sẽ thắc mắc làm sao cậu biết nó ở đây à? Biết cấp bậc của nó, biết nó chơi cờ sao?"
"Tớ nghĩ chắc nó sẽ thắc mắc tất cả những điều đó. Và điều đó sẽ làm nó tò mò, và điều đó sẽ khiến nó đến với chúng ta."
"Cá cược là gì?" tớ hỏi.
"Nếu nó thắng, nó có thể bắn chết chúng ta ngay lập tức."
"Nó có thể bắn chết chúng ta bất cứ lúc nào nó muốn, đồ ngốc đầu đặc."
"Đó là những gì các lính nói. Tất nhiên là nó có thể. Nhưng tớ nói với họ rằng Sturmbannführer là một người có danh dự, một người có nguyên tắc. Tớ nói rằng tớ tin lời nó và tớ tin vào tinh thần cạnh tranh của nó. Chúng say mê tất cả mấy chuyện máu me và danh dự đó."
"Còn nếu tớ thắng thì chúng ta được gì?"
"Đầu tiên, hắn giải phóng cả ba chúng ta." Hắn nhìn thấy nét mặt chúng tôi và cắt ngang trước khi chúng tôi kịp nói. "Đúng, đúng, các anh nghĩ tôi ngốc, nhưng hai người các anh mới là người chậm chạp. Chúng ta không thể chơi bây giờ, khi đoàn xe đang di chuyển. Hy vọng trò chơi sẽ diễn ra tối nay, bên trong, tránh xa tất cả những chuyện này." Kolya vẫy tay, chỉ vào những người lính Đức đang đứng thành vòng tròn lỏng lẻo, trò chuyện và hút thuốc; những chiếc xe bán bánh xe chở đầy lương thực; pháo hạng nặng. "Hắn sẽ không bao giờ thả chúng ta ra." "Rõ ràng hắn sẽ không bao giờ thả chúng ta. Nhưng chúng ta sẽ dễ dàng hơn nhiều trong việc tấn công hắn. Và nếu các vị thần mỉm cười, có thể chúng ta còn có cơ hội chạy trốn." "'Nếu các vị thần đang mỉm cười,'" Vika nói, chế giễu sự kiêu ngạo của Kolya. "Anh có chú ý đến cuộc chiến này không?"
Các thợ cơ khí đã gắn lại hệ thống xích trên pháo tự hành. Tài xế và đội của anh nhảy vào hầm lái. Chẳng bao lâu sau, động cơ khạc trở lại và con thú tháp pháo dài rên rỉ tiến lên, nghiền nát lớp băng đã hình thành quanh các miếng xích thép đúc. Những lính bộ binh dường như không vội quay lại xe tải của mình, nhưng sau lời tạm biệt khàn đặc cuối cùng, với các sĩ quan la hét và đoàn xe bắt đầu di chuyển, họ hít một hơi dài điếu thuốc, tắt chúng đi và nhảy trở lại những xe chở phủ bạt.
Người lính đã đi phát thông điệp cho Abendroth chạy bộ trở về đơn vị. Khi thấy chúng tôi nhìn theo, anh gật đầu và cười. Mặt anh hồng và không có lông, má tròn, dễ dàng tưởng tượng anh như một đứa bé trọc đầu đang khóc. Anh hô một từ tiếng Đức với chúng tôi trước khi chạy kịp chiếc xe tải đang lăn bánh, đưa tay ra và để một đồng đội kéo anh lên xe.
“Tối nay,” Kolya nói.
Những người lính canh của chúng tôi đã sủa vào mặt chúng tôi rồi, biết là chúng tôi chẳng hiểu gì và cũng không quan tâm. Thông điệp thì đủ đơn giản. Các tù nhân xếp thành hàng lần nữa, Vika trôi đi xa chúng tôi, và chúng tôi chờ đoàn xe dài đi qua. Khi Kommandeurwagen chạy qua, tôi cố nhín xem Abendroth, nhưng kính cửa sổ đã đóng băng.
Tôi nhớ ra một điều đã làm tôi bực bội và quay sang Kolya.
“Điều thứ hai cậu yêu cầu là gì vậy?”
“Hm?”
“Cậu nói nếu tớ thắng, trước hết hắn thả chúng ta. Vậy điều thứ hai cậu yêu cầu là gì?”
Anh ấy nhìn xuống tôi, đôi mày nghiêng lại về nhau, khó tin là tôi không đoán được.
“Không rõ ràng sao? Một tá trứng.”
Chương 23
Tối hôm đó, chúng tôi ngồi cùng những tù nhân khác trong một chuồng cừu ngay ngoài Krasnogvardeysk. Không khí có mùi len ướt và phân. Người Đức đã cho chúng tôi vài cành cây làm củi, và hầu hết mọi người đều tụ tập quanh một đống lửa nhỏ rụt rè ở giữa chuồng. Tối nay, họ mệt quá nên không muốn trò chuyện về việc trốn thoát. Họ kêu ca lười biếng rằng người Đức chưa cho ăn kể từ cái bánh quy buổi sáng, lẩm bẩm dự đoán thời tiết cho ngày mai, và chẳng bao lâu, tất cả đều ngủ trên nền lạnh, ôm nhau cho ấm. Vika, Kolya và tôi ngồi dựa lưng vào bức tường gỗ sứt mẻ, run rẩy, tranh luận xem liệu trò chơi có diễn ra không.
"Nếu hắn gọi chúng ta," Vika nói, "nếu họ đưa chúng ta đến gặp hắn, tớ hứa với cậu, họ sẽ khám chúng ta xem có vũ khí không."
"Họ đã khám tù nhân rồi mà. Họ sẽ nghĩ thế nào, rằng chúng ta tìm thấy súng trong chuồng cừu sao?"
"Người đó biết mình là mục tiêu. Hắn rất cẩn thận. Họ sẽ tìm thấy súng."
Kolya đáp lại bằng một tiếng xì đầy thương tiếc, trầm và trang nghiêm như một nốt nhạc duy nhất từ kèn bariton. Vika nhắm mắt lại vài giây, thở bằng miệng. Tôi quan sát hàng mi đỏ nhạt của cô dưới ánh lửa.
"Dù sao đi nữa," cuối cùng cô nói, "họ sẽ tìm thấy súng thôi."
"Vậy chúng ta nên làm gì, siết cổ người đó sao?"
Cô đưa tay vào bộ đồ bảo hộ, rút con dao Phần Lan của mình khỏi bao dao trên thắt lưng, và bắt đầu khắc một nấm mồ nhỏ trên đất đóng băng. Khi nó đủ sâu, cô chôn khẩu súng lục và đưa tay ra để nhận tay Kolya.
"Tôi muốn giữ nó."
Cô ấy chờ với tay ra và cuối cùng anh ta cũng đưa cho cô ấy. Khi cả hai khẩu súng lục đều bị đất phủ, cô ấy cởi áo liền quần ra và tháo thắt lưng. Kolya nhúc nhích nhẹ tôi một cái. Áo liền quần đã trượt khỏi vai Vika; bên dưới cô ấy mặc một chiếc áo sơ mi kiểu của thợ làm rừng bằng len dày và hai lớp áo lót dài, nhưng trong giây lát tôi nhìn thấy xương quai xanh của cô ấy dịch chuyển dưới làn da lấm tấm bụi. Trước đây tôi chưa bao giờ để ý đến xương quai xanh của người khác; xương của cô ấy trông như những cánh chim hải âu bay. Cô ấy giật dây lưng vải ra, nâng áo sơ mi và hai chiếc áo lót lên đến ngay dưới ngực, giữ áo bằng cằm, và quấn thắt lưng vào làn da trần. Vỏ dao giờ đặt lên xương ức cô ấy, và khi cô ấy kéo áo lót và áo sơ mi xuống rồi cài lại áo liền quần, không thể nhận ra hình dạng của nó.
Cô ấy nắm lấy tay tôi và đặt nó lên ngực cô ấy. "Cậu có cảm thấy gì không?"
Tôi lắc đầu và Kolya cười. "Trả lời sai rồi."
Vika mỉm cười với tôi. Tay tôi vẫn đặt trên ngực có đệm của cô ấy. Tôi vừa sợ chuyển động nó, vừa sợ cứ để nguyên ở đó. "Đừng nghe hắn, Lyova. Hắn sinh ra từ mông mẹ hắn mà."
"Hai cậu muốn chuyện riêng với nhau à? Tôi có thể qua chia chỗ nằm với ông già Edik bên đó. Hắn trông cô đơn lắm."
"Còn con dao của tôi thì sao?" tôi hỏi cô ấy.
"Tôi quên mất con dao của cậu rồi."
"Để tôi lấy đi," Kolya nói. "Tôi biết cách dùng nó."
“Không,” Vika nói. “Họ sẽ lục soát cậu kỹ nhất. Cậu là người duy nhất trông như một binh sĩ.” Cô nghiêng người về phía trước và tôi rụt tay lại, chắc chắn rằng mình đã bỏ lỡ một cơ hội dù không biết đó là gì hay nó đi đâu mất. Cô gỡ vỏ dao găm ra khỏi giày tôi và nhấc nó lên một lúc, cân nhắc kích thước và hình dạng. Cuối cùng, cô trượt nó sâu vào trong giày tôi, dưới tất. Cô lại kiểm tra giày một lần nữa. Không nhìn thấy gì cả. Cô vỗ vỗ vào da giày và trông có vẻ hài lòng.
“Cậu đi bình thường được không?”
Tôi đứng dậy và đi vài bước. Tôi cảm nhận lưỡi dao găm đâm vào chân, nhưng có vẻ chắc chắn, được giữ chặt bởi tất và giày của tôi.
“Nhìn kìa,” Kolya nói. “Kẻ giết người im lặng.”
Tôi lại ngồi xuống bên Vika. Cô chạm vào chỗ mềm dưới tai tôi và kéo ngón tay qua cổ tôi, dừng lại dưới tai bên kia.
“Cậu cắt chỗ đó ra,” cô nói với tôi, “thì không ai bao giờ đóng được nó lại nữa.”
Ý cô muốn nói cắt cổ người ta như thế.
Các sĩ quan cao cấp của Einsatzgruppe A đã chiếm trụ sở đảng Krasnogvardeysk, một chuỗi các văn phòng nhỏ bẩn thỉu với sàn linoleum bong tróc ở trên xác tòa nhà cảnh sát đen kịt. Tòa nhà bốc mùi khói và khí diesel nhưng người Đức đã khôi phục điện và đốt lò; tầng hai ấm áp và thoải mái, ngoài vài vệt máu khô trên tường. Vài giờ sau khi chúng tôi chôn súng, hai binh sĩ từ tiểu đoàn Gebirgsjager dẫn ba chúng tôi vào phòng họp, nơi trước khi thị trấn thất thủ, các thành viên ban lập kế hoạch đã gặp để thảo luận các mệnh lệnh từ trên xuống và chỉ thị cho dưới. Những cửa sổ bốn ô nhìn xuống con đường chính của Krasnogvardeysk không có đèn. Áp phích viết khẩu hiệu tuyên truyền của Lenin và Zhdanov vẫn treo trên tường, không ai động đến, như thể biểu cảm nghiêm nghị của họ làm người Đức chẳng bận tâm đến mức không đáng để xé hay làm hỏng.
Abendroth ngồi ở cuối bàn dài, uống rượu trong ly bằng pha lê. Anh gật đầu khi chúng tôi bước vào phòng, nhưng không hề đứng dậy. Chiếc mũ xám có vành đen với đầu lâu bạc phía dưới đại bàng Đức đặt trên mặt bàn. Một bàn cờ du lịch, các quân đã được sắp xếp sẵn, nằm giữa mũ và một chai rượu gần như trống không có nhãn.
Tôi đã tưởng tượng một người thon thả, phong cách học giả, nhưng Abendroth là một người to lớn, cơ bắp như vận động viên ném búa, cổ áo ghì chặt vào các tĩnh mạch trên cổ dày của anh. Cái ly nặng trông mong manh như ly nhỏ xíu trong lòng bàn tay anh. Anh trông không già hơn ba mươi, nhưng tóc cắt sát hai bên đã trắng, và râu ria trên cằm cũng vậy. Những hình SS sáng loáng trên ve cổ bên phải; bốn chấm bạc chỉ cấp bậc trên ve trái; và một Huân chương Hiệp sĩ đen-bạc treo giữa hai ve áo.
Anh ta ít nhất cũng hơi say, dù các cử động vẫn hoàn toàn nhịp nhàng. Tôi đã học từ một tuổi rất nhỏ cách nhận biết người say, kể cả những kẻ say khéo giữ được bình tĩnh. Bố tôi không phải là người uống rượu nhiều, nhưng bạn bè ông thì ai cũng uống, những nhà thơ và nhà viết kịch chưa bao giờ đi ngủ khi còn tỉnh táo trong suốt cuộc đời trưởng thành. Một số thì tình cảm lộ liễu, hôn má tôi và làm rối tóc tôi trong khi nói với tôi rằng có một người cha như ông thật là may mắn. Số khác thì lạnh lùng và xa cách như những mặt trăng quay quanh, chờ tôi trở lại phòng tôi chia sẻ với chị gái, để lại người lớn một mình cho họ tiếp tục các cuộc tranh luận về Bộ Chính Trị Đảng hay khiêu khích mới nhất của Mandelstam. Một số lắp bắp sau chỉ một ly vodka và một số chỉ nói rõ ràng sau khi cạn chai đầu tiên.
Đôi mắt của Abendroth sáng lên hơi quá mức. Thỉnh thoảng ông ta cười mà không vì lý do gì rõ ràng, có vẻ tự vui với những câu đùa của chính mình. Ông ta quan sát chúng tôi và không nói gì cho đến khi một ly rượu trong tay đã cạn, lau tay lại và nhún vai.
"Rượu mận," ông ta nói với chúng tôi, tiếng Nga khá chuẩn, mặc dù giống như sĩ quan Einsatz cùng trường học, ông ta không cố gắng bắt chước giọng. "Một ông già tôi quen làm rượu này thủ công, ngon nhất thế giới, và giờ tôi mang theo một thùng mỗi khi đi đâu đó. Một người trong số các cậu biết nói tiếng Đức không?"
"Tôi biết," Kolya nói.
"Cậu học ở đâu vậy?"
"Bà ngoại tôi đến từ Vienna." Dù điều này có đúng hay không, tôi cũng chẳng biết, nhưng ông ta nói với một sự tin tưởng đến mức Abendroth có vẻ chấp nhận điều đó.
