Chưa đẩy hết cánh cửa vào trong thì tiếng cô con gái đã um sùm:

- Má lại cho mấy con chim ăn làm chi để tòa nhà họ gởi thư cảnh báo hoài vậy, còn gắn giấy ghi tên má trước cửa nữa đây này. Má thôi đi. Làm theo những gì họ hướng dẫn khi sống ở đây, để họ nhắc hoài họ lấy lại nhà đó

Bà chỉ ậm ừ, biết rồi. Cô gái vẫn chưa thôi cằn nhằn:

-Tụi nó không có chết đói đâu mà má lo. Có lý do họ mới không muốn con người rải thức ăn khắp nơi cho chim thú. Là họ tôn trọng tự nhiên đó má

Cái gì mà tôn trọng. Bà nghĩ. Chỉ là ít cơm thừa mỗi ngày thì ảnh hưởng gì đến tự nhiên! Thức ăn đem đổ bỏ mang tội với trời đất, đổ bỏ khi giống loài khác không có ăn thì càng mang tội. Bà không hiểu được lý lẽ của họ, cũng không cãi được nhưng tìm cách làm theo ý mình. Sáng bà dậy sớm khi cả khu nhà còn đang ngủ bà mở cửa sổ rải cơm với rau củ băm nhỏ xuống mảnh vườn bên dưới. Mà đám quạ khôn lắm. Chỉ sau lần đầu tiên thấy bà cho thức ăn là chỉ cần nghe tiếng cửa sổ kéo ra chúng đã sà xuống đi qua đi lại đợi bà. Mấy con sóc thường ăn sau khi lũ quạ đi khỏi. Con vật còn biết tìm tới chỗ có miếng ăn. Mình ăn không hết san sẻ cho tụi nó thì mắc gì cấm. Tưởng chỉ có bà và chúng nó biết giờ giấc của nhau nhưng rồi quản lý tòa nhà thấy đám chim chỉ tụ lại dưới cửa sổ phòng bà, gởi email nhắc nhở cô con gái.

Con gái bà không chỉ nhức đầu về chuyện bà cho chim ăn. Thỉnh thoảng cô nhận email nhắc nhở của quản lý tòa nhà về mấy việc linh tinh khác. Như việc bà trồng cả bắp trong ô đất được phân cho bà. Quy định là chỉ được trồng hoa và các loại cây rau thấp ngọn. Bà vốn nông dân, có tay trồng trọt, ô đất nhỏ xíu bà cũng trồng được đủ loại rau trái. Nhà nào không trồng gì bà hỏi xin để bà làm thành cả một khu vườn có hoa có rau củ, nổi hứng trồng cả vạt bắp. Cái xứ gì mà cây cối dễ trồng, dễ tươi tốt. Mấy cây bắp lớn nhanh che lút đầu bà, che luôn mấy vạt hoa của người khác. Vậy là bà lại bị cảnh cáo. Rồi có chuyện cười ra nước mắt. Bà không biết tiếng Tây tiếng Tàu gì gặp ai cũng dúi vào tay họ một bịch rau củ bà vừa thu hoạch. Người hiểu được ý bà cảm ơn rối rít, người e dè từ chối bà không được đi báo với quản lý kêu bà đừng làm phiền. Con gái sau giờ làm lại chạy lên khuân hết về nhà nó, ăn không hết thì nó đem bỏ thùng rác, bà không tự tay bỏ được. Cũng có lúc thấy mẹ tù túng, những đứa con tính thuê nhà ra ngoại ô cho bà có mảnh vườn tự do trồng trọt, chăm sóc nhưng tính tới tính lui cũng để bà ở trong khu housing trung tâm tiện bề chăm sóc. Người già ở một mình nhiều bất trắc. Bà chẳng chịu ở chung với đứa nào. Cằn nhằn mẹ chớ đứa nào cũng biết chẳng thay đổi được bà, bị kêu réo là chạy tới xin lỗi người ta rồi đâu lại vào đó…

