Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn

 dịch thuật

 

Sáng hôm sau chúng tôi đứng trước một tòa nhà cách Narva Gate hai con đường, nhìn bức chân dung của Zhdanov cao ngất ngưởng. “Đúng nó rồi,” Kolya vừa lẩm bẩm vừa dậm chân tại chỗ để cho ấm, nhưng chẳng ăn thua gì, trời lạnh hơn hôm qua. Trên bầu trời xanh vô tận, lơ lửng một đám mây hình xương cá. Chúng tôi tiến đến trước nhà, dĩ nhiên cửa bị khóa chặt. Kolya đập ầm ầm trên đó, chẳng thấy ai trả lời. Chúng tôi đứng đó như những thằng ngốc, vỗ tay mang găng vào nhau, dấu cằm dưới mấy lớp gấp của khăn quàng cổ.

“Mình  phải làm gì bây giờ?”

“Thế nào cũng có người ra vào chứ. Hôm nay mày làm sao vậy?  Có vẻ  hơi quạu cọ.”

“Tao chẳng làm sao cả.” Tôi trả lời hắn, nhưng chính tôi cũng nhận ra vẻ khó chịu trong giọng nói của mình. “Mất một giờ để đến đây, phải đợi thêm một tiếng nữa để vào trong nhà, cuối cùng chẳng có lão già nào với một lồng đầy gà cả.”

“Không, không phải vậy, có cái gì làm mày khó chịu. Có phải mày đang nghĩ về khu chung cư Kirov?”

“Dĩ nhiên là tao đang nhớ về khu chung cư Kirov rồi.” Tôi quạt lại, nổi sùng vì câu hỏi của hắn, bởi vì tôi chẳng hề nghĩ đến khu chung cư Kirov.

“Hồi mùa thu vừa rồi, chúng tao có một ông Thiếu Úy tên là Belak. Lính thứ thiệt 100%, cả đời là lính, ông ta từng đánh nhau với tụi Whites. Có một đêm ông ta thấy thằng lính nhóc con tên Levin đọc thư rồi khóc như cha chết mẹ chết. Đó là lúc chúng tao đang ở dưới giao thông hào bên ngoài Zelenogorsk, ngay trước khi tụi lính Phần Lan chiếm lại. Levin không nói nên lời chỉ la khóc thôi. Tụi Đức đã giết chết ai đó trong gia đình hắn, tao không nhớ rõ, có thể là mẹ hắn, cha hắn, hay cả gia đình không chừng. Belak lấy lá thư, gấp lại rất đàng hoàng nhét vào túi áo khoác thằng bé Levin và nói ‘Được rồi, cứ khóc cho đã đi. Nhưng sau đó, tao không muốn thấy mày khóc nữa cho đến khi  Hitler bị treo cổ.”

Kolya với con mắt xa xăm, nghiền ngẫm về lời nói của ông Thiếu Úy. Chắc hắn nghĩ lời nói đó rất thâm thúy, còn tôi chỉ thấy đó là sự dàn dựng tuyên truyền, thứ lời nói mà cha tôi chúa ghét, loại đối thoại giả tạo mà mấy tên nhà báo của đảng viết trong những bài báo khích động kiểu như “Anh Hùng Ngoài Tiền Tuyến” mà tờ báo Truth for Young Pioneers  thường đăng.

“Rồi tên lính trẻ đó nín khóc?”

“Ừ, hắn nín khóc ngay lập tức, chỉ sụt sịt chút đỉnh. Nhưng tối đó lại tiếp tục khóc. Nhưng ý tao không phải như vậy.”

“Thế thì là gì?”

“Không phải lúc để phiền não. Tụi Đức muốn chúng ta chết. Có khóc bao nhiêu đi nữa cũng chẳng giúp gì việc chống lại bọn chúng.”

“Ai khóc đâu, tao thì không.”

Kolya chẳng để ý gì đến lời tôi nói, hắn đang cố dùng móng tay nạy   cái gì kẹt giữa hai răng cửa của hắn.

