Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn dịch thuật

 

Chương 5

 

Nếu cần mua, bán, hay đổi chác cái gì, ai cũng đến chợ Haymarket. Trước chiến tranh, những sạp hàng bày trên đường ở Haymarket, người ta gọi là Đại Lộ Nevsky của đám bình dân. Sau khi bị bao vây, khi những gian hàng sang trọng đã đóng cửa từ từ từng cái một, những tiệm ăn nổi tiếng cũng khóa chặt và mấy ông hàng thịt không còn gì trong tủ lạnh, thì chợ trời Haymarket trở nên phát đạt. Vợ các tướng tá đổi dây chuyền hổ phách  lấy vài bao bột mì. Đảng viên cao cấp trả giá với nông dân, họ là  những người mang nông phẩm len lỏi vào được thành phố, ví dụ một bộ đồ cổ bằng bạc đổi được bao nhiêu khoai lang tây. Nếu cuộc mặc cả kèo nài  quá lâu, bọn nông dân sẽ khua tay đuổi khéo dân phố thị và bỏ đi. “Thôi không đổi chác gì nữa, về ăn muỗng nĩa của mấy người đi,” họ sẽ nói như vậy với một cái nhún vai khinh bỉ. Cuối cùng nông dân luôn được giá họ muốn. 

Chúng tôi đi từ sạp hàng này đến sạp hàng khác, nhìn thử đống giày da, vài đôi còn dính máu của những người chủ cũ. Súng trường Tokarev và súng ngắn thì rất rẻ, chỉ cần vài Rubles hay 200 gram bánh mì cũng mua được. Súng Luger và lựu đạn thì đắt hơn nhưng vẫn có thể kiếm được nếu bạn hỏi đúng người. Một sạp hàng bán một ly đất với giá 100 Rubles, người ta gọi là bùn Badayev, đó là đất lấy được từ kho hàng thực phẩm đã bị bom thả  xập, lẫn với đường ngọt đã chảy.

Kolya dừng lại một xập hàng chủ nhân là một người ốm yếu, lưng còng, với cái băng che mắt, ngậm chiếc tẩu thuốc không mồi lửa, bán những chai rượu trắng không dán nhãn.

“Cái gì đây?” Kolya hỏi.

“Vodka.”

“Vodka? Làm bằng gì?”

 “Gỗ.”

“Đó không phải là Vodka, bạn ơi, đó là cồn làm từ gỗ.”

“Có mua hay không?”

“Chúng mình đến đây đâu phải để mua thứ đó,” tôi bảo Kolya, hắn phớt lờ.

“Thứ này làm người ta mù mắt.” Hắn nói với chủ nhân sập hàng.

Người độc nhãn lắc đầu, chán nản với sự kém hiểu biết của hắn, nhưng vẫn cố gắng vớt vát một hy vọng cuối cùng để bán món hàng.

“Hãy lọc qua lớp vải,” ông ta nói. “ 7 lớp vải, sau đó, sẽ an toàn.”

“Nghe như thuốc rượu dành cho thần thánh,” Kolya nói. “Nên gọi nó là ‘7 lớp tội lỗi’. Đó là cái tên hay cho một ngụm rượu.”

“Có muốn mua không?”

“Tôi sẽ mua một chai nếu ông chịu uống với tôi một chút.”

“Còn quá sớm.”

Kolya nhún vai. “Tôi sẽ mua một chai nếu ông chịu uống một hớp. Nếu không, làm sao tin được, chiến tranh làm tôi trở thành đa nghi.”

“200 Rubles một chai.”

“100 Rubles. Cùng uống nhá.”

“Mày đang làm gì vậy?” Tôi hỏi hắn, nhưng hắn không thèm nhìn tôi.

Chàng Độc Nhãn đặt chiếc tẩu lạnh ngắt trên bàn, lấy một ly uống trà, và nhìn quanh quẩn sập hàng để kiếm miếng vải.

“Đây,” Kolya nói, đồng thời đưa ra một chiếc khăn tay trắng. “ Tương đối sạch sẽ.”   

Chúng tôi dòm chàng Độc Nhãn gấp cái khăn 3 lần, phủ trên miệng ly. Hắn rót rượu lên từ từ. Mặc dù ở chỗ trống và gió thổi mạnh, vẫn ngửi thấy giống như mùi thuốc độc, hay mùi thuốc tẩy để lau sàn nhà trong một hãng xưởng nào đó. Chàng Độc Nhãn để cái khăn qua một bên, bây giờ nó bám đầy những chất như bọt xà bông. Hắn cầm ly lên và nhắp một ngụm, rồi đặt lên mặt bàn, nét mặt không hề thay đổi.

Kolya xem xét kỹ mực rượu trong ly để chắc chắn rằng người bán đã uống một chút. Vừa lòng, hắn cầm ly lên và chúc tụng chúng tôi.

“Chúc mừng Mẹ vĩ đại của dân tộc Nga!” Hắn nốc cạn ly rượu làm bằng bột gỗ, đặt mạnh ly lên bàn, chùi mép bằng sống bàn tay, và bịt miệng. Hắn nắm chặt vai tôi để khỏi ngã, mắt mở lớn, nước mắt trào ra.

