Người kháng chiến quân canh gác hối hả tông cửa vào đánh thức chúng tôi dậy trước buổi trưa, mặc dù rất hoảng loạn nhưng anh ta cố giữ giọng nói nhỏ nhẹ.

“Chúng đang tới,” anh ta nói. Chúng tôi vội vã đứng lên trước khi anh ta nói tiếp câu thứ hai, chụp vội đồ đạc và nhận thức được tình thế nguy hiểm cấp bách. Vì chân luôn luôn mang giầy, chúng tôi đã sẵn sàng di chuyển. “Hình như cả đại đội với tù nhân nữa.”

Korsakov choàng dây đeo súng qua vai. “Bộ binh hả?”

“Không thấy chiến xa nào cả.”

Ba mươi giây sau chúng tôi lẻn ra khỏi cánh cửa xiêu vẹo đi vào vùng ánh sáng rực rỡ đầy bất trắc. Anh sáng giữa trưa chói lòa khiến tôi mở mắt ra không nổi vì vừa thoát ra khỏi cái chòi không cửa sổ tối đen như nhà mồ. Chúng tôi vọt theo Korsakov, lệnh hiểu ngầm đơn giản của anh ta là: chạy cho lẹ.

Không còn cơ hội nữa. Dù người cuối cùng chưa ra khỏi cửa đã nghe tiếng bọn Đức la lối ầm ĩ. Nỗi sợ hãi là động lực chính, tôi trở thành con thú hoang, không suy nghĩ. Không khí ấm áp hơn và tuyết trở nên nặng nề ẩm ướt, bám chặt lấy chân tôi kéo xuống.

Khi tôi mới chín tuổi, một phái đoàn nổi tiếng của đảng Cộng Sản Pháp viếng thăm thành phố Piter, Đảng đã quét dọn đường phố. Những công nhân với điếu thuốc lá tòn ten trên môi, đổ nhựa đường trên đường Voinova rồi dùng chiếc bay cán dài chà cho bằng phẳng, khiến mặt đường giống như một đại lộ được trét bằng chocolate. Tôi đứng ngay cổng chung cư Kirov, xem cả buổi sáng cùng với anh em sanh đôi nhà Antokolsky. 

Tôi không nhớ điều gì đã kích động chúng tôi để cùng đi đến một quyết định. Không nói một lời, không cả ngấm ngầm nhìn nhau, chúng tôi tháo bỏ giày vớ, ném vào sân chung cư, cứ thế chạy băng ngang qua đường. Dù có thể bị phỏng gót chân cũng không màng, chúng tôi đã để lại dấu chân trên mặt đường mềm và tiếp tục chạy đến lề bên kia. Vì biết rằng chẳng làm gì được, bọn công nhân chỉ khua cái bay dài và chửi rủa, chẳng thiết đuổi theo.

Phải mất cả tiếng đồng hồ tối hôm ấy để Mẹ chùi rửa sạch sẽ chân tôi, chà sát đôi bàn chân một cách giận dữ bằng đá chà và xà phòng. Cha tôi đứng bên cửa sổ, chắp tay sau lưng, cố nhịn cười khi ông nhìn xuống đường Voinova. Dưới ánh đèn, con đường bóng loáng và hoàn hảo, ba cặp dấu chân bé nhỏ in trên mặt giống như những vết chân chim hải âu trên cát ướt.

Băng ngang qua mặt đường khi nhựa đang khô chẳng giống chút nào với chạy trên tuyết đang tan; tôi không hiểu sao hai sự kiện đó lại liên quan với nhau trong trí nhớ của tôi, nhưng sự thật là như vậy.

Tiếng súng nổ vang rền trong rừng thông. Một phát đạn bay vèo qua, nghe rất to và gần, tôi sờ bên đầu thử xem có bị gì không. Người đi trước tôi ngã xuống đất, nhìn cách anh ta đột quỵ, tôi biết anh ta sẽ chẳng bao giờ còn đứng dậy được. Tôi không thể chạy nhanh hơn nữa và cũng không sợ hơn thế nữa. Chứng kiến người đàn ông gục ngã, chẳng thay đổi gì trong tôi. Lúc đó, tôi không còn là Lev Abramovich Beniov. Tôi không có mẹ đang sống ở Vyazma hay người cha đã chết nằm dưới nấm mồ không mộ bia ở đâu đó. Tôi không còn là hậu duệ của những nhà nghiên cứu luật Torah đội nón đen, bên nội hay những tiểu thư khuê các ở Mạc Tư Khoa, bên ngoại. Nếu một tên lính Đức nắm được cổ tôi lúc đó, tra tấn, bắt tôi khai tên bằng một thứ tiếng Nga chuẩn xác, chắc tôi đã không thể trả lời được, cũng không nghĩ được một câu đơn giản xin tha mạng.