"Cậu đã từng đến Vienna chưa?" (Nói bằng tiếng Đức)
"Chưa." (Trả lời bằng tiếng Đức)
"Tiếc quá. Thành phố đẹp lắm. Và cho đến giờ vẫn chưa ai đánh bom nó, nhưng điều đó sẽ không kéo dài. Tôi dự đoán người Anh sẽ đến đó trước khi năm kết thúc. Có ai nói với cậu tôi chơi cờ không?"
"Một trong những đồng đội của ông. Một Obersturmfuhrer, tôi tin vậy? Ông ấy nói tiếng Nga gần giỏi như ông."
"Kuefer? Người ria mép nhỏ đó à?"
"Đúng rồi. Ông ấy rất…" Kolya ngập ngừng như thể không biết nên tiếp tục thế nào mà không nói điều gì xúc phạm. "… thân thiện."
Abendroth nhìn Kolya vài giây trước khi khịt mũi, vừa buồn cười vừa ghê tởm. Ông ta che miệng bằng mu bàn tay và ợ trước khi rót thêm một ly rượu schnapps.
"Tôi chắc là ông ấy vậy. Ừ, ông ấy rất thân thiện, Kuefer. Và cuộc trò chuyện của các người sao lại chuyển sang tôi vậy?"
Tôi nói với hắn là bạn tôi đây là một trong những tay chơi cờ giỏi nhất ở Leningrad và hắn nói—
"Bạn Do Thái của cậu đây à?"
"Ha, đó cũng là trò đùa của hắn, nhưng không, Lev không phải Do Thái. Hắn bị lời nguyền mũi mà không có tí tiền nào."
"Tôi ngạc nhiên là Kuefer không kiểm tra bộ phận sinh dục của thằng bé để xác minh chủng tộc."
Vẫn nhìn tôi, Abendroth bình luận bằng tiếng Đức cho các binh sĩ, những người liếc tôi, tò mò.
"Cậu có hiểu tôi vừa nói gì không?" hắn hỏi Kolya.
"Hiểu."
"Dịch cho bạn bè của cậu đi."
"‘Việc của tôi là nhận ra người Do Thái khi tôi gặp họ.'"
"Rất tốt. Và khác với bạn Kuefer của chúng ta, tôi cũng có thể nhận ra một cô gái. Cởi mũ ra đi, cô bé."
Trong một khoảng thời gian dài, Vika không cử động. Tôi không dám nhìn cô, nhưng tôi biết cô đang cân nhắc xem có nên vung dao hay không. Hành động đó sẽ vô ích, những tên lính sẽ bắn cô trước khi cô bước đi một bước, nhưng dường như những hành động vô ích là tất cả những gì chúng tôi còn lại. Tôi có thể cảm nhận Kolya căng thẳng bên cạnh mình—nếu Vika vung dao, anh sẽ lao vào tên lính gần nhất, và mọi chuyện sẽ kết thúc rất nhanh.
Cái chết sắp đến không làm tôi sợ hãi nhiều như lẽ ra phải vậy. Tôi đã sợ quá lâu rồi; tôi quá mệt mỏi, quá đói để cảm nhận điều gì đó với cường độ đúng mức. Nhưng nếu nỗi sợ của tôi giảm đi, không phải vì lòng dũng cảm của tôi tăng lên. Cơ thể tôi yếu đến mức đôi chân run rẩy vì nỗ lực đứng thẳng. Tôi không thể tập trung nghĩ về một mối quan tâm lớn lao nào, kể cả số phận của Lev Beniov.
Cuối cùng Vika cởi chiếc mũ lông thỏ và giữ nó trong tay. Abendroth uống nửa ly rượu chỉ trong một hơi, mím môi và gật đầu.
"Cô sẽ xinh đẹp khi tóc mọc dài ra. Bây giờ mọi thứ đều rõ ràng, đúng không? Nói cho tôi nghe một điều này," ông nói với Kolya. "Cậu nói tiếng Đức khá tốt, nhưng lại không đọc được tiếng Nga à? Nói cho tôi nghe," ông nói với Kolya. "Cậu nói tiếng Đức khá tốt, nhưng lại không đọc được tiếng Nga à?"
"Nó luôn làm tôi đau đầu khi cố đọc."
"Tất nhiên rồi. Còn bạn," Ông ta nói với tôi, "Cậu là một trong những kỳ thủ cờ hay nhất ở Leningrad, nhưng cậu cũng không đọc được sao? Thật là một sự kết hợp kỳ lạ, đúng không? Hầu hết các kỳ thủ cờ mà tôi biết đều khá chữ nghĩa."
Tôi mở miệng, hy vọng lời nói dối sẽ tuôn ra nhanh như Kolya, nhưng Abendroth giơ một tay lên và lắc đầu.
"Đừng bận tâm. Cậu đã vượt qua bài kiểm tra của Kuefer, tốt lắm, tôi tôn trọng điều đó. Các cậu là những người sống sót. Nhưng tôi không phải là người ngốc. Một người trong số các cậu là người Do Thái giả vờ làm người Gentile; một người là con gái giả làm con trai; tất cả các cậu, tôi cho rằng, đều biết chữ giả làm mù chữ. Và mặc dù có sự chú ý của những quân nhân Biệt Đội Sơn Cước cảnh giác của chúng tôi và Obersturmfuhrer Kuefer danh tiếng, tất cả những chiêu trò này đều thành công. Nhưng các cậu lại xin đến đây chơi cờ. Các cậu muốn tôi chú ý đến các cậu. Điều này thật kỳ lạ. Các cậu không phải là kẻ ngốc, điều đó rõ ràng, nếu không các cậu đã chết từ lâu rồi. Các cậu có thực sự nghĩ rằng tôi sẽ thả tự do cho các cậu nếu các cậu thắng trò chơi này không? Còn những tá trứng… tá trứng là phần kỳ lạ nhất của toàn bộ kế hoạch này."
"Tôi nhận Ông không có quyền để thả chúng tôi," Kolya nói, "Nhưng tôi nghĩ, nếu bạn tôi thắng, có lẽ Ông có thể nói giúp với cấp trên của ông-"‘‘Tất nhiên tôi có quyền thả các cậu. Không phải là vấn đề- à.’’ Abendroth chỉ vào Kolya và gật đầu, gần như mỉm cười. ‘‘Rất tốt. Cậu thật thông minh. Đánh vào cái tôi của người Đức. Phải, không có gì ngạc nhiên khi Kuefer lại thích cậu đến thế. Giải thích về tá trứng đi.’’
‘Tôi đã không ăn một quả nào kể từ tháng Tám. Chúng tôi luôn nói về những món ăn thèm muốn, và tôi không thể xua bỏ ý nghĩ về trứng chiên ra khỏi đầu. Cả ngày, đi bộ trong tuyết, đó là điều duy nhất tôi nghĩ tới.’
Abendroth gõ nhẹ vào mặt bàn bằng đầu ngón tay. ‘‘Vậy, hãy xem xét tình huống. Cả ba người các cậu đều là kẻ nói dối đã rõ. Các cậu bịa ra một câu chuyện mơ hồ khiến mình được gặp riêng-’’ Abendroth liếc nhìn các binh sĩ và nhún vai. ‘‘Một buổi gặp gỡ riêng với một sĩ quan cao cấp của Einsatzgruppe A bị khinh miệt. Rõ ràng là các cậu có tin tức mà muốn trao đổi.’
Có một khoảnh khắc im lặng trước khi Kolya nói, "Tôi không hiểu."
"Tôi nghĩ cậu hiểu đấy. Cậu biết những tù nhân nào là Bolshevik, có lẽ, hoặc cậu đã nghe thấy kế hoạch di chuyển quân của Hồng quân. Cậu không thể cung cấp thông tin này trước mặt các người Nga khác, nên cậu sắp xếp cuộc gặp này. Điều đó xảy ra khá thường xuyên, cậu biết mà. Những người đồng hương dường như rất háo hức phản bội Đồng chí Stalin."
"Chúng tôi không phải kẻ phản bội," Kolya nói. "Cậu bé tình cờ giỏi cờ vua. Tôi nghe nói cậu chơi cờ. Tôi thấy một cơ hội."
"Đây là câu trả lời tôi mong đợi," Abendroth nói với một nụ cười. Ông uống cạn phần còn lại trong ly rượu schnapps và rót ly cuối cùng, giơ lên ánh sáng để ngắm nhìn rượu.
"Ôi trời ơi, đúng là thứ này. Bảy năm trong thùng gỗ sồi…"
Ông ta nhấp một ngụm nhỏ nữa, giờ thì kiên nhẫn, không muốn vội uống cạn ly cuối cùng. Sau một lúc thưởng thức schnapps, ông ta nói vài lời nhỏ bằng tiếng Đức. Một trong những lính canh chĩa MP40 về phía chúng tôi trong khi người kia tiến lại gần và bắt đầu lục soát tôi.
Con dao dường như được giấu kĩ trong chuồng cừu, nhưng khi đứng đó trong lúc người lính lục soát tôi, tôi chỉ nghĩ đến chiếc vỏ da cứng đang cấn vào mặt trên chân mình. Anh ta lục soát các túi áo khoác cũ của cha tôi, kiểm tra dưới nách, dưới thắt lưng, dọc theo chân tôi. Anh ta thọc ngón tay vào trong giày tôi và nỗi sợ hãi quay trở lại, một cú sốc kinh hoàng, nhạo báng sự tê liệt mà tôi vừa cảm thấy năm phút trước. Tôi cố gắng thở bình thường, giữ một gương mặt bình tĩnh. Anh ta dò dọc ống chân tôi, không tìm thấy gì, rồi chuyển sang lục soát Kolya.
Tôi tự hỏi anh lính đó đã hụt tới mức nào, bao nhiêu milimet tách biệt các ngón tay anh ta và vỏ đựng dao găm. Anh ta là một cậu bé, lớn hơn tôi một, hai tuổi, khuôn mặt đầy những nốt ruồi nâu nhỏ. Bạn cùng lớp chắc chắn đã trêu cậu ấy về những nốt ruồi đó. Cậu ấy đã nhìn chúng trong gương, u sầu và xấu hổ, tự hỏi liệu cậu có thể cạo chúng bằng dao cạo của bố không. Nếu tối qua cậu ấy có thêm mười lăm phút để ngủ, nếu cậu ấy ăn thêm một thìa súp nữa, có lẽ cậu ấy đã có năng lượng để làm việc của mình đúng cách và tìm ra con dao của tôi. Nhưng cậu ấy không thế, và sự cẩu thả của cậu đã thay đổi mọi thứ đối với cả hai chúng tôi.
Khi anh ta xong việc lục soát Kolya, anh ta bước sang bên Vika. Người đồng đội của anh ta nói đùa một câu và cười thầm với sự chọc gẹo của mình. Có lẽ anh ta muốn khiêu khích cậu bé để vỗ mông Vika hoặc sờ một bên núm vú, nhưng cô ấy nhìn anh ta bằng đôi mắt lạnh lùng, không chớp, và anh ta dường như bị bối rối, kiểm tra cô ấy ít kỹ hơn nhiều so với Kolya và tôi. Tôi nhận ra cậu bé chắc hẳn còn chưa cắt chỉ; cậu ấy lo lắng trước cơ thể phụ nữ như tôi vậy.
Sau khi lúng túng kiểm tra đôi chân cô ấy, anh ta đứng dậy, gật đầu với Abendroth và lùi lại. Sturmbannführer quan sát cậu bé một lát, nụ cười nhẹ xuất hiện trên môi ông ta.
"Tôi nghĩ hắn sợ cậu," hắn nói với Vika. Hắn đợi vài giây để xem cô có phản ứng không, và khi cô không nói gì, hắn quay sang Kolya. "Cậu là một người lính, tôi không thể thả cậu được, nếu không cậu sẽ trở lại Quân đội Đỏ, và nếu cậu giết một người Đức, cha mẹ họ sẽ đổ lỗi cho tôi." Hắn nhìn tôi. "Còn cậu là người Do Thái; thả cậu đi là trái với lương tâm của tôi. Nhưng nếu cậu thắng, tôi sẽ để cô gái về nhà. Đây là lời đề nghị tốt nhất tôi có thể đưa ra."
"Tôi có lời hứa của ông là ông sẽ để cô ấy đi sao?" Tôi hỏi.
Abendroth xoa phần râu bạc trên cằm bằng các khớp ngón tay. Chiếc nhẫn cưới vàng trên ngón áp út của hắn hắt ánh sáng từ bóng đèn phía trên.
"Cậu thích cô gái ấy à. Thú vị. Còn cậu, cô gái tóc đỏ nhỏ một tẹo, cậu có thích tên Do Thái không? Thôi nào, thôi nào, không cần thô tục như vậy. Vậy… cậu không có quyền để đòi hỏi, nhưng được, tôi hứa với cậu. Tôi đã tìm được một trò chơi hay từ khi ở Leipzig. Đất nước Nga này có những kỳ thủ chơi cờ hay nhất thế giới và tôi chưa thấy ai giỏi cả."
"Có thể ông đã bắn họ chết trước khi biết được họ có giỏi hay không," Kolya nói. Tôi nín thở, khá chắc chắn đây là bước đi quá đà, nhưng Abendroth gật đầu.
"Có thể như vậy. Công việc quan trọng hơn vui chơi. Nào," hắn nói với tôi, "ngồi xuống. Nếu cậu giỏi như bạn cậu nói, tôi có thể giữ cậu lại cho cuộc thi."
"Đợi đã," Kolya nói. "Nếu hắn thắng, Ông sẽ thả cô ấy và đưa trứng cho tụi tôi chứ?"
Sự kiên nhẫn của Abendroth với những lời qua lại bắt đầu cạn kiệt. Lỗ mũi Ông ta phập phồng khi Ông nghiêng người về phía trước, dù không lớn tiếng.
"Những gì tôi đề nghị còn hơn cả hào phóng. Cậu muốn tiếp tục sự ngu ngốc này sao?"
"Tôi tin bạn tôi. Nếu anh ta thua, hãy bắn vào đầu chúng tôi. Nhưng nếu anh ta thắng, chúng tôi muốn có trứng chiên cho bữa tối."
Abendroth lại nói bằng tiếng Đức và người lính lớn tuổi đã chĩa nòng súng vào đầu Kolya.