“Mày đã giết tao,” hắn nói, không thốt nổi thành lời, ngón tay chỉ về phía anh chàng Độc Nhãn.

“Tao không nói mày phải uống nhanh như thế,” hắn trẳ lời, không một chút ngạc nhiên, đặt chiếc tẩu vào miệng. “Một trăm Rubles.”

“Lev…Lev mày còn đó không?” Mặt Kolya hướng về phía tôi, nhưng mắt đờ ra, nhìn thẳng tôi.

“Thật buồn cười, đóng kịch dở quá!”

Kolya cười lớn và đứng thẳng lên. “Không lừa được tên Do Thái, đáng lẽ tao phải biết trước như vậy.  Thôi được. Trả tiền nó đi.”

“Cái gì?”

“Trả đi,” hắn nói, hướng về phía người đàn ông bán hàng. “Trả hắn tiền.”

“Tao làm gì có tiền.”

“Đừng có xạo với tao thằng nhóc.” Kolya gầm lên, nắm chặt cổ áo khoác của tôi và lắc mạnh cho đến khi tôi cảm thấy tất cả khớp xương rung lên kêu lách cách. “Tao là lính Vệ Binh Đỏ và sẽ không tha thứ cho hành động ăn trộm nào!”

Bất thình lình hắn buông tôi ra, thọc tay vào túi áo khoác của tôi, lôi ra những mảnh giấy vụn, một đoạn dây và miếng vải vụn, chả có cái gì giống như tiền cả. Kolya thở dài và hướng về phía người bán hàng.

“Hình như là chúng tôi không có tiền. Chắc phải hủy bỏ cuộc buôn bán thôi.”

Người Độc Nhãn banh áo khoác ra cho chúng tôi thấy cái cán của chiếc dao găm Phần Lan rồi nói: “Mày tưởng mày là lính, thì tao sẽ không xẻ mày ra từng mảnh à?”

“Tao đã có một ly thuốc độc trong bụng rồi, sao không thử đi.”

Kolya mỉm cười và chờ anh chàng trả lời. Chẳng có gì trong đôi mắt xanh của hắn, không sợ hãi, giận dữ, hay kích động của một trận ẩu đả sắp sảy ra – không có tí gì cả. Điều này khiến tôi biết rằng hắn có một đặc ơn Trời cho: Hắn rất bình tĩnh khi đối diện với hiểm nguy. Quanh nó, người ta thường phản ứng với sự kinh hãi bằng thái độ: kiên nhẫn, bấn loạn, giả vờ vui vẻ, hay bao gồm hai trong ba thứ đó. Nhưng tôi tin rằng Kolya chả bao giờ tin tưởng hoàn toàn bất cứ điều nào. Hắn cho rằng chiến tranh thật nực cười: Sự dã man của Tụi Đức, lời tuyên truyền láo khoét của đảng, những viên đạn lân tinh đan xéo nhau chiếu sáng bầu trời đêm. Đối với hắn, tất cả dường như là chuyện của ai khác chẳng dính dáng gì tới hắn, đó là một chuyện chi tiết thậy kinh ngạc mà hắn chẳng may quàng phải và không thể thoát ra được.

“Đi đi kẻo tao cắt cái môi mày ra,” chàng Độc Nhãn kêu lên, gặm cái cán của chiếc tẩu, tay đặt trên cán của con dao găm. Kolya chào và bước qua sập hàng kế, thoải mái và không lo lắng gì cả như thể cuộc trao đổi vừa rồi đàng hoàng và không có gì khúc mắc. Tôi đi theo hắn, tim đập thình thịch trong lồng ngực.

“Này, lo đi kiếm trứng gà thôi nhá,” tôi nói. “Tại sao mày phải đi lòng vòng chọc giận người ta?”

 “Tao cần ngửi nước đái quỷ, tao đã ngửi rồi, bây giờ thấy tỉnh táo trở lại.” Hắn hít vào thật sâu và thở ra với đôi môi mím lại, ngắm hơi nước bay cao lên không trung. “Hai chúng mình đáng lẽ đã chết tối qua. Mày có hiểu không? Mày có hiểu chúng ta đã rất may mắn không? Nên hãy cứ vui sống thoải mái.”

Tôi dừng lại bên xập hàng của một mụ già nhà quê, quấn chiếc khăn trên đầu, bán mấy miếng thịt tái xám. Kolya và tôi nhìn chăm chú vào miếng thịt, tương đối còn tươi, lóng lánh mỡ, nhưng chúng tôi chẳng cần biết thịt gì.

“Bà có trứng gà không?” Tôi hỏi bà già.

“Trứng gà?” Nghiêng mình về phía trước để nghe cho rõ. “Đã hết từ tháng 9 đến giờ.”

“Chúng tôi cần một tá,” Kolya hỏi, “và sẽ trả giá cao.”

Bà già nói “Dù tụi bay có thể trả 1 triệu Rubles, cũng  không có trứng trong thành phố Piter.”

“Ở đâu có?”

Bà ta nhún vai, những nếp nhăn hằn sâu trên mặt giống như được khắc vào đó. “ Tôi có thịt, nếu muốn mua, 300 hai miếng. Không có trứng.”