“Mấy ngày sau Belak đạp trúng mìn. Tan nát, mìn bẫy. Đó là cách người ta làm cho thân thể một con người…”

Giọng  nói nó lạc đi, đang suy tưởng về cái thân xác tan tành của người cựu sĩ quan, và tôi cảm thấy hối hận vì đã xúc phạm ông Thiếu Úy trong tư tưởng. Có thể ông nói như con vẹt nhưng mục đích cố giúp người lính trẻ quên đi thảm kịch của gia đình, điều đó quan trọng hơn cả.

Kolya đập trên cửa lần nữa. Chờ một lúc, thở dài rồi ngắm đám mây cô đơn vắt ngang bầu trời.

“Tao muốn được sống ở Argentina một hay hai năm. Tao chưa bao giờ thấy biển, mày có bao giờ thấy chưa?”

“Chưa.”

“Mày quạu cọ quá đi, thằng Nhóc Do Thái. Sao vậy?”

“Hãy đi ngủ với con heo.”

“À, ra thế!” Hắn xô nhẹ tôi rồi nhảy ra xa, thủ tay như một võ sỹ quyền anh thứ thiệt, giống như sắp sửa đấu với tôi. Tôi ngồi xuống bực cửa. Chỉ làm một cử động nhỏ thế thôi cũng làm tôi hoa mắt. Sáng nay khi thức dậy, chúng tôi uống nhiều nước trà ở nhà Sonya, dù chẳng có tí gì dằn bụng,  tôi vẫn cố để dành kẹo thư viện. Tôi nhìn lên Kolya, hắn đang ngắm tôi với vẻ e ngại.

“Mày thì thầm điều gì tối hôm qua?” Tôi hỏi hắn. “Khi mày ngủ với cô ta.”

Kolya nheo mắt, bối rối vì câu hỏi.

“Với ai? Với Sonya ấy à? Tao nói cái gì?”

“Mày nói với cô ta cả đêm”

“Khi chúng tao đang làm tình?”

Câu hỏi làm tôi ngượng ngùng. Tôi gật đầu. Hắn nhăn mặt.

“Tao không nhớ tao nói gì.”

“Mày nói suốt đêm.”

“Chuyện bình thường ấy mà, tao nghĩ vậy.” Một nụ cười hóm hỉnh bất ngờ nở trên khuôn mặt, hắn ngồi xuống bên tôi. “Dĩ nhiên rồi, nếu mày chưa từng viếng thăm một quốc gia nào đó, có thể mày chưa hiểu phong tục tập quán của họ. Mày muốn biết phải nói gì với người bản xứ.”

“Tao chỉ hỏi vậy thôi.”

“Ừ, nhưng mày hơi tò mò. Tại sao tò mò? Bởi vì mày hơi bối rối. Mày muốn xử sự đúng cách khi mày có cơ hội. Mày thông minh thiệt. Tao nói đàng hoàng đó, bỏ cái tính cau có đó đi. Mày chấp nhận lời khen ngợi khó khăn hơn những nguời tao đã quen biết. Này, hãy nghe đây, đàn bà không thích mấy người tình miệng câm như hến. Họ cho mình những gì quý giá nhất, và họ muốn biết mình ưa thích, biết ơn. Hãy gật đầu một cái để tao biết mày đang nghe.”

“Tao đang nghe mà.”

“Mỗi người đàn bà đều có người yêu lý tưởng và người tình ác mộng. Người tình ác mộng, hắn chỉ nằm trên người nàng, nghiền nát nàng với cái bụng của hắn, thụt ra thụt vào với cái đồ nghề của hắn, đến khi hắn xong việc. Hắn nhắm mắt thật chặt, chẳng nói một câu, căn bản là hắn chỉ xả tinh trùng vào người con gái tội nghiệp. Bây giờ nói đến người yêu lý tưởng – “

Chúng tôi nghe thấy tiếng xột xoạt của  chiếc xe trợt tuyết trườn trên băng đóng cứng, quay lại thì thấy hai cô gái đang kéo chiếc xe đựng mấy thùng đá lấy từ sông lên. Họ tiến thẳng đến phía chúng tôi. Tôi đứng dậy, phủi tuyết trên áo choàng, cảm thấy nhẹ nhõm vì bài giảng thuyết của Kolya bị cắt ngang. Kolya đứng bên cạnh tôi.

“Mấy người đẹp! Các cô cần giúp mang nước đá lên không?”