"Cậu thích mặc cả hả?" Abendroth hỏi. "Tốt, chúng ta mặc cả. Cậu nghĩ mình có quân bài tẩy hả. Cậu không có gì đâu. Tôi nói hai tiếng thôi là cậu thành xác chết. Đúng không? Hai tiếng. Cậu có hiểu chuyện đó xảy ra nhanh thế nào không? Cậu là xác chết, họ kéo xác cậu ra ngoài, tôi chơi cờ với bạn cậu. Sau này, có thể tôi sẽ đưa cô gái tóc đỏ về phòng, tắm cho cô ấy, xem cô ấy trông thế nào khi không còn bụi bẩn. Hoặc không làm gì cả, có thể không tắm, có thể tối nay tôi muốn làm tình với một con thú hoang. Bây giờ hãy suy nghĩ kỹ đi, cậu bé, suy nghĩ thật kỹ trước khi mở miệng. Vì chính bản thân cậu, vì mẹ cậu nếu con đàn bà thối tha đó còn sống, hãy nghĩ kỹ đi."
Một người đàn ông khác sẽ quyết định bỏ qua và im lặng mãi mãi. Kolya không do dự quá một giây.
"Tất nhiên, Ông có thể giết tôi bất cứ khi nào ông muốn. Điều này là không thể phủ nhận. Nhưng ông nghĩ bạn thân nhất của tôi sẽ còn tâm trí để chơi cờ sau khi thấy óc tôi văng trên bàn không? Ông muốn chơi cờ với một tay kỳ phùng địch thủ của Leningrad hay với một cậu bé sợ hãi đến nỗi nước tiểu chảy xuống chân? Nếu cậu ấy không giành được tự do cho chúng tôi, thì tôi hiểu, đây là chiến tranh. Nhưng ít nhất hãy cho cậu ấy cơ hội thắng bữa tối mà chúng tôi mơ ước."
Abendroth nhìn Kolya, đầu ngón tay Ông ta gõ nhịp chậm trên mặt bàn, là âm thanh duy nhất trong phòng. Cuối cùng, ông ta quay sang người lính có nốt ruồi và ra lệnh ngắn gọn. Sau khi người Đức trẻ tuổi chào và rời phòng, Sturmbannfuhrer ra hiệu cho tôi ngồi vào chiếc ghế ở góc bàn bên cạnh Ông. Ông gật đầu với Kolya và Vika và chỉ vào những chiếc ghế ở cuối bàn.
"Ngồi đi," ông ta ra lệnh cho họ. "Các cậu đã đi cả ngày rồi phải không? Ngồi đi, ngồi đi. Chúng ta nên tung đồng xu không?" ông ta hỏi tôi. Không chờ phản hồi, ông ta lấy một đồng từ túi ra và cho tôi xem con đại bàng đang kẹp chữ vạn một bên và ký hiệu năm mươi Reichspfennig bên kia. Ông ta hất đồng xu lên không trung bằng ngón tay cái, hứng nó, đặt lên mu bàn tay còn lại, và nhìn tôi. "Chim hay số?"
" Số!."
"Cậu không thích con chim Đại Bàng của chúng tôi sao?" anh ta hỏi với một nụ cười nhẹ. Anh ta rút tay ra và chỉ cho tôi con đại bàng Nazi. "Tôi sẽ chơi quân trắng. Và đừng lo - cậu vẫn giữ được quân hậu của mình."
Anh ta di chuyển quân cờ Queen của mình tiến hai ô và gật đầu khi tôi cũng làm như vậy.
"Một ngày nào đó tôi sẽ chọn khai cuộc khác." Ông ta di chuyển cánh bên c-pawn tiến hai ô, dâng quân để thí. Chiến thuật Gambit Hậu. Ít nhất nửa số ván tôi từng chơi bắt đầu bằng những nước đi này. Từ người chơi a-ma-tơ cuối tuần cho đến đại kiện tướng đều bắt đầu bằng kết hợp này; vẫn còn quá sớm để biết anh chàng Đức này có biết mình đang làm gì không. Tôi từ chối Gambit và di chuyển quân cờ vua tiến một ô.
Qua nhiều năm, tôi đã chơi hàng nghìn trận đấu với hàng trăm đối thủ. Tôi đã từng chơi trên một tấm chăn ở Summer Gardens (Vườn Giải Trí Mùa Hè), trong các giải đấu tại Cung điện Pioneers, trong sân Kirov với bố tôi. Khi tôi chơi cho câu lạc bộ Spartak, tôi ghi lại tất cả các ván đấu của mình, nhưng tôi đã vứt chúng đi khi bỏ thi đấu. Tôi chưa bao giờ định nghiên cứu các ván cũ, nhất là sau khi nhận ra mình chỉ là một người chơi hạng trung. Nhưng nếu bạn đưa cho tôi một tờ giấy và một cây bút, ngay cả hôm nay, tôi vẫn có thể viết ra ký hiệu đại số của toàn bộ ván đấu với Abendroth.
Tôi tung quân cờ Queen ra từ hàng sau ở nước đi thứ sáu, điều này dường như làm anh ta ngạc nhiên. Ông ta nhăn mặt, gãi ria mép bằng móng tay một cách chần chừ. Tôi chọn nước đi đó vì tôi nghĩ nó hay, nhưng cũng vì nó có thể trông như một nước đi tệ—cả hai chúng tôi đều chưa biết rõ trình độ của đối thủ, và nếu ông ấy tin rằng tôi là một người chơi kém, tôi có thể dụ ông ta mắc sai lầm quan trọng.
Ông ấy lẩm bẩm gì đó bằng tiếng Đức và di chuyển mã bên cánh vua, một phản ứng hợp lý nhưng không phải là cái tôi lo sợ. Nếu ông ấy ăn quân tốt của tôi, ông ấy sẽ giữ được thế chủ động, buộc tôi phải phản ứng với sự tấn công của Ông ấy. Thay vào đó, ông ta chơi phòng ngự, và tôi tận dụng cơ hội đưa quân cờ Bishop vào lãnh thổ bên địch.
Abendroth ngả lưng vào ghế, nhìn chăm chú vào bàn cờ. Sau một phút suy nghĩ, ông mỉm cười và nhìn tôi.
"Lâu rồi tôi mới được chơi một ván hay."
Tôi không nói gì, chỉ nhìn vào bàn cờ, hình dung các chuỗi nước đi có thể xảy ra.
"Cậu không cần lo lắng đâu," ông tiếp tục. "Thắng hay thua, cậu vẫn an toàn. Một ván cờ hay ho, mỗi đêm, sẽ giữ cho tôi tỉnh táo."
Ông lại nghiêng người về phía bàn và di chuyển quân Queen. Trong khi tôi đang cân nhắc, người lính trẻ quay lại mang theo một cái hộp gỗ sọc rơm đầy rơm. Abendroth hỏi anh ta một câu và người lính trẻ gật đầu, đặt hộp lên bàn.
"Cậu làm tôi hào hứng lên rồi đấy," Abendroth nói với Kolya. "Nếu tôi thắng, tôi có thể ăn một bữa trứng chiên 12 cái."
Kolya, ngồi ở đầu bàn xa nhất, cười khi nhìn thấy hộp trứng. Cả hai lính giờ đứng sau lưng cậu ta và Vika, tay họ không rời khỏi tay cầm súng máy. Kolya đã cố gắng theo dõi trò chơi từ xa, nhưng Vika chỉ chăm chăm nhìn bàn. Khuôn mặt cô ấy hiếm khi biểu lộ gì, nhưng tôi có thể thấy cô ấy khó chịu và tôi nhận ra, quá muộn, rằng mình đã bỏ lỡ cơ hội. Khi tên lính đi lấy trứng, chúng tôi tạm thời đông hơn người Đức; họ có súng còn chúng tôi chỉ có dao, nhưng đó có thể là cơ hội tốt nhất của chúng tôi.
Tám nước đi vào ván cờ, Sturmbannführer và tôi bắt đầu trao đổi quân. Tôi ăn một tốt; hắn ăn một knight. Tôi ăn một bishop; hắn ăn một tốt. Kết thúc chuỗi nước đi này, lực lượng của chúng tôi vẫn cân bằng, nhưng bàn cờ đã mở ra và tôi đánh giá vị trí của mình mạnh hơn.
"Những tay chơi vĩ cầm và tay chơi cờ vua, hả?"
Trước đó tôi còn sợ nhìn hắn, nhưng giờ tôi lén liếc khi hắn phân tích các đội hình. Ngồi gần như vậy, tôi thấy những vầng thâm sưng dưới đôi mắt màu nâu hạt dẻ của hắn. Quai hàm hắn cương quyết và vuông góc, nhìn nghiêng giống chữ L hoa. Hắn nhận ra tôi đang nhìn mình và ngẩng đầu khổng lồ để nhìn lại tôi. Tôi nhanh chóng cúi mắt xuống.
"Nòi giống của cậu," anh ta nói. "Dù mọi thứ thế nào, các cậu vẫn trở thành những nghệ sĩ violin tài ba và kỳ thủ cừ khôi."
Tôi rút lại quân Queen và trong mười hai nước đi tiếp theo, chúng tôi tập hợp lực lượng, tránh va chạm trực tiếp. Cả hai chúng tôi đều làm nước nhập thành, bảo vệ vua trong khi chuẩn bị cho trận chiến tiếp theo, tiến về trung tâm, cố gắng chiếm đất tốt nhất. Ở nước đi thứ hai mốt, tôi suýt mắc vào cái bẫy nhỏ tinh tế mà ông ta giăng ra. Tôi đã sẵn sàng ăn một tốt thí, nhưng rồi nhận ra kế hoạch của người Đức. Tôi lui lại Bishop và di chuyển quân Queen để cho quân cờ này một góc tấn công tốt hơn.
"Tiếc thật," Abendroth nói. "Đáng lẽ đó là một nước đi nhỏ xinh đẹp."
Tôi nhìn sang và thấy Kolya cùng Vika đang nhìn chằm chằm vào tôi. Kế hoạch chưa bao giờ được nói rõ, nhưng giờ thì có vẻ rõ ràng. Tôi luồn chân trong giày và cảm nhận được vỏ dao găm của phi công đã chết đang cắm vào mắt cá chân mình. Tôi có thể rút lưỡi dao nhanh đến mức nào? Dường như không thể rút dao ra và cắt cổ Abendroth trước khi lính bắn hạ tôi. Ngay cả khi không có binh lính bảo vệ, Abendroth vẫn trông quá mạnh mẽ để tôi có thể giết hắn chết. Khi tôi còn nhỏ, tôi từng thấy một người đàn ông mạnh mẽ trong rạp xiếc với đôi tay giống Sturmbannfuhrer - ông ta đã xoắn một chiếc mỏ lết thép nặng thành một nút thắt, và vì hôm ấy là sinh nhật tôi, tôi được giữ nó làm kỷ niệm. Nhiều năm tôi đã giữ chiếc mỏ lết bị thắt nút, khoe nó với bạn bè trong Kirov, khoe khoang về việc người đàn ông mạnh mẽ đã làm rối tóc tôi và nháy mắt với mẹ tôi. Một ngày nọ tôi tìm kiếm nhưng không thấy; Tôi nghi ngờ Oleg Antokolsky đã lấy trộm nó, nhưng tôi chưa bao giờ có bằng chứng.
Ý tưởng so dao với một người to lớn như vậy khiến tôi hoảng sợ, nên tôi dừng suy nghĩ về nó vài phút và tập trung vào trò chơi. Vài nước đi sau, tôi thấy cơ hội để đổi Knight. Vị trí của tôi có vẻ hơi chật hẹp, nên tôi buộc phải trao đổi. Abendroth thở dài khi lấy quân của tôi.
"Tôi không nên để điều đó xảy ra."
"Đánh hay quá," Kolya reo lên từ đầu bàn xa. Tôi quay lại, thấy cậu ấy và Vika vẫn đang nhìn tôi, và nhanh chóng quay lại tập trung vào bàn cờ. Làm sao tôi trở thành sát thủ được chọn vậy? Kolya chẳng phải đã biết tôi rồi sao? Abendroth nên chết, tôi biết điều đó - tôi đã muốn hắn chết từ khi nghe câu chuyện của Zoya. Không nghi ngờ gì nữa, hắn đã sát hại hàng ngàn đàn ông, phụ nữ và trẻ em khi theo quân đội Wehrmacht khắp châu Âu. Berlin đã trao cho hắn những huy chương lấp lánh vì đã hành quyết người Do Thái, Cộng Sản và các du kích của các quốc gia bị chiếm đóng. Hắn là kẻ thù của tôi. Nhưng khi đối mặt với hắn giờ đây trên bàn cờ, nhìn hắn lo lắng và chiếc nhẫn cưới lấp lánh khi suy tính nước đi tiếp theo. Tôi chẳng bao giờ nghĩ rằng mình có thể giết được hắn, gã khổng lồ to hơn tôi gấp bội.
Vỏ dao găm cứa vào mắt cá chân tôi. Sturmbannführer ngồi đối diện với tôi, cổ áo khoác của hắn cấn vào một mạch máu xanh to ở bên cổ rộng. Kolya và Vika ngồi ở đầu bàn xa nhất, chờ tôi hành động. Với tất cả những phiền nhiễu này, tôi vẫn xoay xở được để chơi cờ tương đối tốt. Dù kết quả có thể chẳng có ý nghĩa gì, nhưng ván cờ vẫn quan trọng với tôi.
Tôi chống cùi chỏ lên bàn, đầu dựa trên bàn tay để tay che tầm nhìn của tôi khỏi Kolya và Vika. Ở nước đi thứ hai mươi tám, tôi đẩy tốt lên hàng năm, một bước tiến đầy quyết đoán.
Abendroth có thể ăn quân đó bằng quân tốt của mình. Có một quy tắc cũ trong cờ vua rằng người chơi nên “ăn về phía trung tâm.” Abendroth theo chiến lược cổ điển, dùng tốt, tạo ưu thế ở giữa bàn cờ. Nhưng đúng như Tarrasch nói, “Luôn đặt xe phía sau các tốt, trừ khi làm thế là sai,” việc ăn về phía trung tâm là nước đi đúng ngoại trừ khi nó sai. Khi chuỗi nước đi kết thúc, chúng tôi mỗi người đã đổi hai tốt, số lượng quân vẫn cân bằng, và giống như một người đã nuốt độc nhưng vẫn tiếp tục nhai thịt mình, không nhận ra cái chết đã cận kề, Abendroth chẳng biết mình đã phạm phải một sai lầm chết người.
Hắn đáng lẽ phải di chuyển quân cờ vua của mình, anh chàng Đức này nghĩ rằng mình đang nắm ưu thế. Khi chúng tôi tiến đến cuối trận, quân tốt của anh ấy đứng một mình ở mép bàn cờ, chạy về hàng tám, nơi nó có thể biến thành quân Queen và tấn công phòng thủ của tôi. Abendroth quá chú tâm vào việc có quân Queen thứ hai nên ông ấy vui vẻ chấp nhận các trao đổi mà tôi đề xuất. Làm sao ông ấy có thể thua khi đang tấn công với hai quân Queen chứ? Chỉ tập trung vào quân tốt của mình, ông ấy không nhận ra cho đến khi quá muộn rằng tôi cũng có một quân tốt lọt vào trung tâm bàn cờ. Cuối cùng, quân tốt của tôi được thành quân cờ Queen trước một nước so với quân tốt của ông ta. Hai quân Queen thật khó đánh bại trừ khi đối thủ của bạn có quân Queen thứ hai trước.