Chúng tôi đi từ sập hàng này qua sập hàng khác, hỏi xem có trứng không, nhưng không một ai trong Haymarket thấy một quả trứng nào từ tháng 9. Một vài người đưa ra giả thuyết nơi nào có thể tìm được trứng như là một vài sỹ quan cao cấp được cung cấp từ Mạc Tư Khoa bằng máy bay; nông dân ở ngoài thành phố cung cấp cho tụi Đức, cùng với bơ và sữa tươi, để đổi lấy mạng sống; một lão già sống gần khu vực Narva Gate nuôi gà trong chuồng đặt trên sân thượng. Tin đồn cuối cùng này nghe vô lý quá, nhưng thằng nhóc cung cấp tin cho chúng tôi quả quyết đó là sự thật.

“Giết con gà, may ra sống được một tuần. Nếu bạn giữ nó, mỗi ngày một quả trứng, cộng thêm với khẩu phần hàng ngày, bạn có thể sống đến mùa hè.”

“Phải cho gà ăn nữa chứ,” Kolya nói. “Ai có thức ăn cho gà?”

Một thằng nhỏ với mái tóc đen quăn tít rủ ra ngoài chiếc mũ Thủy Thủ của hải đội Hoàng Gia, lắc đầu như thể nghe một câu hỏi rất đần độn.

“Gà ăn bất cứ cái gì. Một muỗng mạt cưa, nó chỉ cần có nhiêu đó thôi.”

Thằng nhóc bán thứ mà người ta gọi là kẹo thư viện, làm bằng cách xé cái bìa cuốn sách, gỡ keo dán gáy sách, nấu ra rồi làm thành từng thanh nhỏ cuốn trong giấy. Ăn giống như sáp, nhưng có chất đạm trong keo dán sách, chất đạm nuôi sống con người, và sách trong thư viện thành phố biến mất như chim bồ câu.

“Mày nhìn thấy mấy con gà đó?” Kolya hỏi nó.

“Em tôi thấy, ông già ngủ trong chuồng ban đêm với cây súng săn. Mọi người trong tòa nhà đó đều muốn ăn cắp gà của lão.”

Kolya nhìn tôi và tôi lắc đầu. Thời bị Đức bao vây chúng tôi đều nghe cả chục chuyện bất khả tín khác nhau trong ngày, chuyện một ông hàng thịt bí mật cất dấu những đùi thịt bò đông lạnh, chuyện những chiếc tủ lạnh đựng đầy hộp trứng cá caviar và xúc xích bê. Luôn luôn là anh, em hay con cô cậu của một người nào đó đã nhìn thấy mấy cái kho tàng này. Người ta tin vào những câu chuyện đó vì nó hợp với lòng tin vững chắc rằng có một số người, ở một nơi nào đó, ăn uống phủ phê trong khi  dân trong thành phố thì chết đói. Và dĩ nhiên họ luôn luôn đúng – Con gái Đại Tá có thể không  ăn ngỗng quay mỗi ngày, nhưng chắc chắn là có ăn bữa tối no đủ mỗi ngày.

“Lão già không thể ở trong chuồng gà cả ngày đêm,” tôi bảo với thằng nhóc. “Ông ta phải đi lãnh khẩu phần. Ông ta phải đi lấy nước và dùng nhà vệ sinh. Có khi người nào đó đã ăn cắp mấy con gà của lão từ lâu rồi.”

“Lão già tiểu trên mái nhà, tôi không biết nó ra phía bên kia lúc nào, nhưng có thể lão nuôi gà như thế đó.”

Kolya gật đầu, cảm phục lối nuôi gà của lão, nhưng tôi tin rằng thằng bé đặt chuyện ra thôi.

Thình lình Kolya hỏi tôi, “lần cuối mày đi cầu là lúc nào?”

“Không nhớ. Chắc cách nay một tuần?”

 “Còn tao thì đã 9 ngày rồi. Tao đếm mỗi ngày. 9 ngày! Chừng nào đi được tao sẽ mở tiệc ăn mừng và mời những cô sinh viên đẹp nhất của trường Đại Học đến dự.”

“Mời con gái Đại Tá nữa chứ.”

“Tao sẽ mời, đương nhiên rồi. Tiệc ăn mừng đi cầu của tao chắc chắn sẽ hơn tiệc cưới cô nàng đang sửa soạn.”

“Bánh mì khẩu phần đi cầu làm đau đít.” Thằng nhỏ tóc quăn góp ý, “ba tôi nói họ cho toàn cellulose.”

“Mình tìm lão già với bầy gà ở đâu bây giờ?”

“Tôi không biết địa chỉ. Nếu anh đi về hướng Đại lộ Stachek từ Narva Gate, anh sẽ đi ngang một tòa nhà có tấm bích chương vĩ đại của Zhdanov (37) dán trên tường, lão ở đó.”

Tôi hơi bực mình, nói với Kolya “Có đến nửa thành phố dán hình Zhdanov trên tường, chúng ta phải cuốc bộ 3 cây số để tìm mấy con gà không bao giờ có.”

Hắn vỗ vai thằng nhóc và nói, “nó  không nói dối đâu. Nếu không, chúng mình trở lại bẻ gẫy hết mấy ngón tay của nó. Nó biết tụi mình là mật vụ NKVD mà.” Thằng bé trả lời “Các anh không phải là mật vụ NKVD.” Kolya móc lá thư của Đại Tá trong túi áo khoác ra và phát trên má thằng nhóc.