Hai cô gái nhìn nhau dò ý. Họ khoảng cùng tuổi tôi, chị em ruột hay chị em họ gì đó, cùng khuôn mặt to, môi trên thô kệch. Họ là người của thành phố Piter, không tin cẩn khách lạ, thế mà chúng tôi lại định trèo lên bao nhiêu nấc thang lầu để lên phòng của họ với 4 thùng đá đó..

“Các anh muốn tìm ai?” một trong hai cô hỏi với vẻ nghiêm trang của một người quản thủ thư viện.

“Chúng tôi muốn nói chuyện với một vị nào đó về mấy con gà của ông ta.” Kolya, không hiểu vì lý do nào đó, trả lời một cách thành thực. Tôi trông đợi một tràng cười chế diễu của mấy cô gái, thế mà họ lại không..

“Ông ta sẽ bắn hai anh què giò nếu các anh leo lên đó.”  Cô gái kia trả lời. “Ông ta không để ai lại gần mấy con gà đâu.”

Kolya và tôi liếc nhìn nhau. Hắn liếm môi rồi trở lại nhìn hai cô gái, nở một nụ cười quyến rũ nhất.

“Hãy để chúng tôi mang giúp các cô mấy thùng nước đá này, còn ông già đó, chúng tôi sẽ lo sau.”

Leo đến tầng thứ năm, mồ hôi thấm qua mấy lớp áo lạnh của tôi, cặp chân chim của tôi run lên, tôi bắt đầu hối hận vì quyết định của mình. Đáng lẽ phải chọn một cách khác dễ dàng hơn để vào tòa nhà. Chúng tôi nghỉ một lúc khá lâu mỗi lần đặt thùng nước đá xuống, thở hổn hển và duỗi bàn tay ra, lột găng tay xem thử cái quai của thùng nước hằn sâu thế nào vào bàn tay mình. Kolya khảo sát hai cô gái về thói quen đọc sách và khả năng đọc đoạn thơ mở đầu của Eugene Onegin. Theo tôi, hai cô chỉ là loài nhai lại, đọc thơ một cách vô hồn, không có tinh anh trong con mắt, cũng không có cảm xúc trong lời nói, nhưng Kolya thì không thấy nhàm chán. Hắn trò chuyện như thể hai nàng là những sinh vật dễ thương nhất trên đời, để làm cái đinh cho một buổi dạ hội, luôn nhìn cô này rồi lại cô kia, nói không ngừng. Đến tầng lầu 5, thì rõ ràng hai nàng đều  “chịu” hắn rồi, và tôi cảm thấy rằng, hai cô đang tranh nhau xem ai hơn. Lòng ghen tị của tôi nổi lên, cái cảm giác bất công trộn lẫn với sự tức giận và tự ti mặc cảm – tại sao hai cô bé lại thích hắn? Một thằng đại khoác lác! Nhưng sao tôi lại ganh ghét với hắn vì sự chú ý của hai cô bé? Tôi không hề quan tâm về hai cô đó. Chẳng cô nào khiến tôi để ý. Tên đàn ông này mới cứu tôi hôm qua mà hôm nay tôi lại nguyền rủa hắn chỉ vì hai cô gái ngượng ngùng trước mặt hắn, mặt đỏ lên, cúi gằm nhìn sàn nhà  và mân mê mấy cái nút áo của các cô.

Nhưng tôi thích Sonya. Nàng có má lúm đồng tiền nửa vầng trăng và ân cần đón tiếp tôi, cho tôi chỗ ngủ bất cứ khi nào cần, mặc dù một tuần nữa không có đồ ăn nàng sẽ chết – hình dáng chiếc sọ dừa của nàng dưới làn da gần như trong suốt thật dễ đoán. Có thể tôi thích nàng nhiều như vậy vì tôi đã gặp nàng 30 phút sau khi thấy những nấm mồ của khu chung cư Kirov. Có thể sự xuất hiện của nàng làm tôi không còn suy nghĩ nhiều về những người láng giềng của tôi đã bị chôn vùi dưới đống gạch đổ nát đó nữa.