Abendroth vẫn chưa nhận ra trò chơi đã kết thúc, nhưng nó đã kết thúc. Tôi liếc nhìn Vika, ngốc nghếch tự hào về chiến thắng sắp tới của mình, và thấy tay cô ấy đã trượt vào trong bộ đồ bảo hộ. Cô ấy sẽ không chờ tôi hành động nữa, cô ấy đang với tay lấy dao; và Kolya đặt tay lên mép bàn, sẵn sàng đứng dậy và tấn công khi cô ấy làm vậy. Ánh mắt tôi chạm vào Vika và tôi biết rõ ràng rằng nếu tôi ngồi yên, cơ thể rách nát của cô ấy sẽ sớm nhỏ giọt những giọt cuối cùng trên sàn linoleum loang lổ.
Trong khi Abendroth suy nghĩ về bàn cờ và đám quân Queen hiếm hoi, tôi giả vờ gãi bắp chân, từ từ luồn tay vào bốt. Đây không phải là một làn sóng can đảm, mà ngược lại — nỗi sợ cái chết của Vika đã lấn át tất cả những nỗi sợ khác của tôi. Abendroth nheo mắt nhìn quân cờ vua của ông ta và tôi thấy sắc mặt của ông thay đổi khi hiểu ra sự thật về vị trí của mình. Tôi tưởng thất bại sẽ làm anh tức giận. Thay vào đó, một nụ cười đã làm sáng khuôn mặt ông và trong một khoảnh khắc tôi có thể thấy ông ta trông như thế nào khi còn là một cậu bé con.
“Thật tuyệt,” anh ấy nói, ngẩng đầu nhìn tôi. “Lần sau tôi sẽ không uống nhiều như thế đâu.”
Những gì ông ấy nhìn thấy trên khuôn mặt tôi khiến ông ấy bối rối. Ông liếc quanh bàn và nhìn thấy tay tôi đang móc vào bên trong chiếc ủng. Tôi lóng ngóng với cán dao và cuối cùng giật con dao ra khỏi vỏ. Trước khi tôi kịp vung, Abendroth lao tới, hất tôi khỏi ghế xuống sàn, ghìm tay cầm dao của tôi bằng tay trái và với tay phải nhắm tới khẩu súng trong bao của ông.
Nếu tôi kịp rút dao ra nhanh hơn, nếu tôi may mắn cắt trúng tĩnh mạch cổ hắn, nếu điều kỳ diệu đó xảy ra, Vika, Kolya và tôi đã chết. Các binh sĩ sẽ giơ MP40 lên và xóa sổ chúng tôi. Sự cảnh giác của Abendroth — hay sự vụng về của tôi, tùy theo cách nhìn — đã cứu chúng tôi. Khi các binh sĩ lao tới để giúp Sturmbannfuhrer, người không cần sự giúp đỡ, họ đã bỏ qua các tù nhân khác. Chỉ trong một khoảnh khắc, nhưng điều đó là đủ rồi.
Abendroth rút súng tự động của mình ra. Nghe thấy tiếng ồn ào ở cuối phòng, hắn nhìn về hướng đó. Dù thấy gì đi nữa cũng khiến hắn lo lắng hơn là cảnh tên Do Thái ốm yếu, gầy gò đang quằn quại dưới mình. Hắn ngắm mục tiêu—Vika hay Kolya, tôi không trông thấy. Tôi la lên và với tay kéo nòng súng bằng tay trái, tát vào nòng chỉ ngay khi hắn bóp cò. Súng giật và tiếng nổ làm tôi gần như điếc. Abendroth gầm gừ và cố giật súng ra khỏi tay tôi đang bám chặt. Chống lại hắn chẳng khác gì đánh nhau với gấu, nhưng tôi vẫn bám chắc vào nòng súng bằng tất cả sức lực còn lại. Những giây đó là một hỗn loạn của tiếng ồn và bạo lực, tiếng la hét bằng tiếng Đức và những nòng súng lóe sáng, tiếng gõ giày trên sàn linoleum.
Bực bội vì cái nắm cứng đầu của tôi, Abendroth đấm mạnh vào bên đầu tôi bằng tay trái. Tôi đã từng trải qua vài lần va chạm và vật lộn khi lớn lên ở Kirov, nhưng đó là kiểu đánh nhau vụng về, không đổ máu mà bạn mong đợi từ những cậu bé thuộc câu lạc bộ cờ vua. Chưa ai từng đánh tôi vào mặt. Căn phòng mờ đi, đom đóm bay ngang tầm nhìn của tôi, khi Abendroth giật lấy súng tự động khỏi tay tôi và chĩa vào mắt tôi.
Tôi ngồi dậy và đâm mũi dao sâu vào ngực anh ta, xuyên qua túi áo khoác ngực, dưới cụm huy chương, lưỡi dao cắm sâu đến tận phần bảo vệ ngón tay trên cán dao màu bạc.
Abendroth run rẩy và chớp mắt, nhìn xuống chuôi đen. Hắn vẫn có thể bắn một viên đạn xuyên qua đầu tôi, nhưng trả thù cho cái chết của chính mình dường như không quan trọng với hắn. Hắn trông thất vọng, môi cong xuống, và cuối cùng trông bối rối, chớp mắt đều đặn, hơi thở gấp gáp. Hắn muốn đứng dậy, nhưng chân hắn mềm nhũn và ngã sang một bên, ngã khỏi con dao trong tay tôi, khẩu súng rơi khỏi những ngón tay lỏng lẻo. Hắn mở to mắt - cảnh tượng như một người đàn ông ngái ngủ cố gắng tỉnh dậy - đặt lòng bàn tay lên sàn linoleum, cố bò ra khỏi cảnh tượng bẩn thỉu, phớt lờ sự náo động xung quanh. Hắn không đi được bao xa.
Tôi quay lại và thấy Kolya đang vật lộn trên sàn với một trong những binh sĩ Đức, cả hai đều cố gắng kiểm soát khẩu súng tiểu liên của người Đức. Lúc đó tôi coi Kolya là một chiến binh vô địch, nhưng không ai nói với binh sĩ đó và anh ta dường như đang chiếm ưu thế. Tôi không nhớ mình đã đứng dậy hay chạy đến giúp, nhưng trước khi tên lính đó kịp chĩa súng MP40 và bắn hết băng đạn vào ngực Kolya, tôi đã leo lên lưng người đàn ông đó, đâm dao vào và rút ra, hết lần này đến lần khác.
Cuối cùng Vika cũng kéo tôi ra khỏi người đàn ông đã chết. Bộ đồ bảo hộ của cô ấy ướt đẫm máu và trước khi lý trí kịp suy nghĩ, tôi đoán cô ấy bị bắn vào bụng. Tôi nghĩ mình không nói gì rõ ràng, nhưng cô ấy lắc đầu, dỗ dành tôi và nói, "Tôi không bị thương. Đây, cho tôi xem tay anh."
Tôi không hiểu yêu cầu đó. Tôi giơ tay phải lên, vẫn nắm chặt con dao dính máu, nhưng cô ấy nhẹ nhàng đẩy xuống, nắm lấy cổ tay còn lại của tôi, và giữ tay trái tôi giữa hai lòng bàn tay. Lần đầu tiên tôi nhận ra mình đã mất một nửa ngón trỏ. Vika quỳ xuống bên cạnh một trong những binh sĩ đã chết - cậu bé có nốt ruồi, mắt nhìn chằm chằm không hồn lên trần nhà, cổ họng rách toạc - và cắt một dải len từ quần. Cô quay lại với tôi và buộc nó quanh ngón tay tôi, một chiếc băng để cầm máu.
Kolya đã lấy được hai khẩu MP40. Cậu ném một khẩu cho Vika, giữ lại khẩu còn lại cho mình, và giật cái thùng trứng trên bàn. Chúng tôi có thể nghe thấy giọng Đức vang lên từ chỗ khác trong tòa nhà, những sĩ quan bối rối tự hỏi liệu tiếng súng họ nghe trong giấc ngủ có phải là mơ hay thật. Kolya trượt mở một trong những cửa sổ bốn ô kính và bò ra mép cửa sổ.
“Nhanh lên,” cậu ấy nói, ra hiệu cho chúng tôi theo hắn. Anh nhảy xuống và tôi vội chạy theo. Khoảng cách từ tầng hai không quá cao và tuyết dưới cửa sổ dày khoảng một mét. Tôi mất thăng bằng khi đạp xuống đát, ngã sấp mặt vào tuyết. Kolya giúp tôi đứng dậy và phủi tuyết trên mặt. Chúng tôi nghe thấy một loạt một loạt tiếng súng từ phòng hội nghị. Một lúc sau, Vika nhảy khỏi cửa sổ, khói bốc lên từ nòng súng tiểu liên của cô ấy.
Chúng tôi chạy khỏi trạm cảnh sát cũ bị cháy. Những cột đèn đường không sáng, uốn cong phía trên chúng tôi như những dấu hỏi. Tiếng hò hét từ trụ sở Đảng cũ càng lúc càng dữ dội và tôi tưởng như đạn sẽ bắt đầu xé nát không khí, nhưng chẳng có viên nào tới. Những lính canh đứng trước cửa chắc đã chạy vào bên trong khi nghe tiếng súng; đến khi họ nhận ra sai lầm thì chúng tôi đã biến mất trong bóng tối.
Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã đến rìa thị trấn nhỏ. Chúng tôi rẽ khỏi con đường và chạy qua những cánh đồng nông trại đông lạnh, vượt qua những bóng dáng của những chiếc máy kéo bỏ hoang. Trở lại Krasnogvardeysk, chúng tôi có thể nghe tiếng động cơ ô tô gầm gừ và những chiếc lốp quấn xích lăn qua tuyết. Trong khoảng cách mờ ảo phía trước, chúng tôi có thể nhìn thấy bìa đen của khu rừng rộng lớn đang chờ đón chúng tôi, để che giấu chúng tôi khỏi mắt kẻ thù.
Tôi chưa bao giờ là người yêu nước đúng nghĩa. Bố tôi sẽ không bao giờ cho phép chuyện đó khi ông còn sống, và cái chết của ông đã đảm bảo rằng nguyện vọng của ông được thực hiện. Thành phố Piter chiếm được nhiều tình cảm và lòng trung thành của tôi hơn cả đất nước. Nhưng tối hôm đó, khi chạy qua những cánh đồng lúa mì chưa cày mùa đông, với quân xâm lược Phát xít phía sau và khu rừng Nga tối tăm trước mặt, tôi cảm nhận một luồng tình yêu thuần khiết dành cho đất nước.
Chúng tôi chạy về phía rừng, lao qua những cây lúa mì, dưới ánh trăng lên và những vì sao ngày càng xa, chỉ có một mình dưới bầu trời vô thần.
Chương 24
Một giờ sau, chúng tôi vẫn nhìn ngoái lại, nghe ngóng tiếng bánh xích xe tăng, nhưng càng đi sâu vào rừng, khả năng thoát thân càng trở nên rõ ràng. Chúng tôi ăn những cục băng vỡ ra từ cành thông, nhưng đêm lạnh tới mức chúng tôi không thể ngậm đá trong miệng quá lâu. Ngón tay bi thương của tôi bắt đầu đau nhói theo nhịp tim. Kolya đã cởi cúc áo khoác và nhét hộp rơm dưới áo len để tránh cho trứng bị đóng băng. Trong vài cây số cuối, anh ta liên tục vỗ vai tôi, cười điên cuồng dưới chiếc mũ lông vừa cướp được, với sợi dây buộc ngớ ngẩn thắt dưới cằm.
"Cậu thật sự đã cho tôi thấy điều gì đó vừa rồi," anh ta nói với tôi tới bốn lần khác nhau.
Bây giờ tôi đã trở thành kẻ giết người và con dao găm Đức nhét trong ủng của tôi là một vũ khí thực sự, không chỉ là kỷ vật của một cậu bé. Có lẽ sẽ tốt hơn cho tôi nếu nói với bạn rằng tôi cảm thấy một nỗi buồn nào đó, một sự đồng cảm với những người đã chết mặc dù bạo lực là điều cần thiết. Khuôn mặt đầy nốt ruồi của cậu bé đã chết vẫn ám ảnh tôi một thời gian dài, cho đến khi cuối cùng tôi quên hẳn cậu ấy trông như thế nào và chỉ còn nhớ lại ký ức về cậu ấy. Hình ảnh Sturmbannführer bò về phía vô định là một hình ảnh vẫn sống động trong tâm trí tôi. Tôi có thể nói đủ thứ lời đạo đức giả để thuyết phục bạn rằng tôi là người nhạy cảm, và tôi tin rằng mình là một người nhạy cảm. Dù vậy, đêm đó tôi chẳng cảm thấy gì ngoài sự phấn khích về hành động của mình. Tôi đã hành động, vượt mọi dự đoán, vượt cả lịch sử hèn nhát của chính mình. Cuối cùng, việc giết Abendroth không liên quan gì đến việc trả thù Zoya hay loại bỏ một sĩ quan Einsatz quan trọng. Tôi đã giữ Kolya và Vika sống sót. Tôi đã giữ chính mình sống sót thế thôi.
Tôi đã tự giữ mình sống sót. Hơi thở ấm áp của chúng tôi bốc lên trên đầu, tiếng càu nhàu khi đôi giày của chúng tôi lún sâu vào tuyết, mọi cảm giác mà chúng tôi trải qua trong chuyến hành quân dài—bản thân trải nghiệm đó—tất cả đều vì cuối cùng, khi lưng tôi dựa vào tường, tôi đã tỏ ra một chút can đảm. Khoảnh khắc tự hào nhất trong đời tôi đến khi chúng tôi tạm dừng để lấy hơi, và Vika, kiểm tra ngón tay tôi để chắc chắn máu đã ngừng, thì thầm vào tai tôi, "Cảm ơn."
Một lúc nào đó, Vika và Kolya tranh cãi về hướng đi. Vika kết thúc cuộc tranh luận bằng một cái lắc đầu nôn nóng, đi tiếp mà không xem chúng tôi có theo không. Sau thất bại của Mga, tôi chẳng có niềm tin gì vào khả năng định hướng của Kolya; tôi đi theo cô ấy. Kolya đứng vững được đúng tám giây trước khi vội vàng chạy theo chúng tôi.