“Này xem đây, lá thư của Đại Tá Mật Vụ NKVD cho phép cho chúng tao đi tìm trứng gà. Mày nghĩ sao đây? ”

“Anh còn một lá thư khác của Stalin, cho phép cho anh chùi đít cho sạch phải không?” 

“Trước hết Ổng ấy phải cho phép tao đi ỉa cái đã.”

Tôi không ở lại lâu để nghe hết lời đối đáp. Nếu Kolya muốn lang thang khắp thành phố để kiếm mấy con gà hoang đường ấy, đó là việc của hắn, nhưng mà trời sắp tối rồi, tôi chỉ muốn về nhà thôi. Tôi đã không chợp mắt hơn 30 tiếng đồng hồ rồi. Tôi quay đầu đi về phía khu chung cư Kirov và cố nhớ xem  tôi đã dấu bao nhiêu bánh mì dưới mấy miếng gạch trong nhà bếp. May ra con bé Vera có gì cho tôi. Cô bé đã nợ tôi khi cô ta chạy mất biệt không hề quay đầu lại, mặc dù tôi vừa cứu cô ta.  Có thể cô nàng và tụi nhóc đó nghĩ là tôi đã chết rồi. Tôi tự hỏi không biết cô ta đã phản ứng ra sao, có khóc không? có úp mặt vào ngực thằng Grisha khi hắn an ủi cô, hay đẩy hắn ra xa, giận dữ, vì chính hắn đã bỏ cô ta, chạy mất tiêu, trong khi tôi ở lại và cứu cô ta khỏi bị tử hình. Và chắc là Grisha đã nói, “Tôi biết, tôi biết, tôi là đồ hèn nhát, tha lỗi cho tôi,” và dĩ nhiên cô nàng tha lỗi cho hắn vì nàng luôn luôn làm như vậy, rồi Grisha lau nước mắt cho ả, và nói chúng nó không bao giờ quên tôi và sự hy sinh của tôi.  Nhưng mà chúng sẽ quên thôi, trong vòng một năm là cùng, chẳng đứa nào hình dung ra mặt mũi tôi ra sao.

“Ê thằng nhỏ kia, mày là đứa đi tìm trứng phải không?”  

Đang bị ám ảnh với những ý nghĩ bi phẫn hoang tưởng, mất một hồi, tôi mới biết là có người đang hỏi tôi. Tôi quay lại, thấy một anh chàng khổng lồ, râu ria xồm xoàm, nhìn tôi chăm chăm, hai tay khoanh trước ngực, gập tới, gập lui trên gót đế giày. Hắn là người khổng lồ to lớn nhất tôi chưa từng thấy, cao hơn và ngực nở nang hơn Kolya nhiều. Chỉ hai cái tay không của hắn cũng đủ đập bể cái sọ tôi như đập bể trái hồ đào. Râu ria hắn dầy, đen và bóng như được bôi mỡ. Tôi tự hỏi không biết bao nhiêu đồ ăn mới đủ cho hắn mỗi ngày, làm sao hắn còn giữ được đầy đủ bắp thịt trên người.

“Ông có trứng gà?” Tôi hỏi ông ta, mắt nhấp nháy nhìn lên.

“Mày có gì đổi lại?”

“Tiền. Chúng tôi có tiền, chờ một tí, để tôi kiếm thằng bạn đã.”

Tôi chạy lại về Haymarket. Lần đầu tiên từ khi gặp Kolya, tôi thật vui mừng nhìn thấy cái đầu tóc vàng của nó. Hắn vẫn còn tán dóc với thằng nhóc tóc soăn, có thể đang tả lại giấc mơ vẻ vang về vụ đi cầu.

“Ô kìa, thằng nhóc đây rồi! “ hắn la lên mừng rỡ khi thấy tôi. “Tao tưởng mày đã bỏ tao đi rồi.”

“Có một tên nói rằng hắn có trứng gà.”

“Tuyệt vời!” Kolya quay lại nói với thằng bé. “Nhóc con, rất hân hạnh nói chuyện với mày.”

Chúng tôi đi trở lại chỗ hồi nãy, ngang qua những sập hàng, bây giờ đã khóa chặt vì trời sắp tối. Kolya trao cho tôi một viên kẹo thư viện còn bọc trong giấy.

“Này bạn hiền, tối nay chúng ta ăn tiệc lớn.”

“Thằng nhóc đó cho mày?”

“Cho tao? Nó bán cho tao thì có.”

“Bao nhiêu?”

“Hai cái 1 trăm.”

“1 trăm?” Tôi nhìn hắn đang bóc giấy kẹo và cắn một miếng, nhăn mặt thưởng thức mùi vị. “Rồi, mình còn lại 300 phải không?”

“Đúng vậy, tính toán như thần, đáng khâm phục.”

“Tiền đó để mua trứng.”

“Nào, nếu không có gì trong bụng thì làm sao mình có thể đi tìm trứng được.”