Ngay cả khi những hình ảnh ấy có lướt qua đầu tôi, cũng không để lại một dấu vết gì, và tôi lại nghĩ đến cô con gái của Đại Tá, hay chính ông ta, hay tên khổng lồ với cái ống sắt đang rượt chúng tôi xuống những nấc thang lầu, và cả người đàn bà bán những ly đất Badayev ở chợ Haymarket.  Nếu tôi có thoảng nghĩ về Kirov, thật ra tôi chỉ nghĩ về một tòa nhà với sân chơi thời tuổi nhỏ, với những hành lang dài khéo sắp xếp cho những cuộc chạy đua, những cầu thang, những kiếng cửa sổ đóng đầy bụi đến nỗi bạn có thể vẽ chân dung của mình trên đó, sân chơi mà tụi trẻ nhỏ thường tụ tập ở đó để chọi nhau bằng những nắm tuyết khi trận tuyết lớn đầu mùa đổ xuống. Chúng tôi chia làm hai phe chọi nhau, lầu 1 đến lầu 3 và lầu 4 đến lầu 6.

Bạn bè tôi và láng giềng – Vera, Oleg, Grisha, Lyuba Nikolaevna và Zavodilov – hình như không có thật nữa rồi, như thể cái chết đã xóa sạch cuộc đời của họ.  Có thể tôi vẫn biết họ sẽ biến mất một ngày nào đó, cho nên tôi luôn giữ họ ở một khoảng cách, cười theo những chuyện tiếu lâm của họ, lắng nghe những toan tính của họ nhưng không bao giờ tin tưởng sự hiện hữu của họ. Tôi đã học được cách bảo vệ chính mình. Khi mật vụ đến bắt bố tôi, tôi vẫn còn là một đứa trẻ ngu ngốc, không hiểu tại sao một người đầy nghị lực,  sáng giá như thế lại biến mất chỉ do một cái búng tay của một quan chức nào đó, như thể bố tôi chỉ là một làn khói thuốc nhẹ mà một tên lính gác nhàn rỗi nào đó trên tháp canh ở tận Siberia thở ra, một tên lính gác đang tự hỏi bạn gái của mình ở quê nhà có lang chạ với ai không, hắn đang nhìn bâng quơ khu rừng mùa đông, không biết rằng cơn lốc vĩ đại trên bầu trời sắp sửa nuốt chửng làn khói thuốc cong queo đó, cả anh lính và tất cả những gì trên mặt đất phía dưới.

Kolya nói lời từ giã với các cô gái, bỏ hai xô nước đá bên trong cánh cửa và ra dấu cho tôi làm theo.

“Cẩn thận trên đó nghe,” một cô nói, tôi đoán là cái cô nhanh nhẩu  “Ông ta đã 80 tuổi nhưng bắn anh chỉ trong một giây thôi.”

“Tôi đã ở tiền tuyến chống quân Đức,” Kolya đáp trả, trấn an cô ta với nụ cười và cái nháy mắt. “Tôi nghĩ là tôi có thể đối phó được với ông già kỳ dị đó.”

“Khi trở xuống, các anh ghé lại ăn nhé, chúng tôi đang nấu súp,” cô gái kia lên tiếng. Cô gái nhanh nhẩu nguýt nàng một cái. Tôi tò mò tự hỏi không biết cô ta bực bội vì lời mời ăn hay vì cử chỉ lẳng lơ kia. Kolya và tôi leo lên cầu thang cuối cùng dẫn đến cánh cửa mở ra sân thượng.

“Tao bàn thế này nhá,” hắn nói với tôi. “Hãy để tao nói chuyện, tao biết cách đối phó với người già.”

Tôi đẩy cánh cửa mở ra, gió ập vào người chúng tôi hắt những mảnh vụn nước đá và cát vào mặt, bụi bặm của thành phố. Chúng tôi cúi đầu thấp và tiến tới, như hai tên Ả Rập du mục trong cơn bão cát. Trước mắt chúng tôi hiện ra một ảo ảnh, chỉ có thể là ảo ảnh mà thôi – cái chòi làm bằng những mảnh gỗ và lợp bằng giấy dầu, những khe hở được nhét kín bằng những miếng nỉ vụn và giấy báo cũ. Tôi chính tông là chú bé con lớn lên ở thành phố; chưa bao giờ đến một nông trại nào và chưa hề thấy con bò ra sao; nhưng tôi biết đó là cái chuồng gà. Kolya nhìn tôi, mắt chúng tôi ướt nhẹp vì gió, nhưng cả hai hét vang như hai thằng điên.