Ở đâu đó trên đường, tôi đã kể cho cô ấy nghe câu chuyện thật về lý do tại sao Kolya và tôi lại lẻn ra khỏi Piter, vượt qua tuyến phòng thủ của kẻ thù, và cuối cùng tình cờ tìm thấy căn nhà nông trại dưới những cây thông Larche. Tôi giữ giọng thấp để Kolya không nghe thấy, mặc dù tôi không thể tưởng tượng mình đang phản bội ai. Tôi kể cho cô ấy nghe về con gái của vị đại tá, trượt băng trên sông Neva; những kẻ ăn thịt người và những món hàng rùng rợn của chúng treo trên những sợi xích của trần nhà; cậu bé Vadim đang hấp hối và con gà trống của cậu, Darling; con chó chống tăng đang chảy máu trên tuyết; và người lính Nga chết cắm mình trong băng. Khi tôi kết thúc câu chuyện, Vika lắc đầu nhưng không nói gì, và tôi lo lắng rằng mình đã kể quá nhiều cho cô ấy.
Nhìn cô ấy đi qua rừng, im lặng và không mệt mỏi, khẩu súng tiểu liên đeo trên vai, tôi nhớ lại những gì Kolya đã kể cho tôi vào sáng hôm trước. Cuộc chiến đã thay đổi mọi người, nhưng vẫn khó tin rằng bảy tháng trước cô ấy còn là sinh viên thiên văn học.
"Mình có thể hỏi bạn một chuyện không?"
Cô ấy vẫn tiếp tục bước đi, không thèm trả lời. Cô ấy không có thời gian cho những câu hỏi vô nghĩa kiểu như 'Mình có thể hỏi gì không?' 'Kolya nói cậu là NKVD.' 'Cậu đang hỏi à?' 'Chắc vậy.' 'Cậu nghĩ sao?' 'Mình không biết,' tôi nói, nhưng ngay khi tôi thốt ra câu đó, tôi nhận ra mình biết mà. 'Mình nghĩ cậu ấy nói đúng.' Cô ấy nhìn vào bóng tối, tìm một mốc nào đó để xác định hướng đi của chúng tôi.
“Điều đó có làm bạn bận tâm không?”
“Có.”
“Tại sao?”
“Vì cha tôi.” Tôi nhận ra cô ấy không biết chuyện gì đã xảy ra với cha tôi, nên tôi thêm vào, nhẹ nhàng, “Họ đã bắt ông ấy.”
Gần một phút chúng tôi đi trong im lặng, leo lên một ngọn đồi dốc từ từ. Tôi bắt đầu thở hổn hển, đôi chân lại trở nên yếu ớt khi chúng tôi rời xa chiến thắng ở Krasnogvardeysk.
“Cha bạn là nhà văn, đúng không? Vậy khả năng cao những nhà văn khác đã tố cáo ông ấy. Cảnh sát chỉ đang làm nhiệm vụ của họ thôi.”
“Đúng. Và cả Einsatz nữa. Dĩ nhiên, họ tự chọn công việc của họ.”
“Nếu nó làm thay đổi điều gì, họ cũng đã bắt cha tôi.”
“Thật sao? Ông ấy là nhà văn à?”
“Không. Ông ấy là Nhân Viên Mật Vụ NKVD.” Leo lên ngọn đồi dài mất gần một giờ và làm đôi chân tôi nhức nhối, nhưng cuối cùng chúng tôi lên đến đỉnh cao trọc, tôi hiểu vì sao Vika lại chọn đi con đường này. Nửa vầng trăng chiếu sáng khắp cả khu rừng và đồng ruộng trải dài, tất cả lấp lánh dưới một lớp sương băng giá và tuyết.
"Nhìn kìa," cô ấy nói, chỉ về hướng bắc. "Cậu có thấy không?"
Xa tận thung lũng bên dưới chúng tôi, vượt qua những ngọn đồi chắn tầm nhìn trên chân trời mờ mịt, một trụ ánh sáng mảnh mai vươn lên bầu trời, sáng đến mức chiếu rọi cả những đám mây trên cao. Chùm sáng mạnh bắt đầu di chuyển, như một thanh kiếm rực rỡ khắc lên màn đêm, và tôi nhận ra mình đang nhìn vào một đèn tìm mục tiêu phòng không.
"Đó là thành phố Piter," cô ấy nói với chúng tôi. "Nếu lạc đường về nhà, đó là Ngôi sao Bắc Đẩu của cậu."
Tôi quay sang nhìn cô ấy. "Cậu không đi cùng chúng tớ à?"
"Có một nhóm dân quân du kích ngoài Chudovo. Tớ quen người chỉ huy. Tớ sẽ cố kết nối với họ."
Tôi chắc là đại tá có thể cho chúng ta một thẻ khẩu phần thêm nếu cậu đi cùng chúng tôi. Tôi sẽ nói với ông ấy là cậu đã giúp chúng tôi và ông ấy sẽ—
Cô ấy cười và nhổ xuống đất. 'Vất thẻ khẩu phần đi. Piter không phải thành phố của tôi. Tôi cần ở đây.'
'Đừng có chết đấy,' Kolya nói. 'Tôi nghĩ cậu bé đang yêu mất rồi.'
'Đừng đi qua thế giới bên kia trên đường về nhé. Và cẩn thận khi vào thành phố. Chúng tôi trải mìn khắp nơi.'
Kolya đưa tay đeo găng ra. Vika lườm mắt vì sự trang trọng nhưng vẫn bắt tay. 'Hy vọng chúng ta sẽ gặp lại nhau,' anh nói với cô ta:
'Ở Berlin.'
Cô ấy cười và quay sang tôi. Tôi biết mình sẽ không bao giờ gặp lại cô ấy nữa. Khi cô ấy nhìn thấy vẻ mặt tôi, có một thứ gì đó nhân hậu xuất hiện trong đôi mắt xanh như sói của cô ấy. Cô chạm má tôi bằng tay đeo găng.
'Đừng có trông buồn thế. Tối nay cậu đã cứu mạng tôi rồi.'
Tôi nhún vai. Tôi sợ rằng nếu mở miệng, tôi sẽ nói điều gì đó quê mùa và ngu ngốc, hoặc tệ hơn, tôi sẽ bắt đầu khóc. Năm năm đã trôi qua kể từ lần cuối tôi khóc, nhưng tôi chưa bao giờ trải qua một đêm như đêm nay, và tôi tin chắc rằng xạ thủ từ Archangel là cô gái duy nhất mà tôi sẽ yêu.
Bàn tay đeo găng của cô ấy vẫn đặt trên má tôi. "Nói cho tôi biết họ của bạn."
"Beniov."
"Tôi sẽ tìm ra bạn, Lyova Beniov. Tất cả những gì tôi cần là cái tên." Cô ấy nghiêng người về phía tôi và hôn lên môi tôi. Miệng cô ấy lạnh, môi thô ráp vì gió mùa đông, và nếu các nhà huyền bí nói đúng và chúng ta bị định mệnh phải lặp lại cuộc đời tồi tệ của mình mãi mãi, ít nhất tôi sẽ luôn trở lại với nụ hôn đó.
Chỉ chốc lát, cô ấy đã ra đi, đầu cúi xuống, mũ lông thỏ đội thấp xuống, cằm chui vào trong khăn quàng, cơ thể nhỏ bé của cô ấy trong bộ quần áo quá khổ bị những cây thông cổ thụ xung quanh làm lu mờ. Tôi biết cô ấy sẽ không nhìn lại tôi, nhưng tôi vẫn nhìn cô ấy cho đến khi cô ấy biến mất.
“Đi thôi,” Kolya nói, quàng tay qua vai tôi. “Chúng ta còn phải đi dự một đám cưới.”
Chương 25
Tuyết đã tan vào ban ngày và đóng băng lại vào ban đêm, khiến việc đi bộ trở nên nguy hiểm, lớp băng cứng nứt kêu răng rắc với mỗi bước chân chúng tôi đi. Ngón tay tôi đau đến mức khó mà nghĩ đến chuyện gì khác. Chúng tôi tiếp tục đi vì phải đi không có lựa chọn, và vì đã đi quá xa để có thể dừng lại, nhưng tôi không biết năng lượng cho mỗi bước chân đến từ đâu. Có một diều vượt ra ngoài cơn đói, vượt ra ngoài sự mệt mỏi, ở đó thời gian dường như không còn trôi và nỗi khổ thể xác không còn hoàn toàn là của chính mình nữa.
Điều này không áp dụng cho Kolya. Cậu ấy ăn ít như tôi, dù cậu ấy đã ngủ ngon hơn đêm trước trong cái kho dụng cụ với nhóm người mù chữ, thoải mái như đang nằm trên giường lông vũ ở khách sạn Europa. Trong khi tôi lê bước đầu gục xuống như một tên tội đồ bị dẫn ra pháp trường, Kolya đi dạo xung quanh vùng nông thôn dưới ánh trăng như một nghệ sĩ đang thong thả đi chơi. Dường như cả nước Nga chỉ có chúng tôi. Suốt hàng giờ đồng hồ, chúng tôi không thấy dấu hiệu con người nào ngoài những cánh đồng nông trại bỏ hoang.
Cứ vài phút, anh ta lại đưa tay vào trong áo khoác, đảm bảo rằng chiếc áo len vẫn được nhét gọn trong quần có thắt lưng và hộp trứng được giữ chắc.
"Tôi đã kể cho bạn nghe câu chuyện về con chó trong sân chưa?"
"Tiểu thuyết của anh à?"
"Ừ, nhưng là về nguồn gốc của cái tiêu đề."
"Có lẽ rồi."
"Không, tôi nghĩ tôi chưa kể. Người hùng, Radchenko, sống trong một tòa nhà cũ trên đảo Vasilevsky. Thật ra là một ngôi nhà, được xây cho một trong những tướng của Alexander, nhưng giờ thì nó đang xuống cấp, tám gia đình khác nhau sống ở đó và chẳng ai trong số họ ưa nhau. Một đêm, giữa mùa đông, một con chó già đi vào sân, nằm xuống bên cổng và coi nơi đó là nhà của nó. Một con thú to lớn, mõm đã bạc đi, một tai thì bị cắn cụt trong một trận đánh từ lâu. Radchenko thức dậy muộn vào sáng hôm sau, nhìn ra cửa sổ và thấy con chó đang nằm đó, đầu đặt giữa hai bàn chân. Anh cảm thấy thương cho con vật khốn khổ; trời lạnh mà chẳng có gì để ăn. Vậy là anh tìm được một miếng xúc xích khô và mở cửa sổ, đúng lúc chuông nhà thờ vang lên báo giờ trưa.
“Bây giờ là năm bao nhiêu nhỉ?”
“Gì cơ? Tôi không biết. 1883.” Radchenko huýt sáo và con chó nhìn lên anh. Anh ném miếng xúc xích xuống, con chó ăn ngấu nghiến, Radchenko mỉm cười, đóng cửa sổ lại và quay lại giường. Lúc này, nhớ nhé, anh đã không rời khỏi căn hộ của mình suốt năm năm. Ngày hôm sau, Radchenko vẫn còn ngủ khi chuông nhà thờ vang lên lúc trưa. Khi chuông im bặt, anh nghe thấy một tiếng sủa ngoài cửa sổ. Rồi lại một tiếng nữa. Cuối cùng, anh bò ra khỏi giường, mở cửa sổ, nhìn xuống sân trong và thấy con chó trông lên anh, lưỡi thè ra, chờ được cho ăn. Thế là Radchenko tìm gì đó ném cho con chó già, và từ đó trở đi, mỗi lần chuông nhà thờ vang lên vào buổi trưa, con chó chờ đợi bữa ăn trưa ở dưới cửa sổ ."
"Như con chó của Pavlov."
"Ừ," Kolya nói, hơi khó chịu. "Như con chó của Pavlov, chỉ khác là với thơ ca. Hai năm trôi qua. Con chó trong sân biết tất cả mọi người trong toà nhà, nó để họ đi qua mà không có vấn đề gì, nhưng nếu có người lạ tới cổng, chó già ấy thật đáng sợ, gầm gừ và nghiến răng. Người ta yêu nó, nó là người bảo vệ của họ, thậm chí họ còn không khóa cửa nữa. Thỉnh thoảng Radchenko dành cả buổi chiều, ngồi trên ghế cạnh cửa sổ, nhìn con chó quan sát mọi người đi qua cổng. Nó không bao giờ quên nghi thức buổi trưa, luôn đảm bảo có nhiều thịt ngon để ném xuống. Một buổi sáng, Radchenko đang nằm trên giường, mơ một giấc mơ tuyệt vời về một người phụ nữ mà anh ngưỡng mộ khi còn nhỏ, một người bạn thân của mẹ anh. Tiếng chuông nhà thờ vang lên và Radchenko thức dậy với nụ cười, vươn vai, đi ra cửa sổ, mở ra và nhìn xuống sân. Con chó nằm nghiêng bên cạnh cổng, rất im lặng, và ngay lập tức Radchenko biết con thú đó đã chết.
Nhớ nhé, Radchenko chưa bao giờ chạm vào nó, chưa bao giờ cào sau tai hay xoa bụng hay gì gì đó, nhưng anh ta đã yêu con chó già, coi nó như một người bạn trung thành. Suốt gần một giờ, Radchenko nhìn chằm chằm con chó săn chết rồi, cuối cùng anh nhận ra sẽ không có ai chôn nó. Nó là chó hoang; việc đó là của ai đây?
Radchenko đã không rời khỏi căn hộ suốt bảy năm; chỉ nghĩ đến việc bước ra ngoài thôi đã khiến anh ta khó chịu, nhưng còn tồi tệ hơn là nghĩ đến việc để con chó săn mục nát dưới nắng. Bạn có hiểu điều này tức cười đến mức nào không? Anh bước ra khỏi căn hộ, xuống cầu thang, ra ngoài cửa chính tòa nhà, bước ra ánh nắng—lần đầu tiên sau bảy năm! —nhấc con chó to lên, và mang nó ra khỏi sân.
"Anh ấy sẽ chôn nó ở đâu?"
"Tôi không biết. Có thể ở một trong những khu vườn của trường đại học."
"Họ sẽ không cho anh làm vậy đâu."
"Tôi chưa nghĩ ra được phần đó. Bạn đang bỏ qua ý chính của câu chuyện—"
"Và anh ấy cần một cái xẻng."
"Đúng, anh ấy cần một cái xẻng. Bạn thật lãng mạn kiểu gái điếm ga tàu, bạn biết không? Có thể tôi sẽ không viết cảnh chôn cất, thì sao nhỉ? Để trí tưởng tượng của bạn lo."