Gã râu rậm đứng chờ chúng tôi bên cạnh Haymarket, vẫn khoanh tay trên ngực. Ông ta đánh giá Kolya khi chúng tôi lại gần, như những tay võ sĩ quyền anh lượng sức đối thủ khi lên đài.

“Chỉ hai đứa mày thôi à?”

“Chứ ông cần bao nhiêu người?” Kolya trả lời, cười với gã khổng lồ. “Tôi nghe nói ông bán trứng gà?”

“Tao bán mọi thứ. Mày trả tao bằng cái gì?”

“Chúng tôi có tiền,” tôi nói, tin chắc là chúng tôi đã bàn bạc về vấn đề này rồi.

“Bao nhiêu?”

“Đủ thì thôi,” Kolya nói. “Chúng tôi cần một tá.”

Gã râu rậm huýt gió. “Tụi bay thật may mắn, tao chỉ còn đúng 1 tá.”

 “Mày thấy không?” Kolya vừa nói vừa bóp vai tôi. “Có khó khăn gì đâu.”

Gã khổng lồ băng qua đường, “đi theo tao.”

“Đi đâu vậy?” Tôi hỏi trong khi vẫn bước theo.

“Tao cất mọi thứ trong nhà. Ngoài này không an toàn. Cứ vài ba ngày đám lính tráng lại tới, chúng lấy mọi thứ, ai nói lôi thôi chúng bắn tuốt. “

“Phải rồi, lính tráng họ ở ngoài kia đánh quân thù để bảo vệ thành phố,” Kolya nói. “Họ không thể chiến

 đấu nếu chẳng có gì trong bụng.”

Gã khổng lồ liếc chiếc áo khoác lính của Kolya và đôi giày trận.

“Còn cậu tại sao không bảo vệ thành phố?”

“Tôi có nhiệm vụ đặc biệt cho Đại Tá, ông không cần phải quan tâm.”

“Ông Đại Tá này ra lệnh cho cậu và thằng bé kia nhiệm vụ tìm trứng gà, thế thôi sao?” Gã khổng lồ cười rộn rã chế diễu chúng tôi. Chiếc răng của hắn sáng lóng lánh như hột xí ngầu chưa khắc số nổi lên giữa đám râu ria đen xì. Hắn chẳng tin Kolya, dĩ nhiên, ai mà tin được?

Chúng tôi đi bộ dọc theo con kinh Fontanka đã đóng băng, mặt nước đá bừa bãi những xác chết vô thừa nhận, có nhũng xác được tẩm liệm và cột đá cho chìm xuống, những xác khác đã bị lột hết quần áo ấm, mặt trắng dã ngó lên bầu trời nhá nhem tối. Gió nổi lên, lại bắt đầu một đêm nữa và tôi nhìn xác người đàn bà gió thổi mái tóc vàng óng bay vắt ngang qua mặt. Nàng chắc đã hãnh diện về mái tóc của mình, chăm sóc gội một tuần hai lần, chải cẩn thận 20 phút trước khi đi ngủ. Bây giờ mái tóc đang cố gắng che chở cho nàng, dấu bộ mặt đang tàn rữa của nàng khỏi những cái nhìn xa lạ.

Gã khổng lồ dẫn chúng tôi tới một tòa nhà gạch 5 tầng, tất cả cửa sổ được che kín bằng ván ép. Tấm bích chương vĩ đại cao hai tầng lầu vẽ bà mẹ trẻ đang ẵm đứa con đã chết, đi ra từ một tòa nhà đang bốc cháy. Hàng chữ viết: “HÃY GIẾT HẾT NHŨNG KẺ SÁT NHÂN”. Lấy chìa khóa từ trong túi áo khoác, gã khổng lồ mở cửa và chờ chúng tôi vào nhà. Tôi kéo tay áo Kolya trước khi hắn kịp bước qua ngưỡng cửa.

“Sao ông không mang trứng xuống đây?” tôi hỏi gã khổng lồ.

“Tao biết cách buôn bán nên mới còn sống. Và tao không buôn bán trên đường phố.”

Tôi cảm thấy sợ đến thót dái lên, nhưng sinh ra và lớn lên trong thành phố Piter, tôi không phải là thằng ngốc, tôi cố gắng giữ giọng nói bình thản.

”Tôi không buôn bán với người lạ trong chung cư của hắn.”

“Bình tĩnh, bình tĩnh nào.”  Kolya cười toe toét. “Không cần phải nghi ngờ nhau. Một tá trứng gà thôi mà, cho giá đi.”

“Một ngàn.”

“Một ngàn Rubles? Cho một tá trứng gà?” tôi cười. “ Chắc là trứng Fabergé (38).”

Gã khổng lồ vẫn còn giữ cửa mở, nhìn xuống tôi vẻ bực bội. Tôi im ngay.

“Người ta bán một ly đất ở đàng kia 100 rubles,” hắn nói với tôi. “Cái nào tốt hơn, một ly đất hay một quả trứng gà?”

“Nghe đây,” Kolya nói, “ông có thể đứng đây trả giá với chú nhỏ Do Thái của tôi, hay chúng ta nói chuyện đàng hoàng. Chúng tôi chỉ có 300 Rubles thôi, bán không?”

