Tôi nhìn cảnh-vật chung quanh. Công-viên mùa này cảnh thật đẹp. Hôm nay là một ngày cuối mùa hạ tại vùng Vancouver, vùng được xem là ấm-áp nhất Gia-nã-đại, với màu xanh cây lá kéo dài suốt mùa đông trong khi những tỉnh khác ở miền Đông đất nước này ngập phủ đầy tuyết trắng. Tôi cảm thấy mình thật là may-mắn so với nhiều người khác ở các tỉnh đó. Còn may-mắn hơn vì tôi đã đến từ một xứ-sở cách Gia-nã-đại hàng mấy ngàn cây số, từ một quốc-gia được biết tiếng trên thế-giới qua một cuộc chiến-tranh một vạn ngày, với số binh-sĩ người Hoa-kỳ bị tử-vong lên đến hàng năm chục ngàn người, và mức-độ thảm-khốc đã được kể lại trong biết bao nhiêu là tờ báo, tạp-chí, sách-vở, các chương-trình phát-thanh và truyền-hình của nhiều nước trên thế-giới. Tôi cũng như nhiều người bạn đồng-hương hiện đang sống tại thành-phố này đã là những kẻ sống-sót sau cuộc chiến Việt-nam. Và tôi muốn tự-nhủ mình một lần nữa, chúng tôi hiện là những kẻ may-mắn vẫn còn sống-sót.

Bác T. là người hàng xóm cạnh nhà tôi. Bác là người Bắc, di-cư vào miền Nam năm 1954. Tôi chẳng hiểu tại sao bác lại thích kể chuyện đời cho tôi nghe, đủ mọi loại chuyện. Có lẽ vì tôi thường giữ im-lặng, nín thở nghe bác kể những đoạn gay-cấn, hồi-hộp trong chuyện của bác. Tôi thường làm như vậy trong các giờ học sử-ký trong lớp tôi. Những giây-phút ấy tôi như đang sống trong một thế-giới khác. Những sự-việc, nhân-vật, các hành-động, biến-báo như thể đang diễn ra trong một cuộn phim trước mắt tôi. Và tôi đã vui, mừng, lo, sợ cùng với những nhân-vật sống trong những thời-khoảng lịch-sử ấy. Cho đến bây giờ những câu chuyện lịch-sử mà tôi đã học thuở còn bé vẫn còn in đậm trong lòng tôi.

Nhờ những bài học sử-ký của các thầy cô và những câu chuyện đời của bác T. mà tôi học biết được rằng tổ-quốc thân-yêu của tôi đã phải trải qua rất nhiều khó-khăn và nhiều cuộc chiến để có thể còn sinh-tồn trong bối-cảnh tranh sống của các nước láng-giềng xa gần. Dù đã bị lệ-thuộc đôi ba lần, khi thì hàng trăm năm, khi thì hàng ngàn năm, nhưng các bậc tiền-nhân của quê-hương tôi đã bền-bỉ tranh-đấu không ngừng, và đã sống còn cho đến ngày nay với những đặc-thù riêng-biệt của dân-tộc Việt-nam. Tôi thấy tôi đã may-mắn có được những bậc tiền-nhân bất-khuất như thế.

Bác T. kể lại rằng vào lúc cuối cuộc thế-chiến thứ hai, trong khi quân Nhật-bản đang chiếm đóng bán-đảo Đông-dương gồm Việt-nam, Ai-lao (Lào) , và Cao-miên (Cambodia), họ đã đảo-chánh quân-đội nước Pháp lúc đó đang đóng ở thuộc-địa Đông-dương của Pháp, để trở thành quyền-lực cai-trị vùng này. Khi đã nắm được quyền-hành rồi, họ bắt đầu tiến-hành công-việc xử-dụng tài-nguyên của các nơi bị chiếm-đóng vào mưu-đồ chiến-tranh thế-giới của họ. Một trong những công-việc đó là họ bắt nông-dân miền Bắc Việt-nam trồng cây sợi đay thay vì trồng lúa. Kết-quả là có đến khoảng một triệu người miền Bắc Việt-nam đã bị chết vì đói, trong khi tại miền Nam Việt-nam, thóc lúa vẫn còn dư thừa để xuất-cảng.

“Cháu không thể tưởng-tượng được, mỗi ngày các toán nhân công sở lục-lộ đẩy xe cút-kít đi dọc theo các đường phố để lượm xác người chết từ sáng tinh mơ đến chiều tối vẫn không kịp. Tất-cả các cây cỏ trong thành-phố đều bị vặt trụi lá, họ ăn đủ mọi loại lá cây cỏ vì đói quá. Có những người vừa ăn nhồm-nhoàm xong là ngã lăn ra chết vì trúng lá cây độc. Có người run-run vồ-vập sờ-soạng tóm lấy những con sâu róm đầy lông bỏ vào mồm nhai và còn bảo bác, ngon lắm ông ạ, thật là đáng sợ.”

Bác T. ngừng lại như để lấy lại bình-tĩnh, rồi nhè-nhẹ lắc đầu như để xua-đuổi những ký-ức ghê-rợn ấy. Xong rồi bác vỗ nhè-nhẹ vào vai tôi và kết-luận rằng bác vẫn còn may-mắn là đã sống-sót sau cơn nạn đói kinh-khủng ấy do người Nhật gây ra. Tôi thầm nghĩ tôi còn may-mắn hơn bác là đã được sống ở miền Nam Việt-nam trong giai-đoạn kinh-hoàng đó của miền Bắc.