"Có lẽ là ý hay. Cảnh đó có thể hơi bi lụy. Chó chết, tôi không biết nữa."
"Nhưng bạn thích nó?"
"Tôi nghĩ vậy."
“Cậu nghĩ vậy sao? Đây là một câu chuyện đẹp.”
“Hay mà, tớ thích.”
“Còn cái tựa đề? Chó Trong Sân Nhà? Giờ cậu hiểu tại sao nó lại là một tựa đề tuyệt vời chưa? Tất cả những cô gái này đều đến nhà Radchenko, liên tục cố lôi anh ta ra ngoài chơi với họ, nhưng anh ấy chẳng bao giờ đi. Gần như là trò chơi của họ vậy; tất cả đều muốn là người đầu tiên dụ anh ấy ra khỏi cổng, nhưng không ai làm được. Chỉ có con chó, một con chó già ngốc không có chủ.”
“Chó Trong Sân Nhà sẽ không hay bằng.”
“Không đâu.”
“Sự khác nhau giữa chó và chó săn là gì?”
“Chó săn thì đi săn.” Kolya nắm lấy cánh tay tôi, mắt mở to, buộc tôi phải dừng bước. Lúc đầu tôi nghĩ cậu ấy nghe thấy gì đó, tiếng động cơ xe tăng gầm gừ hay tiếng gọi của lính xa xa, nhưng thứ gì đó thu hút sự chú ý của cậu ấy dường như là từ bên trong. Cậu ấy nắm tay tôi rất chặt, môi hơi hé, khuôn mặt tập trung cực độ, như thể cậu ấy cần nhớ tên một cô gái nhưng chỉ có chữ cái đầu thôi.
"Cái gì cơ?" Tôi hỏi. Anh ta giơ tay lên và tôi chờ. Dừng lại dù chỉ mười giây thôi cũng khiến tôi muốn nằm xuống trên tuyết và nhắm mắt lại, chỉ vài phút thôi, vừa đủ để giảm bớt trọng lượng trên đôi chân và làm các ngón chân sống lại.
"Nó đang tới," anh ta nói. "Tôi có thể cảm nhận được."
"Cái gì đang tới?"
"Chuyện ị của tôi! Thôi nào, đồ khốn, nhanh lên nào!"
Anh ta vội vã chạy ra phía sau cái cây và tôi đứng đợi, lắc lư trong gió. Tôi muốn ngồi xuống, nhưng một giọng nói khó chịu bên trong đầu bảo tôi rằng ngồi xuống là nguy hiểm, nếu tôi ngồi xuống sẽ chẳng bao giờ đứng dậy được nữa.
Khi Kolya quay lại, tôi đang ngủ đứng, với những hình ảnh mơ hồ lộn xộn trong đầu. Anh ta nắm lấy cánh tay tôi làm tôi giật mình, và nở nụ cười Cossack.
"Bạn tôi, tôi không còn là người vô thần nữa. Nào, tôi muốn chỉ cho bạn xem."
"Bạn đang đùa à? Tôi không muốn nhìn đâu."
"Bạn phải xem cái này. Chắc chắn là một kỷ lục đấy."
Anh ta kéo tay tôi, cố gắng khiến tôi đi theo, nhưng tôi đã khom chân cho bốt bám sâu vào tuyết và nghiêng người về phía sau.
"Không, không, đi thôi; Chúng ta không còn thời giờ đâu."
“Cậu sợ nhìn thấy đống phân phá kỷ lục của tớ à?”
“Nếu chúng ta không đến được gặp đại tá trước bình minh—”
“Đây là chuyện phi thường! Chuyện mà cậu sẽ kể cho con cháu nghe đấy.”
Kolya kéo mạnh bằng sức mạnh vượt trội của mình và tôi cảm thấy mình sắp ngã, khi bàn tay găng của hắn trượt khỏi tay áo của tôi và hắn ngã xuống lớp tuyết lạnh cóng. Phản ứng đầu tiên của hắn là cười, nhưng hắn ngừng cười khi nhớ tới những quả trứng.
“Chết tiệt,” hắn nói, nhìn thẳng lên tôi. Lần đầu tiên trong chuyến đi, tôi thấy chút gì đó gần với nỗi sợ thật sự trong mắt hắn.
“Đừng nói với tớ là cậu làm vỡ chúng. Đừng nói thế.”
“Tớ làm vỡ chúng à? Sao chỉ có mình tớ vậy? Sao cậu không đến xem đống phân cơ chứ?”
“Tớ không muốn nhìn đống phân của cậu!” Tôi hét vào mặt hắn, không còn để ý tới kẻ thù có thể đang di chuyển trong khu rừng này nữa. “Nói tớ biết chúng có vỡ không đi!”
Ngồi trên mặt đất, anh ấy cởi cúc áo khoác, lôi ra cái hộp và kiểm tra xem có hư hỏng gì không, chạy tay qua những thanh gỗ. Anh hít một hơi thật sâu, kéo găng tay phải ra và nhẹ nhàng sờ vào bên trong hộp nhồi rơm bằng ngón tay trần.
"Thế nào rồi?"
"Ổn mà."
Sau khi cái hộp ấm áp và an toàn dưới chiếc áo len của Kolya, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình hướng về phía bắc. Anh không nhắc lại chuyện cứt lịch sử nữa, nhưng tôi biết anh khó chịu vì tôi không đi cùng chứng kiến. Giờ khi anh kể chuyện cho bạn bè nghe, sẽ không có ai xác nhận để chứng thực lời anh.
Mỗi phút tôi đều tìm kiếm ánh đèn pha mạnh chiếu qua bầu trời. Đôi khi chúng tôi mất dấu nó một, hai cây số, tầm nhìn bị cây cối hoặc đồi núi che khuất, nhưng rồi cũng tìm lại được. Khi đến gần Piter, chúng tôi thấy nhiều đèn pha hơn, nhưng cái đầu tiên là mạnh nhất, mạnh đến mức dường như làm sáng cả mặt trăng khi ánh sáng chiếu qua những hố thiên thạch lạnh lẽo xa xăm đó.
"Tôi cá là đại tá sẽ ngạc nhiên khi thấy chúng ta," Kolya nói. "Chắc ông ta nghĩ chúng ta đã chết hồi nào rồi. Ông ấy sẽ rất vui với những quả trứng này, tôi sẽ xin ông ấy một lời mời đến đám cưới con gái. Tại sao không nhỉ? Vợ ông ta sẽ rất thích chúng ta. Và có lẽ tôi sẽ được nhảy với cô dâu, chỉ cho cô ấy vài bước, để cô ấy biết tôi không phản đối phụ nữ đã có chồng."
"Tôi còn chẳng biết tối nay sẽ ngủ đâu."
"Chúng ta sẽ đến nhà Sonya. Đừng nghĩ đến điều đó. Tôi chắc đại tá sẽ cho chúng ta ít thức ăn vì những phiền toái này, chúng ta sẽ chia sẻ với cô ấy, cố gắng nhóm một chút lửa. Và ngày mai tôi sẽ phải tìm lại tiểu đoàn của mình. Ha, tụi con trai sẽ ngạc nhiên khi thấy tôi."
"Cô ấy còn chẳng biết tôi, tôi không thể ở đó."
"Tất nhiên là cậu có thể. Bây giờ chúng ta là bạn rồi mà, phải không Lev? Sonya là bạn của tôi, cậu là bạn của tôi; đừng lo, cô ấy còn nhiều chỗ. Mặc dù ở cùng cô ấy có thể chẳng còn hấp dẫn lắm sau khi cậu gặp Vika, đúng không?"
"Vika khiến tôi sợ."
"Cô ấy cũng làm tôi sợ. Nhưng cậu lại khá thích cô ấy, thừa nhận đi."
Tôi mỉm cười, nghĩ về đôi mắt của Vika, đôi môi dưới đầy đặn của cô ấy, đường cong chính xác của xương đòn.
"Có lẽ cô ấy nghĩ tôi còn quá trẻ đối với cô ấy."
"Có thể thôi. Nhưng cậu đã cứu mạng cô ấy lúc đó. Viên đạn kia đang hướng thẳng vào đầu cô ấy mà."
"Tôi cũng cứu mạng cậu mà."
"Không, tôi đã giữ được tên Đức đó mà."
"Cậu không giữ đâu, hắn có súng-"
"Ngày nào mà một tên đi bộ kiểu Bavaria đánh bại tôi trong một trận đấu-"
Cuộc tranh cãi cứ tiếp tục, lúc thì phân tích ván cờ và những lỗi mà người ta cho là của tôi, lúc lại chuyển sang bàn về những vị khách có khả năng sẽ dự đám cưới con gái thiếu tá, rồi đến số phận của bốn cô gái mà chúng tôi gặp ở nông trang. Cuộc trò chuyện khiến tôi tỉnh táo, làm tôi quên đi đôi chân tê cứng và đôi chân cứng như cà kheo dưới mình. Bầu trời sáng dần, từng chút một mà không thể nhận thấy, và chúng tôi vấp phải một con đường trải nhựa nơi tuyết đã được nén chặt và đi lại dễ dàng hơn. Trước khi mặt trời mọc ở hướng đông, chúng tôi đã thấy vòng ngoài của công trình phòng thủ Piter: những rãnh hào như những vết cắt tối trong tuyết; những chiếc răng rồng bằng bê tông; những bụi sắt gỉ từ đường sắt nhô lên khỏi mặt đất lạnh; từng kilomet dây thép gai quấn quanh cọc gỗ.
“Tôi sẽ nói với cậu một điều,” Kolya nói. “Tôi muốn một miếng bánh cưới chết tiệt này. Những gì chúng ta đã trải qua, vậy là công bằng rồi.”
Một lúc sau anh ta nói, “Họ đang làm gì vậy?” và ngay sau đó tôi nghe thấy tiếng súng. Kolya túm lấy áo khoác tôi và đẩy tôi xuống đất. Đạn bay vèo trên đầu chúng tôi. “Họ đang bắn vào chúng ta,” anh ta nói, tự trả lời câu hỏi của mình. “Này! Này! Chúng tôi là người Nga! Chúng tôi là người Nga, đừng bắn!” Thêm những viên đạn xé không trung phía trên chúng tôi. “Chúng tôi là người Nga, chết tiệt mẹ mày, nghe tôi nói! Nghe thấy giọng tôi không! Nghe thấy không! Chúng tôi có giấy tờ từ Đại tá Grechko! Đại tá Grechko! Nghe thấy không?”
Súng trường im bặt, nhưng chúng tôi vẫn nằm úp mặt xuống đất, hai tay ôm đầu. Phía sau công sự, chúng tôi nghe thấy một sĩ quan hét lên với lính của mình. Kolya ngẩng đầu lên và nhìn về phía chiến hào, cách đó vài trăm mét về hướng Bắc.
“Họ chưa từng nghe về cảnh cáo bằng đạn sao?”
“Có thể đó là những phát súng cảnh cáo.”
“Không, họ nhắm vào đầu chúng ta. Chỉ là họ không biết bắn thôi. Toàn lũ cẩu thả từ xưởng chế tạo, tôi cá là vậy. Chắc mới có súng trường cách đây một tuần.” Anh ta chắp tay quanh miệng và hét lên. “Này! Mấy người có nghe tôi không? Muốn để dành đạn cho tụi Đức à?”
“Giơ tay lên trời và đi chậm về phía chúng tôi!” là tiếng trả lời hét lên.
“Mấy người sẽ không bắn chúng tôi nếu chúng tôi đứng lên chứ?”
“Không bắn nếu chúng tôi thích vẻ ngoài của các người.”
“Mẹ mày thích vẻ ngoài của tao đấy,” Kolya lầm bầm. “Sẵn sàng chưa, sư tử nhỏ?”
Khi chúng tôi đứng dậy, Kolya nhăn mặt và vấp, suýt ngã. Tôi nắm lấy tay anh để giữ thăng bằng. Anh cau mày, phủi tuyết trên phần trước của áo khoác dài trước khi xoay người kiểm tra lưng dưới. Cả hai chúng tôi đều thấy lỗ đạn khoan qua lớp len dày ngang hông.
"Bỏ vũ khí xuống đi!" sĩ quan hét từ chiến hào cách xa. Kolya vứt cái MP40 sang một bên.
'Tao bị bắn rồi!' cậu hét trả lại. Cậu tháo cúc áo khoác ra và nhìn vào lỗ thủng ở quần mông. 'Mày có tin được không? Lũ khốn đó bắn tao vào mông.'
'Đi về phía chúng tao, giơ tay lên!'
'Mày bắn tao vào mông, đồ ngốc! Tao không đi đâu được cả!'
Tôi đặt tay lên cánh tay Kolya, giúp cậu đứng vững; cậu không thể đặt trọng lượng lên chân phải.
'Mày nên ngồi,' tôi nói với cậu.
'Tao không thể ngồi. Làm sao tao ngồi được, tao bị đạn vào mông kìa! Mày có tin được không?'
'Mày có quỳ được không? Tao nghĩ mày không nên đứng.'
'Mày biết tao sẽ bị lãnh bao nhiêu trò từ tiểu đoàn của tao không? Bị bắn vào mông bởi những thằng tân binh thượng thặng từ dây chuyền à?'
Tôi giúp anh ta khi anh ấy nằm xuống đất. Anh ta nhăn mặt khi đầu gối phải chạm vào tuyết, khiến chân anh ấy đau. Các sĩ quan trong hầm chắc hẳn đã tổ chức một cuộc họp bất chợt. Giờ đây có một giọng nói mới gọi chúng tôi, một giọng nói già nua hơn với quyền uy hơn.
"Ở nguyên chỗ đó! Chúng tôi đến với các bạn!"
Kolya càu nhàu. "Họ bảo chúng tôi ở nguyên chỗ đó. Vâng, tôi nghĩ tôi sẽ làm thế, bây giờ khi tôi đã có một viên đạn súng trường chết tiệt của các người trong mông rồi."
"Có lẽ nó xuyên qua thẳng. Thế thì tốt hơn, phải không, nếu nó xuyên thẳng qua?"
"Cậu muốn tụt quần tôi ra kiểm tra à?" anh ấy hỏi, cười đau đớn với tôi.
"Tôi nên làm gì không? Tôi phải làm gì đây?"
"Ấn chặt vào chỗ bị thương, họ nói. Đừng lo, tôi sẽ làm." Anh ấy tháo dây rút mũ lông vũ, cởi ra và ấn lên lỗ đạn. Anh phải nhắm mắt một lúc, hít một hơi thật sâu. Khi mở mắt ra, dường như anh nhớ ra điều gì đó; tay còn lại anh đưa xuống dưới áo len và kéo ra hộp trứng nhồi rơm.