Gã khổng lồ vẫn nhìn tôi trừng trừng. Hắn chẳng thích tôi từ đầu, bây giờ hắn lại biết tôi là người Do Thái, tôi có thể thấy hắn muốn lột da mặt của tôi ra. Hắn đưa đôi tay hộ pháp ra trước mặt Kolya ra dấu đòi tiền.

“A, không được, cái này tôi phải đồng ý với bạn tôi,” Kolya nói  vừa lắc đầu. “Trước hết, đưa trứng ra rồi sẽ có tiền.”

“Tao không mang ra đây được. Mọi người đều đói và mọi người đều có súng.”   

 “Ông to khủng khiếp như vầy mà nhát thế.” Kolya chế diễu hắn.

Gã khổng lồ nhìn Kolya với chút tò mò, như thể ông ta không tin mình vừa nghe lời chế diễu từ miệng hắn. Cuối cùng ông ta cũng cười nhe hàm răng trắng nhởn như những hột xí ngầu.

“Có một người đàn ông chết úp mặt dưới kia”, ông ta nói vừa hất cằm về phía con kinh Fontanka. “Không phải vì đói, không phải vì lạnh. Sọ của hắn bị đập bằng một cục gạch. Tui bay muốn hỏi tại sao tao biết phải không?”

“Tôi hiểu ý ông,” Kolya nói, có vẻ rất đồng ý. Gã khổng lồ nhập vào bóng tối trong đại sảnh của tòa nhà. “Để chiếm được đồ quý giá, dùng viên gạch là nhanh nhất.”

Kolya đập nhẹ trên lưng tôi và bước vào bên trong.

Với kinh nghiệm bản thân, có cái gì giục tôi hãy chạy nhanh đi. Tên khổng lồ này đang dẫn chúng tôi vào cái bẫy. Nó chả vừa tự thú rằng nó là kẻ sát nhân đó sao. Còn Kolya lại dại dột cho nó biết hắn có bao nhiêu tiền trên người. Chẳng là bao nhiêu, nhưng vẫn là 300 Rubles và 2 thẻ khẩu phần – mà tên không lồ tin rằng chúng tôi còn giữ - vào những ngày đó thì  cũng đủ để bị giết rồi.

Nghĩ cho cùng, chúng tôi có còn lựa chọn nào khác đâu? Đi về Narva Gate để tìm lão già trong truyền thuyết với cái lồng gà của lão? Chúng tôi đã mạo hiểm bước vào tòa nhà, nhưng nếu không kiếm ra trứng cho sớm, chúng tôi cũng chết thôi.

Tôi bước theo Kolya. Cửa chánh đóng lại sau lưng. Bên trong tối thui, không đèn đóm gì cả chỉ còn chút ánh sáng yếu ớt còn sót lại của một ngày sắp tàn, lọt qua mấy kẽ hở của tấm ván ép che cửa sổ. Tôi nghe tên khổng lồ bước phía sau tôi, và tôi quỳ gối xuống sẵn sàng rút con dao găm ra.  Nó bước qua tôi và leo nhanh lên cầu thang, nhảy từng hai bậc. Kolya và tôi nhìn nhau. Khi tên râu rậm vuột khỏi tầm mắt, tôi rút con dao Đức ra ngay và dấu vào túi áo khoác. Kolya nhướng mày, có thể là khâm phục  hành động của tôi, cũng có thể  chế diễu tôi. Chúng tôi bước lên thang lầu, từ từ từng bậc một, nhưng vẫn thở hổn hển khi lên tới lầu hai.

“Ông lấy trứng ở đâu?” Kolya hỏi tên khổng lồ, hắn đã ở trên chúng tôi một tầng thang chẳng khó khăn gì. Hắn và con gái Đại Tá là 2 người khỏe mạnh nhất trong thành phố mà tôi thấy trong mấy tháng nay. Tôi tự hỏi không biết hắn lấy khí lực ở đâu ra.

“Tôi biết một nông dân làm trong nông trại gần Mga.”

“Tôi tưởng tụi Đức đã chiếm Mga rồi.”

“Đúng. Tụi Đức cũng thích trứng gà của người nông dân. Chúng nó đến nông trại mỗi ngày và lấy hết trứng, nhưng bạn tôi vẫn dấu được một ít. Không dấu được nhiều sợ chúng biết.

Gã khổng lồ ngừng ở lầu 4 và gõ trên cửa.

“Ai đó?”

“Tôi đây,” hắn trả lời. “Với lại hai khách hàng.”

Tôi nghe tiếng then cửa kéo ra và cửa mở. Một mụ đàn bà đội chiếc mũ lông của đàn ông và mang chiếc tạp dề hàng thịt dính đầy máu nháy mắt với tôi và Kolya, trong khi chùi mũi bà ta bằng lưng bàn tay có mang bao.

Kolya hỏi “Tôi không biết làm sao ông có thể giữ cho trứng khỏi đông đá, bởi vì tôi sợ rằng chúng tôi không dùng trứng đông đá được.”

Mụ đàn bà nhìn Kolya như thể nó vừa nói tiếng Nhựt Bổn.

“Chúng tôi giữ trứng gần ấm nấu nước,” tên khổng lồ trả lời. “Thôi nhanh lên, cho xong chuyện đi.”