Rồi “cuộc chiến mười ngàn ngày” đến hồi kết thúc. Tôi cùng cha mẹ tôi vội-vã gom vài bộ quần áo và vài vật kỷ-niệm của gia-đình, tất-tả lái xe đến một nhà kho như cha tôi đã hẹn trước với những người tổ-chức chuyến hải-hành “vượt biên”. Chúng tôi chen-chúc nhau như cá hộp trên một chiếc xe vận-tải bỏ mui và rời bỏ thành-phố trong giai-đoạn chưa có sự kiểm-soát của những kẻ xâm-chiếm. Tôi tự hỏi không biết tâm-trạng của tôi có giống như tâm-trạng của bác T. vào năm 1954 khi bác cũng phải rời bỏ căn nhà mình để ra đi mà không biết mình sẽ đến đâu.

Sau khoảng chục ngày lênh-đênh trên biển cả mênh-mông, chiếc thuyền nhỏ bé dài khoảng mười thước của chúng tôi được một chiếc tàu buôn vớt và đưa đến Mã-lai. Tôi còn nhớ cảm-giác sợ-sệt và lo-lắng khi đối-diện với biển-cả vĩ-đại, to lớn quá. Sau này khi đã bình-an đến đất liền tôi mới có được khái-niệm “đi tìm cái sống trong cái chết” là như thế nào. Và còn nhiều câu chuyện vượt biên còn thê-thảm và đáng thương hơn câu chuyện vượt biên của tôi hàng gấp trăm lần. Mỗi lần nhớ lại tôi không thể không cảm-nhận được rằng tôi vẫn còn quá may-mắn là vẫn còn sống-sót, cho dù để có sự may-mắn ấy, tôi đã phải đổi bằng sự mất-mát một cái gì ray-rứt mà sau này, tôi mới thấm hiểu đó là tình quê-hương.

Rồi giai-đoạn vật-lộn với mọi khó-khăn của đời-sống mới với sự bất-đồng ngôn-ngữ dần-dà theo thời-gian cũng qua đi. Tôi cũng đã đổi công-việc hàng chục lần, mỗi một lần thay-đổi là mỗi một lần bắt đầu lại. Rồi cũng quen. Và thời-gian cũng làm cho những kỷ-niệm nằm im dần trong ký-ức. Nhưng cái cảm-giác mình vẫn còn là người may-mắn không mất đi trong tôi. Tôi rất cám-ơn xứ Gia-nã-đại, vì tôi đã được đến và sinh-sống tại đây, một trong những xứ-sở tân-tiến và giàu-mạnh nhất trên thế-giới.

Thời-gian vội-vã theo công việc trôi nhanh. Và giấc mơ nhỏ bé trong tôi cũng dần hiện ra. Tôi mơ những mất mát cũng như những thành-quả của người Việt-nam tha-phương sẽ vẫn còn hiện-diện theo thời-gian, những bối-cảnh, hệ-quả cùng lý-do sẽ được ghi-nhớ ở một nơi, có thể là những trang sách, những hồ-sơ, trang mạng lưới hoặc một kiến-trúc nào đó. Người Việt-nam thường quyến-luyến quê-hương nơi quê cha đất tổ nhưng họ đã phải ra đi. Động-lực mạnh-mẽ đã khiến cho hàng triệu người Việt-nam rời quê-hương ra đi là lòng yêu tự do cũng chính là lý-tưởng mà người bản xứ đã tranh đấu để có được.

Tôi mơ và tôi trộm nghĩ là nhiều người Việt-nam ở khắp nơi trên thế-giới và ở Gia-nã-đại nói riêng cũng có những giấc mơ tương-tự còn có ý-nghĩa hơn giấc mơ của tôi và mong những giấc mơ này trở thành hiện-thực bằng cách có những cơ-hội để lưu-giữ và trưng-bày những chứng-tích lịch-sử của những trang sử đã qua của người Việt-nam tỵ-nạn ở Gia-nã-đại tại một nơi có đầy-đủ thẩm-quyền, với hy-vọng rằng, những thế-hệ gốc người Việt sau này sẽ thông-hiểu, thương-yêu, và thông-cảm được lý-do tại sao người Việt-nam lại có mặt trên đất Gia-nã-đại, cũng như tại nhiều quốc-gia khác trên thế-giới.

Những chứng-tích lịch-sử này nói lên tâm-tình của những người Việt-nam tha-phương rằng cho dù phải đi đến bất-cứ một nơi nào đó, họ vẫn mang nặng trong lòng một mối tình hoài-vọng cố-hương, bởi vì họ là người Việt-nam.


Hương Cau

- Tên thật Cao Tân

- Sinh quán miền Bắc, di cư vào Nam 1954.

- Hiện sống tại Vancouver

- Sáng tác nhạc nhiều hơn viết truyện( https://www.youtube.com/@nhachuongcaucaotan3995 )


Joomla Hosting and Maintenance by Cybersalt

Copyright © 2014-2026. VietVancouver, All rights reserved

  • Số Lượt Truy Cập 2519603