Một đầu chòi có chiếc cửa méo mó, không cài then. Kolya gõ nhẹ trên cánh cửa. Không có tiếng trả lời. “Có ai đó không? Đừng nổ súng nhá! Ha, ha! Chúng tôi chỉ tới thăm một chút thôi… Có ai không vậy? Thôi được, tôi sẽ mở cửa ra nhé. Nếu không đồng ý hay muốn nổ súng thì làm ơn lên tiếng đi.”

Kolya bước tránh qua một bên cửa, và ra dấu cho tôi cũng làm như vậy, hắn dùng mũi giày đẩy nhẹ mở cánh cửa. Chúng tôi chờ đợi một tiếng hét chửi rủa hay một tiếng súng chát chúa, nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Cảm thấy đã an toàn, chúng tôi hé mắt dòm vào. Bên trong tối thui, một ngọn đèn dầu leo lét treo trên tường. Sàn nhà phủ đầy những rơm rạ, bay mùi hôi cứt gà. Một bên tường đặt những lồng gà trống trơn, mỗi lồng lớn vừa đủ nhốt một con gà. Một thằng bé ngồi phía cuối chuồng gà, lưng dựa vào tường, đầu gối ôm vào ngực. Nó mặc một chiếc áo lông thỏ đàn bà, nhìn thật buồn cười nhưng chắc là ấm áp.

Một xác chết đàn ông ngồi dựa vào tường, trong đống rơm rạ, dưới những lồng gà, chân tay khô cứng chỉa ra ngoài giống như một hình múa rối. Ông ta có bộ râu trắng dài, bộ râu của một chính khách theo đuổi chủ thuyết vô chính phủ thời thế kỷ thứ 19, và làn da giống như sáp chảy ra từ một ngọn nến. Một khẩu súng shotgun lâu đời vẫn còn nằm ngang trên lòng ông ta. Theo hình dạng đó, chắc ông ta đã chết cách đây nhiều ngày.

Kolya và tôi trố mắt nhìn cảnh thê lương đó và chúng tôi cảm thấy hối hận như đã xâm phạm gia cư bất hợp pháp. Kolya thì không cảm thấy xấu hổ như tôi. Hắn bước vào trong cái chòi và quỳ bên cạnh cậu bé, hai tay nắm lấy đầu gối.

“Này cậu lính bé con, không sao chứ? Bé có cần nước uống không?”

Thằng bé chẳng thèm nhìn hắn. Cặp mắt xanh hình như to hẳn ra trên khuôn mặt ốm đói của nó. Tôi bẻ một miếng kẹo thư viện, bước vào chuồng gà và đưa cho nó. Mắt nó lờ đờ quay về phía tôi. Hình như nó đang nhận dạng tôi cùng với miếng kẹo trong tay tôi trước khi quay mặt đi chỗ khác. Mắt đã thất thần rồi.

“Đây có phải ông nội bé không?” Kolya hỏi chú bé.

“Chúng ta nên mang ông ra ngoài đường. Ngồi mãi một mình bên ông thì không tốt chút nào đâu.”

Thằng bé cố gắng lắm để mở miệng ra. Đôi môi của nó nứt nẻ như gắn chặt vào nhau.

“Ông tôi không muốn rời xa mấy con gà.”

Kolya liếc nhìn những lồng gà trống trơn.

“Bây giờ thì không cần nữa đâu. Đi thôi, có mấy cô bé dễ thương dưới kia sẽ cho bé ăn súp và nước uống.”

“Tôi không đói,” thằng bé nói, và tôi biết nó đã quyết rồi.

“Hãy đi với chúng tôi,” tôi dỗ thằng bé. “Ở đây lạnh lắm. Chúng tôi sẽ sưởi ấm cho bé, và kiếm nước cho bé uống.”

“Tôi phải coi sóc bầy gà.”

“Gà mất cả rồi,” Kolya nói.

“Không mất tất cả đâu.”