Gã ra dấu cho chúng tôi vào nhà. Mụ đàn bà im lặng bước qua một bên nhường lối đi, Kolya bước ngay vào, không lưỡng lự gì cả, nhìn quanh mỉm cười, như thể hắn vừa được mời vào nhà của người bạn gái mới quen. Tôi chần chừ ngoài cửa cho đến khi gã khổng lồ đặt tay lên vai tôi. Thực sự hắn không đẩy, nhưng với bàn tay hộ pháp của hắn, nào có khác gì. Với ngọn đèn dầu trong căn phòng chung cư nhỏ xíu, bóng người in ngoằn nghoèo trên tường, ngang qua tấm thảm xần xùi trên nền nhà, cái ấm đun nước bằng đồng ở góc nhà, và một khăn trải giường màu trắng treo phía xa cuối phòng  - tôi đoán có lẽ ngăn làm phòng ngủ. Khi gã khổng lồ đóng cửa lại, tấm khăn trắng rung lên như phần dưới của chiếc váy đàn bà tốc lên trong gió. Trong một thoáng trước khi tấm khăn trắng đứng yên, tôi nhìn thấy những gì phía trong đó – không phải giường ngủ, không có bàn ghế gì hết, chỉ là những mảng thịt trắng hếu, treo trên nhũng cái móc, máng lên cái ống sưởi bằng những sợi dây sắt, mấy tấm nylon trải trên sàn nhà để hứng máu rơi. Trong một tích tắc, tôi nghĩ đó là thịt heo, có thể cái đầu tôi cố thuyết phục hai con mắt tôi rằng cái nó đang nhìn thấy không phải là sự thật: Cái đùi đã lột da chỉ có thể là cái đùi người đàn bà, cái sườn của đứa bé, một cánh tay bị cắt mất ngón đeo nhẫn.

Con dao găm đã nằm trong tay tôi trước khi nghĩ rằng mình cần tới – có cái gì chuyển động phía sau tôi và tôi phóng tới, rạch một đường, cố hét lên nhưng không thành lời gì, cổ họng tắc nghẽn. Tên khổng lồ kéo ra một đoạn ống sắt dài khoảng hai gang tay từ trong áo khoác; hắn nhảy ra xa khỏi tầm tay của tôi, nhanh hơn bất kỳ một người to lớn như hắn có thể làm được, tránh né mũi dao găm một cách dễ dàng.

Mụ vợ lôi ra từ trong túi tạp dề một con dao chặt thịt to bản. Mụ rất nhanh nhẹn, nhưng Kolya lại là kẻ nhanh nhất, hắn xoay người bằng chân sau và đấm một cú tay phải vào hàm, khiến mụ đổ nhào trên sàn nhà.

“Chạy nhanh lên” Kolya la to.

Tôi phóng vội ra, tưởng rằng cửa đã khóa, nhưng không, tôi cũng nghĩ rằng cái ống sắt sẽ bổ nát đầu tôi, nhưng cũng không; và tôi đã ra ngoài hành lang, chạy vọt xuống cầu thang, phóng xuống gần như hết cả những bực thang rồi đáp xuống bên dưới. Tôi nghe một tiếng la rất lớn giận dữ không thành lời của tên khổng lồ và tiếng thình thịch của đôi giày đinh dưới chân hắn, nện trên sàn nhà khi hắn chạy ngang căn phòng. Tôi ngừng lại, tay vẫn nắm thành cầu thang, không kịp thở, không muốn chạy xa hơn nữa, không thể nào trèo trở lại căn chung cư của đứa ăn thịt người. Tôi nghe một tiếng vang khủng khiếp của một cây sắt đập trên sọ người hay sàn nhà.

Tôi đã phản bội Kolya, bỏ rơi hắn khi hắn không có vũ khí trong tay, trong khi tôi có con dao thật tốt. Tôi cố gắng bắt đôi chân tôi di chuyển, mang tôi trở lại bãi chiến trường, nhưng tôi run đến nỗi không thể kềm chế cánh tay cầm dao của tôi. Lại thêm nhiều tiếng hét nữa, thêm tiếng chạm của ống sắt trên cái gì không biết? Những mảnh vụn rớt từ trần nhà trên đầu tôi. Tôi đứng hèn nhát trên cầu thang, cố tin rằng Kolya đã chạy mất rồi, tin rằng tôi không thể nào chạy nhanh để thoát khỏi bàn tay tên khổng lồ - Vợ hắn sẽ xẻo tôi ra bằng vài nhát dao chuyên nghiệp với con dao nặng nề của mụ, chẳng bao lâu những phần thân thể tôi sẽ bị treo lên sợi dây xích sắt khi những giọt máu cuối cùng nhỏ trên miếng plastic.

Tiếng la hét vẫn tiếp diễn, bức tường rung lên, Kolya chưa chết. Tôi cầm con dao bằng hai tay, và bước lên cầu thang một bước. Tôi có thể lẻn vào căn chung cư trong khi tên ăn thịt người không để ý, đâm con dao vào lưng hắn – nhưng lưỡi dao hình như quá mỏng manh, quá nhỏ để giết tên khổng lồ. Có thể làm hắn xây xát chút đỉnh, chảy một chút máu, và có thể hắn sẽ quay lại tóm lấy mặt tôi, móc mắt tôi ra khỏi sọ.