"Để nó dưới áo khoác của cậu," anh ra lệnh. "Chúng ta không muốn chúng bị đóng băng. Và đừng làm rơi chúng, làm ơn."
Vài phút sau, chúng tôi thấy một chiếc GAZ tiến về phía mình, một phiên bản bọc thép với lốp tuyết dày gồ ghề và súng máy nặng gắn ở phía sau. Người xạ thủ giữ nòng súng rộng hướng về phía đầu chúng tôi khi xe hãm phanh bên cạnh.
Một trung sĩ và một thiếu úy nhảy xuống và đi về phía chúng tôi, tay đặt trên cán súng ngắn của mình. Trung sĩ dừng lại bên khẩu MP40 bị bỏ trong tuyết. Anh ấy nhìn khẩu súng tiểu liên một lúc trước khi nhìn Kolya.
"Xạ thủ của chúng ta đã nhìn thấy khẩu súng Đức. Họ đã làm điều đúng đắn."
"Xạ thủ bắn tỉa, anh gọi họ như vậy à? Họ được huấn luyện bắn vào mông người à?"
"Tại sao anh lại có súng Đức?"
"Cậu ấy đang chảy máu, cần được giúp đỡ," tôi nói với họ. "Các cậu không thể hỏi những câu này sau được sao?"
Trung úy liếc nhìn tôi, khuôn mặt lạnh lùng, chán nản không biểu lộ cảm xúc nào ngoài sự thù địch nhẹ. Đầu anh ta cạo trọc và không đội mũ, như thể không nhận ra gió lạnh thổi quanh.
"Anh là dân thường à? Anh ra lệnh cho tôi à? Tôi có thể xử tử anh ngay bây giờ vì vi phạm giờ giới nghiêm và ra khỏi thành phố mà không có giấy phép."
" Đồng chí sĩ quan, xin lỗi. Chúng ta ở ngoài này lâu hơn, anh ấy sẽ chảy máu đến chết."
Kolya lục túi, lấy ra lá thư của đại tá và đưa cho các sĩ quan. Trung úy đọc nó, ban đầu có vẻ khinh bỉ nhưng cứng người khi thấy chữ ký của ai ở cuối trang.
"Lẽ ra anh nên nói gì đó," anh lẩm bẩm. Anh vẫy tay gọi tài xế và xạ thủ đến giúp.
"Lẽ ra tôi nên - tôi đã hét tên đại tá trong khi anh bắn chúng tôi!"
"Lính của tôi đã làm đúng. Các anh đang tiến lên với thiết bị địch, chúng tôi không có cảnh báo trước-"
"Kolya," tôi nói, tay đặt lên vai anh ấy. Anh ấy ngước nhìn tôi, miệng đã há hốc, sẵn sàng mắng mỏ trung úy. Lần đầu tiên trong đời anh ấy hiểu rằng đã đến lúc phải im lặng. Anh ấy mỉm cười, đảo mắt nhẹ, nhưng rồi thấy vẻ mặt lo lắng thoáng qua trên mặt tôi. Anh ấy nhìn theo ánh mắt tôi xuống nơi máu đang thấm vào tuyết, ống quần ướt đẫm. Lớp tuyết dính màu trông như kem anh đào của cha tôi mua cho tôi trong buổi hội chợ mùa hè.
"Đừng lo," Kolya nói, nhìn chằm chằm vào máu. "Không nhiều lắm đâu, đừng lo."
Tài xế túm lấy anh ta dưới nách, xạ thủ giữ anh ta dưới đầu gối, rồi họ khiêng anh ta đến ghế sau của chiếc GAZ vẫn đang nổ máy. Tôi ngồi xổm trong khoảng trống giữa ghế lái và ghế sau trong khi Kolya nằm sấp, chiếc áo khoác lớn khoác lên người để giữ ấm. Chúng tôi lái xe về phía chiến hào, Kolya nhắm mắt lại mỗi khi xe giật qua một gờ gồ ghề trên đường. Tôi đã lấy chiếc mũ ướt máu từ tay anh ta và ấn nó lên vết thương đạn, cố gắng duy trì áp lực đủ để làm chậm chảy máu mà không làm anh ta bị thương.
Anh mỉm cười, nhắm mắt lại. "Tôi thà để Vika là người đặt tay lên mông tôi."
"Có đau lắm không?"
"Cậu từng bị bắn vào mông chưa?"
"Không."
"Thật ra thì có, nó đau thật. Tôi chỉ mừng là họ không bắn trúng bên kia. Làm ơn đi, Trung úy," Kolya nói lớn, "ông sẽ cảm ơn những xạ thủ tỉa của mình vì đã không bắn rơi tinh hoàn của tôi chứ?"
Trung úy, ngồi ở ghế phụ, nhìn thẳng về phía đường và không trả lời, da đầu trọc của ông rải rác những vết sẹo trắng nhỏ.
"Những phụ nữ ở Leningrad cũng cảm ơn họ nữa."
"Chúng tôi sẽ đưa ông đến bệnh viện tại Nhà máy," Trung úy nói. "Ở đó có những bác sĩ phẫu thuật giỏi nhất."
"Rất tốt, tôi chắc là mật vụ NKVD sẽ trao huy chương cho ông. Và khi đã đưa tôi đến nơi, làm ơn đưa người bạn nhỏ của tôi đến đảo Kamenny. Hắn có một gói quan trọng giao cho đại tá."
Trung úy ngồi im lặng u sầu, tức giận vì phải nhận lệnh từ một tên lính nhưng không muốn mạo hiểm tạo kẻ thù với giới có quyền lực. Chúng tôi dừng lại ở một chướng ngại vật bằng bao cát và mất gần hai phút khi những người lính hạ một tấm gỗ qua hào để chúng tôi có thể băng qua. Tài xế gầm lên ra lệnh họ nhanh lên, nhưng những người lính vẫn lãng đãng, mệt mỏi và thờ ơ, tranh cãi về cách đặt cầu đúng nhất. Cuối cùng, chúng tôi đã đến phía bên kia. Tài xế đạp ga và chúng tôi lao qua những vị trí súng máy phủ đầy bao cát.
"Còn bao xa tới bệnh viện?" Tôi hỏi tài xế.
"Mười phút. Tám phút nếu may mắn."
"Cố mà may mắn nhé," Kolya nói. Mắt cậu nhắm nghiền bây giờ, mặt áp lên ghế, tóc vàng rũ xuống trán. Trong phút cuối cùng cậu đã trở nên rất tái và không thể ngừng run rẩy. Tôi đặt tay rảnh lên phía sau cổ cậu và da cậu mát lạnh khi chạm vào.
"Đừng lo," anh ấy nói với tôi. "Tôi đã thấy bạn bè chảy máu nặng hơn thế này và họ đã quay lại sau một tuần, đã khâu đầy đủ."
"Tôi không lo đâu."
"Có quá nhiều máu trong cơ thể con người. Năm lít à?"
"Tôi không biết."
"Trông có vẻ nhiều, nhưng tôi cá là tôi còn chưa mất một lít. Có thể một lít."
"Có lẽ cậu không nên nói nữa."
"Tại sao không? Nói chuyện có gì sai? Nghe này, cậu đi đám cưới đi. Nhảy với con gái đại tá, rồi đến bệnh viện kể cho tôi nghe. Tôi muốn biết chi tiết. Cô ấy mặc gì, mùi gì, tất cả những điều đó. Tôi đã thủ dâm với cô ấy suốt năm ngày liền, cậu biết không? À, một lần với Vika. Xin lỗi. Nhưng những gì cô ấy làm trong chuồng cừu, siết chặt thắt lưng quanh ngực? Cậu thấy rồi mà. Cậu trách tôi được sao?"
– Khi nào cậu có thời gian làm cái đó vậy?
– Trên hành trình dài kinh khủng đến đây. Cậu học cách thủ dâm khi đang di chuyển khi ở quân đội. Tay trong túi, chẳng có gì khó cả.
– Cậu đã thủ dâm nhìn Vika khi chúng ta đi bộ tối qua hả?
– Tớ không định kể cậu đâu. Nửa đêm cậu còn nói mớ, tớ chán, phải làm gì đó. Giờ cậu giận à. Đừng giận tớ.
– Tất nhiên là tớ không giận.
Người tài xế đạp ga mạnh và Kolya suýt ngã khỏi ghế sau nếu tôi không giữ cậu ấy. Tôi ngồi thẳng dậy và liếc qua kính chắn gió. Chúng tôi đã tới rìa của Kirov Works rộng lớn, một thành phố thu nhỏ, nơi hàng chục nghìn người lao động ngày đêm. Đạn pháo và bom của Luftwaffe đã san phẳng một số xưởng máy xây bằng gạch; những cửa sổ trống rỗng trên khắp khu này được che bằng bạt nhựa; các vũng băng chênh vênh khắp sân. Nhưng ngay cả bây giờ, khi hàng nghìn công nhân đã sơ tán và hàng nghìn người nữa đã chết hoặc đang chờ chết ở tiền tuyến, những ống khói vẫn còn bốc khói, các con hẻm vẫn tấp nập phụ nữ đẩy xe chở đầy than, không khí ồn ào bởi tiếng ồn của các máy tiện quay, các lò cán và máy ép thủy lực đang định hình thép.
Một dãy xe tăng T-34 vừa mới hoàn thành đã lầm lũi ra khỏi xưởng lắp ráp to như một nhà chứa máy bay. Tám chiếc xe tăng, thép chưa sơn, lầm lũi chạy qua đống tuyết bẩn, chắn ngang đường.
"Sao chúng ta dừng lại vậy?" Kolya hỏi. Giọng cậu ấy nghe yếu ớt hơn nhiều so với một phút trước và làm tôi sợ khi nghe như vậy.
"Một số xe tăng đang đi qua."
"T-T-34 à?"
"Đúng."
"Xe tốt nhỉ."
Cuối cùng, những chiếc xe tăng đi qua và chúng tôi tiếp tục lao đi. Tài xế nhấn ga mạnh, tay lái chắc chắn và anh ta rất rành về xưởng — cắt qua những con hẻm phía sau các xưởng turbine; lao xuống những đường mòn chưa trải nhựa bên cạnh khu nhà công nhân, những túp lều mái tôn với ống khói bé tí — nhưng ngay cả với một chuyên gia cũng mất thời gian để ra tới phía bên kia của thị trấn nhà máy rải rác.
“Ở đó rồi,” cuối cùng trung úy nói, chỉ vào một kho gạch đã được cải tạo thành bệnh viện địa phương. Anh quay người trên ghế và nhìn Kolya. Khi không thấy mặt Kolya, anh quay sang nhìn tôi, như muốn hỏi. Tôi nhún vai để nói rằng, tôi không biết.
“Quỷ thật!” tài xế hét lên, vỗ vào vô lăng và lại đạp phanh. Một chiếc đầu máy nhỏ từ từ chạy qua các đường ray chia cắt nhà máy, kéo theo các toa hàng chất đầy phế liệu cho lò đúc.
“Lev?”
“Ừ?”
“Chúng ta gần đến chưa?”
“Tôi nghĩ là chúng ta rất gần rồi.”
Môi Kolya đã tái xanh, hơi thở nhanh và ngắn.
“Có nước không?” anh ấy hỏi.
"Có ai có nước không?" Giọng tôi vỡ òa khi hỏi câu đó. Tôi nghe giống như một đứa trẻ sợ hãi.
Người xạ thủ đưa cho tôi một bình nước. Tôi vặn nắp, nghiêng đầu Kolya sang một bên và cố gắng rót nước vào miệng cậu, nhưng nước lại tràn ra ghế. Cậu ta hơi ngẩng đầu lên được một chút và tôi kịp cho chút nước vào cổ họng cậu, nhưng cậu nghẹn và nhổ ra. Khi tôi cố cho thêm, cậu từ chối bằng một cái lắc đầu nhẹ và tôi đưa bình nước lại cho người xạ thủ.
Nhận ra đầu Kolya hẳn là đang lạnh, tôi xé mũ ra và đội cho cậu, xấu hổ vì trước đó không nghĩ đến việc này. Dù cậu rùng mình, khuôn mặt vẫn ướt đẫm mồ hôi, da tái và phủ những mảng đỏ cỡ đồng xu.
Tôi có thể nhìn thấy cánh cửa của bệnh viện, cách chưa đến một trăm mét, qua những khe hở giữa các toa xe đang lăn. Tài xế của chúng tôi ngồi khom người về phía trước trên ghế, tay quàng quanh vô lăng, gật đầu sốt ruột khi chờ đợi. Thiếu úy liên tục nhìn về phía Kolya một cách lo lắng hơn và hơn nữa.
"Lev? Cậu có thích cái tựa không?"
"Tựa nào?"
"Chó Trong Sân Nhà."
"Cái tựa cũng được."
"Tôi chỉ có thể gọi nó là Radchenko."
"Chó Trong Sân Nhà nghe hay hơn."
"Tôi cũng nghĩ vậy."
Anh mở mắt, đôi mắt xanh nhạt của Cossack, và mỉm cười với tôi. Cả hai chúng tôi đều biết anh sẽ chết. Anh run rẩy, nằm trên ghế sau dưới chiếc áo khoác lớn, răng trắng bệch trên đôi môi xanh. Tôi luôn tin rằng nụ cười đó là món quà dành cho tôi. Kolya không tin vào thần linh hay thế giới bên kia; anh không nghĩ mình sẽ đến một nơi tốt đẹp hơn, hay bất cứ nơi nào cả. Không có thiên thần nào chờ đón anh. Anh mỉm cười vì biết tôi sợ chết đến mức nào. Đó là điều tôi tin. Anh biết tôi sợ hãi và muốn làm cho mọi thứ dễ dàng hơn cho tôi.
"Anh có tin được không? Bị chính người của tôi bắn vào mông."
Tôi muốn nói gì đó, để bịa một câu chuyện cười ngớ ngẩn đánh lạc hướng anh ấy. Tôi lẽ ra nên nói gì đó, tôi ước gì mình đã nói, dù bây giờ tôi vẫn không nghĩ ra lời nào đúng. Nếu tôi nói với anh ấy rằng tôi yêu anh ấy, liệu anh ấy có nháy mắt và nói, "Trả trách cậu đè tay trên mông tôi?"
Ngay cả Kolya cũng không giữ được nụ cười lâu. Anh nhắm mắt lại. Khi nói, miệng anh rất khô, môi dính lại với nhau khi cố gắng thốt ra lời.
"Không phải như cách tôi tưởng tượng đâu," anh nói với tôi.