Tôi không nghĩ rằng thằng bé sống qua khỏi ngày mai, nhưng tôi không muốn nó chết ở đây, bên cạnh xác chết râu ria và những lồng gà trống trơn. Chết chóc đầy rẫy trong thành phố: chồng chất từng lớp cao phía sau nhà xác thành phố; đốt trong đống lửa bên cạnh nghĩa địa Piskarevsky; nằm rải rác trong hồ nước đông đá Ladoga, hay làm mồi cho mấy con hải âu, nếu thực sự còn sót lại con hải âu nào. Nhưng chọn nơi đây để giã từ trần thế thì thật cô liêu hơn bất cứ nơi nào tôi từng thấy.  

“Xem đây,” Kolya nói, vừa  lắc một lồng gà trống rỗng. “Không còn gì cả. Em là một đứa canh gác cẩn thận, em đã bảo vệ bầy gà, nhưng không còn con nào cả. Đi với chúng tôi thôi.”

Kolya chìa tay đeo găng ra, nhưng thằng bé chẳng thèm đếm xỉa tới.

“Ruslan đáng lẽ đã bắn hai người rồi.”

“Ruslan?” Kolya liếc nhìn xác lão già. “Ruslan là một lão già dữ dằn phải không? Tôi cũng đoán được mà. Tôi rất mừng vì em rất hiền lành.”

“Ông bảo tôi tất cả mọi người trong chung cư này đều muốn ăn cướp gà của chúng tôi.”

“Ông ta nói đúng.”

“Ông còn nói họ sẽ lên đây, cắt cổ chúng tôi nếu không đề phòng. Họ sẽ bắt trộm gà để nấu súp. Cho nên một trong hai chúng tôi phải luôn luôn tỉnh thức để canh chừng với cây súng này.”

Thằng bé nói với giọng đều đều, không hề nhìn chúng tôi, mắt nó mơ hồ và không tập trung. Bây giờ tôi có thể thấy nó run như cầy sấy, ngay cả khi nó không nói, răng nó cũng đánh lập cập vào nhau. Những mảng da màu nâu nhạt chảy dài xuống hai cái má và cổ hắn như thể một cố gắng tuyệt vọng của thân thể thằng bé ráng giữ cho hắn ấm áp.

“Ông bảo đám gà sẽ giúp chúng tôi sống qua ngày cho dến khi thành phố được giải tỏa. Đôi cái trứng mỗi ngày cộng thêm khẩu phần ăn, thế cũng đủ. Nhưng mà đàn gà không đủ ấm.”

“Nhóc con, em hãy quên mấy con gà đó đi. Đi thôi, đưa tay đây”

Thằng bé vẫn làm lơ không thèm để ý bàn tay của Kolya đang dang ra cho nó. Cuối cùng, Kolya ra dấu cho tôi giúp thằng bé. Nhưng tôi vừa nhìn thấy một cái gì chuyển động ở nơi mà đáng lẽ không có gì phải chú ý, cái gì cựa quậy dưới lớp áo lông của thằng nhóc, giống như trái tim vĩ đại của nó đang đập mạnh đến nỗi có thể thấy được từng nhịp lên xuống.

“Em có cái gì trong đó vậy nhóc con?” tôi hỏi nó.

Thằng bé vỗ nhẹ trên lớp áo lông, như thể trấn an vật gì bên trong. Lần đầu tiên tia mắt nó chạm vào mắt tôi. Nó yếu ớt như vậy , chỉ còn vài li nữa là tới đích, tôi có thể thấy được sự cứng rắn và bướng bỉnh của nó di truyền từ lão già.

“Ruslan đáng lẽ đã bắn các anh rồi.”

“Đúng vậy, em cứ nói vậy hoài, em còn giữ được một con gà phải không? Con cuối cùng đó.” Kolya nhìn tôi. “Mỗi ngày, một con gà đẻ được mấy cái trứng?”

“Bố ai mà biết được?”

“Nghe đây nhóc, anh trả em 300 rubles cho con gà đó, chịu không?”

“Người ta đã từng trả 1.000 đó. Ông bao giờ cũng nói không. Gà có thể giúp chúng tôi sống qua mùa đông. Tiền bạc thì làm gì được?”

“Mua đồ ăn được chứ? Con gà đó sẽ chết như những con khác nếu em giữ nó ở đây.”

Thằng bé lắc đầu. Cuộc thương lượng làm thằng bé thêm mệt mỏi và chán nản, mí mắt xụp xuống nhiều hơn.