Tôi bước thêm một bước nữa, và Kolya văng ra khỏi căn chung cư, đôi giày của hắn trợt trên nền nhà, thiếu chút nữa hắn đã vượt qua cầu thang. Hắn quay trở lại, phóng xuống cầu thang, nắm cổ áo tôi và kéo tôi theo.

“Chạy nhanh, thằng khờ! Chạy lẹ.”

Chúng tôi chạy, và mỗi khi tôi khựng lại hay gần vấp té một chỗ trơn trợt, bàn tay của Kolya luôn sẵn sàng đỡ tôi lấy lại thăng bằng. Tôi nghe tiếng la hét trên đầu, nghe thân hình nặng nề khủng khiếp nện từng bước phía sau chúng tôi, nhưng tôi không hề nhìn lại, và chưa bao giờ chạy nhanh như thế. Giữa lúc kinh hoàng đó, những tiếng la hét, những bước chân nặng nề, những tiếng chát chúa của đế giày chúng tôi trên sàn gỗ, còn có cái gì khác, rất quái lạ. Kolya đang cười vang.

Chúng tôi thoát theo cửa chính ra ngoài đường đêm tối đen, những tia sáng vô định của đèn pha phòng không đã đan chéo vào nhau trên bầu trời. Lề đường vắng tanh; không thấy ai quanh đó có thể giúp chúng tôi được. Hai đứa tôi chạy ra giữa đường, vượt nhanh qua 3 dãy phố thỉnh thoảng quay lại nhìn xem tên khổng lồ có đuổi theo sau không, chẳng thấy hắn đâu, nhưng cũng không dám chậm lại chút nào. Cuối cùng, thấy một chiếc xe quân đội chạy tới, chúng tôi chặn lại và đưa hai tay lên cao khiến người tài xế phải đạp thắng gấp, bánh xe trợt trên mặt đường đóng băng. “Tránh ra, mấy thằng chết tiệt!” Người tài xế la to.

“Đồng chí Sĩ Quan,” Kolya nói một cách bình tĩnh, tay dơ cao, vô cùng  quả quyết, “Có tụi ăn thịt người trong tòa nhà đàng kia. Chúng tôi mới chạy thoát từ đó ra.”

“Tòa nhà nào cũng có tụi ăn thịt người cả” người tài xế nói. “Chào mừng quý vị tới Leningrad. Bây giờ tránh ra!”

Một giọng nói khác từ trong xe, “Chờ một chút.” Một Sĩ Quan bước ra. Ông ta giống như một giáo sư toán học hơn là một quân nhân, với bộ ria mép muối tiêu tỉa gọn gàng, cái cổ mong manh. Ông ta quan sát quân phục của Kolya rồi nhìn thẳng vào mắt hắn. 

“Tại sao cậu không ở tại trung đoàn của cậu?” Ông ta hỏi.

Kolya móc bức thư của Đại Tá và trao cho vị Sĩ Quan. Tôi thấy thái độ của ông ta thay đổi. Ông gật đầu và ra dấu cho chúng tôi lên xe.

“Chỉ đường.”

Năm phút sau tôi và Kolya bước vào căn chung cư của hai tên ăn thịt người, lần này có 4 lính bảo vệ, họ chĩa súng trường Tokarev vào các góc nhà. Mặc dầu đứng giữa đám lính trang bị súng ống, sự sợ hãi gần như nhận chìm tôi. Khi tôi nhìn bộ xương sườn treo lủng lẳng trên sợi dây xích, cái đùi  và cánh tay đã bị lột da, tôi chỉ muốn nhắm mắt lại và không bao giờ mở ra nữa. Kiên cường như những người lính, thường quen mang những xác chết tan ra từng mảnh của đồng đội ngoài chiến trường, thế mà họ cũng phải quay mặt không dám nhìn sợi dây xích lắc lư.   

Tên khổng lồ và vợ hắn đã trốn mất, Chúng bỏ lại tất cả, ngọn đèn dầu vẫn còn sáng, bình nấu trà vẫn còn nóng, nhưng chúng đã chạy mất trong đêm tối. Người sĩ quan lắc đầu, đảo mắt chung quanh căn phòng. Những lỗ hổng trên tường mở ra toang hoác do thanh sắt đánh phải, giống như những chiếc miệng đang ngáp. “Chúng ta ghi tên vợ chồng chúng nó vào danh sách, tịch thu thẻ khẩu phần, mọi thứ, nếu bắt được chúng, chẳng qua là chó ngáp phải ruồi thôi. Không có mấy cảnh sát thời buổi này nữa đâu.”

“Chúng sẽ ẩn nấp ở chỗ nào?” Kolya hỏi. “Hắn là thằng khốn kiếp to con nhất trong thành phố Piter.”

Một người lính nói “Vậy thì mày cầu mong là mày thấy nó, trước khi nó thấy mày” trong khi rờ ngón tay vào cạnh tả tơi của lỗ hổng lún trong tường.

 

Xem tiếp chương 6

 

 


Joomla Hosting and Maintenance by Cybersalt

Copyright © 2014-2026. VietVancouver, All rights reserved

  • Số Lượt Truy Cập 2519504