Chương 26
Các sĩ quan mặc đồng phục và những người dân mặt nghiêm túc hối hả ra vào dinh thự trên đảo Kamenny, chen lấn qua cánh cửa chính dưới hàng cột trắng. Phía sau ngôi nhà cũ, dòng sông Neva cuộn mình, đóng băng và phủ trắng bởi tuyết, như một con rắn trắng trườn qua thành phố đổ nát.
Thiếu úy hói đầu dẫn tôi đến một trong những ụ súng máy phía trước dinh thự, nơi một nhóm lính ngồi sau các bao cát xếp chồng, nhấm nháp trà loãng từ những chiếc cốc thiếc. Trung sĩ phụ trách đọc lá thư của đại tá, liếc nhìn tôi và nói, "Cậu có gì cho ông ấy không?"
Tôi gật đầu, và ông ta ra hiệu cho tôi đi theo. Thiếu úy quay mặt và bước đi, không nhìn lại, vẻ háo hức muốn thoát khỏi một buổi sáng chẳng may mắn đối với anh ta.
Cuối cùng chúng tôi cũng tìm thấy Grechko ở tầng dưới trong hầm rượu của dinh thự. Tất cả những chai rượu cổ vẫn còn hoành tráng đã bị uống hết từ lâu, nhưng các bức tường vẫn đầy những giá gạch nung. Đại tá đứng cạnh một trong những sĩ quan dưới quyền, người đang kiểm tra các món theo danh sách. Những người lính trẻ mở các thùng gỗ bằng xà beng. Họ thọc tay vào giấy vụn bảo vệ đồ bên trong, lôi ra các lon, lọ, bao tải và đọc to những món đồ.
"Hai ký giăm bông hun khói."
"Năm trăm gam trứng cá muối đen."
"Một ký thịt bò đông."
"Tỏi và hành… không ghi cân nặng."
"Một ký đường trắng."
"Một ký cá trích muối."
"Lưỡi bò luộc, không ghi trọng lượng."
Trong giây lát, tôi đứng nhìn đống thực phẩm ngày càng chất cao, tất cả các nguyên liệu cho một bữa tiệc huyền thoại. Cà rốt và khoai tây, gà đã nhổ lông và những hũ kem chua, bột mì, mật ong, mứt dâu, bình nước trái cherry lên men, nấm borovik đóng hộp, những cục bơ bọc giấy sáp, một thanh sô-cô-la Thụy Sĩ 200 gram.
Người hạ sĩ hộ tống tôi thì thầm với viên sĩ quan đứng bên cạnh Grechko. Đại tá nghe thấy và quay về phía tôi. Trong vài giây, ông nhăn mặt, không nhận ra tôi, những nếp nhăn sâu chia cắt trán ông.
"À," ông nói, nụ cười lạ lùng, đẹp đẽ hiện ra. "Kẻ cướp! Bạn của cậu đâu, tên đào ngũ?"
Tôi không biết mặt mình phản ứng thế nào với câu hỏi này, nhưng đại tá đã nhìn thấy và hiểu.
"Tiếc thật," ông nói. "Tôi thích cậu bé đó."
Ông chờ tôi làm gì đó và trong một khoảng thời gian dài, tôi không nhớ mình đến đó để làm gì. Khi nhớ lại, tôi mở cúc áo khoác, kéo chiếc hộp, nhét đầy rơm ra khỏi áo len của mình, và đưa nó cho ông ta.
"Một tá trứng," tôi nói với ông ấy.
"Tuyệt vời, tuyệt vời." Ông đưa hộp trứng cho viên sĩ quan mà không nhìn và chỉ vào những món ngon chất đống trên sàn đá. "Tối qua tôi đã vận chuyển một số lương thực bằng máy bay. Vừa kịp lúc. Anh biết tôi đã phải chi bao nhiêu ân huệ cho đám cưới này không?"
Sĩ quan cấp dưới đưa hộp trứng cho một lính trẻ và ghi chú vào sổ sách. "Thêm một tá trứng nữa."
Tôi nhìn người lính đi bộ với chiếc hộp.
"Cậu đã có trứng rồi à?"
Cấp dưới kiểm tra sổ sách. "Giờ đã bốn chục rồi."
"Càng nhiều càng tốt," đại tá nói. "Giờ chúng ta có thể làm bánh cá rồi. Đây, đưa cho cậu bé một thẻ khẩu phần loại Một. À, cho cậu ấy hai thứ; cậu ấy cũng có thể ăn của bạn mình thôi."
Cấp dưới nhướng mày, rất ấn tượng với sự hào phóng này. Anh ta lấy hai thẻ khẩu phần từ một chiếc ví da và ký tên. Anh lại lấy một cuốn sổ mực từ túi và đóng dấu các thẻ trước khi đưa cho tôi.
“Cậu là một cậu bé nổi tiếng đấy,” anh ấy nói.
Tôi nhìn chằm chặp vào những lá bài trên tay. Mỗi lá đều cho tôi quyền lấy khẩu phần của một sĩ quan. Tôi nhìn quanh hầm rượu. Kolya chắc hẳn sẽ biết những vườn nho mà nhà Dolgorukov ưa thích, loại trắng họ chọn cho cá tầm, loại đỏ hợp nhất với thịt nai. Hoặc nếu cậu ấy không biết, cậu ấy sẽ bịa ra. Tôi nhìn những người lính đi lên cầu thang mang theo bao gạo và những dây xúc xích béo dài.
Khi tôi quay sang đại tá, ông ấy nhìn tôi đăm đăm. Lại một lần nữa, ông hiểu biểu cảm của tôi.
“Những lời mà cậu muốn nói ngay bây giờ? Đừng nói chúng.” Ông cười và vỗ má tôi với một thứ gần như là tình cảm thật sự. “Và đó, bạn của tôi, là bí quyết để sống lâu.”
Chương 27 (cuối)
Vào đêm 27 tháng 1 năm 1944, hơn ba trăm khẩu pháo bắn một loạt pháo dài một giờ với tên lửa trắng, xanh và đỏ, những đuôi sáng lấp lánh chiếu sáng toàn bộ Leningrad, màu cờ Nga phản chiếu trên mái vòm vàng của Nhà thờ Saint Isaac và hai nghìn cửa sổ của Cung điện Mùa Đông. Vòng vây đã kết thúc.
Tôi đứng trên mái nhà của tòa nhà của Sonya, uống rượu Ukraine dở tệ với cô ấy và một tá người bạn khác, nâng cốc chúc mừng tên các tướng Govorov và Meretskov, những người đã phá vỡ tuyến phòng thủ của Đức. Lúc đó tôi đã ở trong quân đội hơn một năm. Cấp trên đã đánh giá tôi, quyết định rằng tôi không có vẻ ngoài như một lính bộ binh, và giao cho tôi nhiệm vụ ở Red Star (báo Cờ Đỏ), tờ báo của quân đội. Công việc của tôi năm đầu tiên là hỗ trợ một nhóm nhà báo giàu kinh nghiệm đi quanh trận địa, thu thập giai thoại và lời trích dẫn từ các binh sĩ ở các đơn vị mà chúng tôi ghé thăm. Tôi mang súng nhưng chưa bao giờ dùng đến. Ngón tay mất một nửa của tôi chỉ làm phiền tôi khi gõ phím. Cuối cùng tôi được thăng chức và bắt đầu gửi báo cáo của riêng mình đến văn phòng Red Star, nơi một biên tập viên mà tôi chưa từng gặp biến những bài viết của tôi thành những bài văn vững chắc, đầy tinh thần yêu nước. Cha tôi sẽ ghét tất cả những thứ đó.
Đêm mà cuộc vây hãm kết thúc, trên mái nhà của Sonya, sau khi chúng tôi uống quá nhiều rượu và la hét đến nỗi cổ họng đau nhói, tôi hôn cô ấy lên môi. Nó hơn mức bạn bè một chút nhưng lại chưa đến mức gợi cảm. Khi chúng tôi tách ra, mỉm cười để che đậy sự bẽ mặt, tôi biết cả hai chúng tôi đều nghĩ về Kolya. Tôi tưởng tượng cậu ấy sẽ rất vui khi thấy tôi hôn một cô gái xinh đẹp, cậu ấy sẽ hướng dẫn tôi về kỹ thuật và nhấn mạnh phải chạm một cách chắc hơn - nhưng dù sao, chúng tôi vẫn nghĩ về cậu ấy và chúng tôi không bao giờ hôn như vậy nữa.
Vài ngày sau khi tôi trở lại Piter với những quả trứng của đại tá, tôi mới biết rằng Kirov không sụp đổ ngay mà phải vài giờ sau khi bom rơi. Hầu hết cư dân đều sống sót, bao gồm cả Vera Osipovna và cặp sinh đôi Antokolsky. Tôi cuối cùng cũng gặp từng người họ, nhưng mùa đông đã thay đổi tất cả chúng tôi và chẳng có nhiều điều để nói. Tôi đã hy vọng Vera sẽ cảm thấy hơi tội lỗi vì đã bỏ chạy mà không ngoái lại sau khi tôi cứu cô ấy ở cổng sân, nhưng cô ấy không nhắc đến và tôi cũng không đề cập. Cô ấy đã giành được một chỗ trong dàn nhạc nhỏ thu gọn của thành phố và giữ nó suốt ba mươi năm sau đó. Cặp sinh đôi đều chiến đấu xuất sắc trong Sư đoàn Vệ binh số Tám của Tướng Chuikov, thậm chí đi đến tận Berlin. Có một bức ảnh nổi tiếng về một trong số họ ký tên trên bức tường Reichstag, nhưng tôi không thể nói đó là Oleg hay Grisha. Trong tất cả những đứa trẻ ở tầng năm của Kirov, có lẽ tôi là người ít thành công nhất.
Vào mùa hè năm 1945, tôi sống trong một căn hộ lớn gần Ga Moscow cùng với hai nhà báo trẻ khác. Lúc đó những người sơ tán đã trở về Piter, bao gồm mẹ và chị gái tôi, nhưng thành phố vẫn ít đông đúc hơn nhiều so với trước chiến tranh. Người ta nói nước từ sông Neva vẫn còn mùi như xác chết. Bọn trẻ lại chạy về nhà sau giờ học, vung vẩy cặp sách trên vai. Các nhà hàng và cửa hàng trên Nevsky Prospekt đã mở cửa trở lại, dù gần như chẳng ai có tiền để tiêu. Vào các ngày lễ lớn cỡ quốc gia, tất cả chúng tôi đi dạo lên xuống trên phố, ngắm nhìn qua những ô kính mới những món bánh marzipan, đồng hồ đeo tay và găng tay da. Những người chúng tôi đã sống qua thời bao vây thì vẫn cứ theo thói quen đi trên vỉa hè phía nam, dù đã gần hai năm không có quả đạn nào rơi xuống.
Một đêm hè mát mẻ tháng Tám, gió bắc thổi xuống từ Phần Lan mang theo mùi thông, tôi ngồi một mình ở bàn bếp trong căn hộ của mình, đọc một truyện của Jack London. Nhóm bạn cùng phòng của tôi đã đi xem một vở kịch mới ở Pushkin; tôi cũng được mời, nhưng chẳng có nhà biên kịch Nga hiện đại nào khiến tôi thích bằng Jack London. Khi tôi đọc xong truyện, tôi quyết định đọc lại từ đầu, lần này cố gắng tìm hiểu cách cậu ấy viết. Buck không đọc báo, nếu không cậu ấy đã biết rắc rối đang đến….
Tôi không ngẩng lên khỏi trang sách khi nghe tiếng gõ cửa đầu tiên. Cậu bé sống cách vài căn hộ giải trí bằng cách chạy đi chạy lại trong hành lang mỗi tối, gõ cửa từng nhà. Tôi biết ai cũng vào được hết - khóa hỏng mà, lại ít khách đến chơi. Tiếng gõ thứ ba đã phá vỡ bùa mê của London. Hơi bực mình, tôi đặt quyển sách xuống bàn bếp và đi la rầy cậu bé.
Một cô gái trẻ đứng trong hành lang, một chiếc vali ở chân, một hộp các-tông trong tay. Cô mặc một chiếc váy cotton màu vàng với hoa văn trắng. Con chuồn chuồn bạc trên dây chuyền của cô treo trong hốc xương cổ và mái tóc đỏ dày của cô buông xuống qua vai với làn da bị cháy nắng. Cô sẽ nói với bạn rằng cô không chọn chiếc váy đó cẩn thận, hay dây chuyền, rằng cô không gội đầu hay rửa mặt, chỉ thoa chút son đỏ. Đừng tin đâu. Không ai trông đẹp như vậy một cách tình cờ.
Cô cười với tôi, nụ cười cong môi khó chịu đó trông giống như cười khẩy hơn là cười thật, đôi mắt xanh của cô nhìn vào mắt tôi xem tôi có nhận ra cô không. Nếu tôi khéo léo hơn khi chơi trò này, tôi có thể giả vờ không nhận ra, tôi có thể nói, "Chào, bạn đang tìm ai đó à?"
"Bạn không gầy như trước nữa," cô nói. "Nhưng vẫn còn quá gầy."
"Cậu có nhiều tóc đó," tôi đáp, và ngay lập tức ước gì mình có thể rút lại lời nói đó. Suốt ba năm rưỡi, tôi đã mơ về cô ấy - thực sự là, cô ấy đã bước đi trong bộ đồ bảo hộ rộng thùng thình qua nửa số giấc mơ mà tôi nhớ - và tất cả những gì tôi có thể nghĩ để nói khi cô ấy cuối cùng xuất hiện chỉ là, 'Cậu có nhiều tóc đó!'
'Tớ mang quà đến cho cậu,' cô ấy nói. 'Nhìn xem giờ người ta phát minh ra cái gì này.'
Cô ấy mở nắp thùng giấy. Bên trong là mười hai quả trứng nằm gọn trong các ngăn của chúng. Trứng trắng, trứng nâu, và một quả lốm đốm như tay một ông già. Cô ấy đóng nắp lại rồi mở ra lần nữa, vui vẻ với sự đơn giản nhưng hữu dụng của nó.
'Tốt hơn hẳn so với việc gói trong rơm,' cô ấy nói thêm.
'Chúng ta có thể làm trứng tráng,' tôi gợi ý.
'Chúng ta á?' Cô ấy mỉm cười, đưa thùng trứng cho tôi, nhặt vali của mình, chờ tôi mở toang cửa và cho cô ấy vào. 'Có một điều cậu nên biết về tớ, Lyova. Tớ không nấu ăn đâu.'
HẾT
First published in 2008 by Viking Penguin, a member of Penguin Group (USA) Inc.