“Được rồi, cái này chịu không? Đưa cho tao,” Kolya nói với tôi đồng thời giựt miếng kẹo thư viện trong tay tôi. Hắn gộp chung với miếng xúc xích cuối cùng và 300 rubble rồi để tất cả trên đùi thằng bé.

“Đó là tất cả gia tài của bọn anh.  Nào, nghe anh nói, em sẽ chết ở đây nếu cứ ngồi lì ra như thế. Em cần phải ăn và rời khỏi sân thượng này. Bọn anh sẽ đưa em xuống với mấy cô gái ở tầng lầu 5 – “

“Tôi không thích họ.”

“Em có phải cưới mấy cô đó đâu mà sợ. Chúng mình sẽ đưa tiền cho họ và họ sẽ cho em ăn và ngủ một vài đêm ở đó để lấy lại sức khỏe.”  

Thằng bé chỉ còn đủ sức lắc đầu nhẹ mấy cái, nhưng chí đã quyết. Hắn sẽ không rời khỏi đây.

  “Em ở lại đây để bảo vệ con gà này ư? Lấy cái gì để nuôi nó chứ?”

“Tôi ở lại vì Ruslan.”

“Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết. Em hãy đi theo bọn anh.”

Thằng nhóc bắt đầu cởi nút áo choàng. Nó giữ con gà màu nâu ở ngực giống như giữ một bé sơ sinh còn bú sữa. Một con gà bé bỏng buồn thảm nhất trên đời tôi chưa bao giờ thấy, lấm lem và ngơ ngác. Một con chim sẻ khỏe mạnh cũng có thể xé nó ra từng mảnh trong một trận đấu.

Thằng nhóc đưa con gà cho Kolya. Hắn nhìn chòng chọc vào nó không phải biết làm gì, nói gì. “Cầm lấy đi,” thằng bé nói. Kolya nhìn tôi rồi nhìn thằng bé. Tôi chưa bao giờ thấy hắn bối rối như vậy.

Thằng bé nói: “Tôi không thể nuôi sống đám gà này. Hồi tháng 10, chúng tôi có cả thảy 16 con. Bây giờ chỉ còn một con này thôi.”

Chúng tôi muốn có con gà quá chừng, nhưng bây giờ thằng bé cho không như vậythì lại thấy có gì không ổn.

“Cầm lấy đi, tôi chán nó lắm rồi.”

Kolya cầm lấy con gà từ tay thằng bé, dang ra xa, sợ nó sẽ cào vào mắt bằng đôi chân như móc sắt. Nhưng con gà không dữ tợn, nó nằm hiền lành trên bàn tay của Kolya, run rẩy trong khí lạnh, cặp mắt lờ đờ nhìn vào khoảng không.

“Hãy giữ cho nó ấm áp,” thằng bé lên tiếng.

Klolya nhét con gà vào trong áo khoác, nó nằm giữa những lớp nỉ nhưng vẫn có một khoảng không gian bé nhỏ để thở.

“Hãy đi đi,” thằng bé nói.

“Đi theo tụi tao,” tôi thuyết phục thằng bé lần cuối mặc dù vẫn biết là vô ích thôi. “Lúc này mày không nên ở đây một mình.”

“Tôi không ở đây một mình, đi ngay đi.”

Tôi nhìn Kolya và hắn gật đầu. Chúng tôi hướng ra chiếc cửa lệch. Lúc đi ra tôi quay đầu nhìn lần cuối, thằng bé ngồi đó yên lặng trong chiếc áo khoác đàn bà.

“Tên em là gì?”

“Vadim.”

“Cám ơn em, Vadim.”

Thằng bé gật đầu, cặp mắt xanh thẳm, và quá lớn trên gương mặt nhợt nhạt ốm yếu.

Chúng tôi để nó ở lại một mình trong chuồng gà với xác chết của lão già và những chiếc lồng gà trống rỗng, ngọn đèn dầu leo lét, 300 ruble và thức ăn  không đụng tới trong lòng nó trên chiếc áo khoác lông thỏ.

Xem tiếp chương 9)


Joomla Hosting and Maintenance by Cybersalt

Copyright © 2014-2026. VietVancouver, All rights reserved

  • Số Lượt Truy Cập 2523160