Riết rồi bà cũng chấp nhận mấy cái chuyện mà theo bà là ngược đời ngược đạo như vậy. Nhưng không loay hoay với mấy khoảnh đất nhỏ đó bà biết làm gì cho hết ngày. Theo chồng con qua đây bà hoàn toàn lệ thuộc vào họ. Cái ngày mới qua, bà 55 tuổi, lẽ ra bà nên học tiếng Anh, học một cái nghề, học lái xe rồi đi làm, rồi hòa nhập thì đâu có như bây giờ. Nhưng ngày đó bà khô héo gầy guộc như một bà lão 70, cả nhà không muốn bà làm gì để bù lại những năm tháng bà một mình bươn chải gồng gánh gia đình qua cơn đói khổ. Trong mắt chồng con, xóm giềng bà là cường nhân mới nuôi sống được cả gia đình qua hơn 10 năm khốn khó đoạ đày sau 1975. Mà có bà vợ, bà mẹ nào của “nguỵ quân, nguỵ quyền” không là cường nhân! Bà tựa vào chồng con với niềm hạnh phúc viên mãn. Tưởng tốt hóa ra lại khiến chặng đời sau này của bà chỉ biết quanh quẩn trong nhà, nói chuyện với chồng con, chơi với mấy đứa cháu.

Nhưng chuyện của bà cũng chỉ là những câu chuyện xưa cũ, là quá khứ ở quê nhà đã xa lơ xa lắc. Thương bà, những đứa con ngồi nghe. Mà lúc đó mới qua đứa nào cũng lạ lẫm với nơi mới, cũng nhớ quê nên muốn ngồi nghe. Bên này vào hè thì bà kể chuyện mùa hạn năm nào đó ở quê đồng ruộng khô nứt lọt cả bàn chân con nít, giếng làng cạn khô nước, nửa đêm dậy đi vét nước giếng bằng gàu mo cau mà sợ ma, phải lay con nhỏ dậy đi cùng. Bên này tuyết rơi mịt mù thì bà nhớ những mùa đông không áo ấm, thạp gạo không còn hột nào. Thấy có mưa, bà nhớ những mùa lụt không ra làm đồng được, kêu thằng con đặt cái lờ kiếm con cá rô, đứa khác thì chạy theo ông Bốn xin kéo ké vài lượt rớ kiếm mớ cá cấn về kho lá nghệ non sẵn trong vườn. Những chuyện buồn nhiều hơn vui cũng thành nỗi nhớ nhung khôn xiết của bà. Kho chuyện làng xưa xóm cũ của bà chưa bao giờ vơi, chạm vào cái này là nhớ cái kia… Nhưng đời sống bận rộn với bao khó khăn để hoà nhập chốn mới khiến con cái chẳng đứa nào dành nổi thời gian cho những câu chuyện của bà nữa. Khi chồng không còn bên cạnh, con cháu bận rộn với đời sống riêng và thực tế thì ai rồi cũng khác, bà càng ngày càng thấy trống trải. Chúng nó đâu còn xót xa thương mẹ như ngày xưa ở quê, như ngày mới qua. Giờ chúng chỉ thấy những phiền toái của người già, dù lòng biết ơn vẫn ở đó nhưng tiếng cằn nhằn thì nhiều hơn. Ngày ông còn sống, những năm tháng tù tội khiến ông không tha thiết gì chuyện về quê, nên mấy chục năm bà cũng chỉ về quê được vài lần. Những lần đó với bà là một lễ hội kéo dài vài tháng. Bà gói ghém đủ thứ đồ, ráng mang về nhiều nhất có thể để chia cho bên ngoại, tặng cho bên nội, giúp bà con trong làng. Bà vui niềm vui đoàn tụ trong hào sảng. Bà ôm theo về bên này một kho chuyện quê để vui suốt vài tháng sau đó. Con cái bà không hiểu được mấy chuyện này đâu. Chúng không muốn bà quá luỵ với cái nơi từng khiến bà khổ tới mức người không ra người đó nữa, nhớ thôi, không cần phải thương đến vậy. Chúng muốn bà sống với nơi này, hoà nhập với nơi có bao nhiêu điều tốt đẹp hơn quê cũ thì có gì sai. Mà quê bây giờ khác lắm rồi, có giống như ngày xưa nữa đâu – chúng vẫn luôn nói với bà câu đó. Khi bà nhận ra tình thế của mình thì đã ở tuổi ngoài 70, làm sao bắt đầu được khi ngày xưa bà cũng chỉ học tới lớp 3 trường làng?. Thôi thì đi cho hết cuộc đời…

Nghĩ gì thì tâm trí bà vẫn quay về với lũ chim. Chúng như những người bạn của bà. Thật ra thì không phải loài chim nào khác, chỉ là lũ quạ đen. Ngày xưa ở quê bà loài chim này vẫn bị gán với tiếng xấu, chúng xuất hiện là mang tin dữ đến cho gia chủ. Nhà nào có quạ về đậu trước ngõ kêu vài tiếng thì trong nhà kiểu gì cũng có tang hoặc chuyện xui rủi. Thật tới đâu không biết nhưng cả làng ai cũng sợ tiếng quạ. Bên này thì quạ sống chung với người, chỗ nào cũng thấy, chúng đi lững thững khắp nơi, có khi bay lên tụ đen cả một cây, cãi nhau quang quác. Với bà chúng không những vô hại mà còn biết trông đợi bà mỗi ngày.

Ngoài kia kiếm miếng ăn đâu có dễ, người hay thú cũng vậy thôi. Nếu dễ thì chúng đâu quanh quẩn dưới cửa sổ phòng bà mỗi sáng. Nỗi sợ hãi lớn nhất của đời bà là cái đói, cái lạnh. Không phải với bà mà là nhìn lũ con đang lớn khi trong nhà không còn hột gạo, bà sợ đến run rẩy nhưng vẫn phải gồng mình tỏ ra như không. Rồi tìm cách, rồi bươn chải. Ơn trên phù hộ, khoai sắn gì rồi mấy đứa con cũng khoẻ mạnh lớn lên cho tới ngày qua được bên này. Ở nơi thực phẩm không bao giờ thiếu hụt bà vẫn thu vén tiết kiệm, vẫn không thể đổ chén cơm thừa vào thùng rác được. Có phải mình bà đâu mà bà canh được liều lượng. Con cái cứ kêu nấu này nấu kia rồi cuối ngày đổi ý ăn tiệm không qua lấy mang về, bà và lũ chim lũ sóc chia nhau. Bánh trái con cái mua mang qua cho bà bà cũng cùng ăn với chúng nó. Chia nhau miếng ăn bà thấy chút vui. Nếu có thể ôm hết tụi nó vào phòng cho ăn để khỏi ai nhìn thấy thì bà cũng làm. Sao cho kẻ khác miếng ăn khi họ đang cần và mình đang dư thừa là trái với tự nhiên, gây hại cho tự nhiên. Bà nói với mấy con sóc vừa tụt từ trên cây xuống sau khi lũ quạ bay đi: Tụi mày có hiểu được không? Hết kiếp tao cũng không hiểu. Có lần bà nói với đứa cháu bà muốn được như mấy con chim trời, tự do bay lượn, nhớ quê thì tự bay về quê…

Rồi một ngày bà bay đi thật, khi hết một kiếp người. Lũ quạ quẩn quanh dưới cửa sổ phòng bà từ sớm. Chúng chờ tiếng rít cửa sổ, chờ hương vị thức ăn quen thuộc từ tay bà…

Nghĩa trang gần nhà rộng lớn, đẹp như một công viên, nhiều quạ, nhiều sóc. Trước ngôi mộ bà có một cây anh đào. Ngày hạ huyệt quạ về đậu kín cây. Mấy con sóc cũng leo lên tụt xuống quanh gốc cây. Chẳng biết trong vũ trụ này có tâm linh tương thông hay không nhưng thi thoảng ra thăm mộ, tôi thấy chúng thường quanh quẩn bên mộ bà, mấy con quạ đi tới đi lui mổ vào những chiếc lá vàng gắp ra khỏi mặt cỏ còn chưa xanh trên ngôi mộ. Trong số đó có con nào từng đợi bà mỗi sáng dưới khung cửa quen thuộc ấy?... 

 

Đan Viên

Surrey, 10/2025


Joomla Hosting and Maintenance by Cybersalt

Copyright © 2014-2026. VietVancouver, All rights reserved

  • Số Lượt Truy Cập 2504917