Tôi thấy Korsakov quay lại định bắn trả những quân địch đang đuổi theo. Trước khi anh ta bắn được một phát nào, một viên đạn đã làm văng mất cái hàm dưới. Anh ta chớp mắt, đôi mắt vẫn còn sống động mặc dù nửa mặt dưới đã biến mất. Tôi vượt qua Korsakov, băng ngang một khe núi dốc, nơi dòng nước hẹp lại chỉ bằng một cái khe, tuyết tan ra thành nước chảy quanh co qua đá sỏi và nhánh cây gẫy kêu róc rách.

Theo trực giác, tôi đổi hướng, chạy theo dòng nước, trên những phiến đá trơn trợt, thẳng xuống chân đồi, bây giờ thì nhanh hơn nhờ đã bước ra khỏi tuyết. Thân thể tôi đang chờ một viên đạn vô tình, như một nhát rìu đập vào giữa hai xương bả vai, khiến tôi chúi mặt xuống dòng nước lạnh. Mặc kệ mọi khó khăn, tôi nhanh nhẹn lạ thường, chân tôi tự động nhảy những bước kế tiếp chẳng cần hỏi cái đầu, đôi giày đạp tung tóe nước lạnh ngắt, chẳng hề vấp té.

Tôi không biết đã chạy được bao lâu và bao xa, cuối cùng thì cũng phải dừng lại. Tôi nấp sau một cây tùng già, những nhánh cây trĩu xuống vì tuyết đang tan, tôi ngồi dưới bóng cây thở dốc. Cẳng chân không ngừng run lẩy bẩy, mặc dù tôi đã đè lòng bàn tay trên đùi. Sau khi lấy lại nhịp thở điều hòa, tôi đi vòng ra phía bên kia thân cây và nhìn lên đồi.

Ba người đàn ông đang tiến về phía tôi, súng trên tay, chạy đều đều, không ai mặc quân phục lính Đức. Người gần nhất mặc bộ đồ lính trượt tuyết màu trắng, tôi nhận ra đó là anh chàng dân quân đã mút chiếc nhẫn cưới từ ngón tay tên lính Đức đã chết. Mấy người kia goị anh ta là Markov. Ngay lúc đó, tôi thương anh ta quá đỗi, thương khuôn mặt đỏ gay lỗ mãng của hắn, cặp mắt sâu hoắm mà mới đêm hôm trước nhìn giống kẻ sát nhân.

Theo sau anh ta là Kolya, tôi cười mừng rỡ khi nhìn thấy hắn. Tôi chỉ mới gặp hắn đêm thứ sáu, và chẳng có cảm tình cho đến hôm thứ hai, bây giờ là chiều thứ ba, nhìn thấy hắn sống sót khiến tôi muốn khóc vì sung sướng. Hắn đã rơi mất chiếc mũ Astrakhan trong khi chạy thục mạng, đang vén tóc vàng phủ lòa xòa trên trán. Hắn quay sang nói gì đó với người chạy bên cạnh,vừa cười cợt vừa nói, tôi biết hắn đang nghĩ là mình vừa kể một câu chuyện khôi hài rất có duyên.

Người đi bên cạnh hoá ra là Vika. Khác với Kolya, cô bé còn giữ được chiếc mũ lông; nàng kéo chiếc mũ xuống sát chân mày, dù nhìn từ đàng xa tôi vẫn nhận ra đôi mắt chó sói xanh lơ, linh hoạt ngay dưới cái riềm chiếc mũ. Không cần biết Kolya nói gì, điều đó chẳng làm nàng buồn cười. Nàng cũng không thèm để ý nghe hắn nói, thỉnh thoảng lại nhìn về phía sau để coi chừng kẻ địch duổi theo.

Cuộc đào thoát có lẽ không kéo dài lắm (hai mươi phút? mười phút?), nhưng ký ức về cái chòi của người thợ rừng dường như tôi đã ăn trộm của ai. Nỗi kinh hoàng vì tin chắc rằng đời mình sẽ kết thúc một cách khủng khiếp đã chiếm hết ký ức và xóa đi tất cả những cái khác. Cho nên dù sau khi gặp lại Kolya, Vika, và Markov, dù lúc này tôi cho rằng khuôn mặt của họ đẹp nhất nước Nga, tôi cũng không thể gọi được tên họ hay vẫy tay mừng. Khoảng không gian bên dưới cành cây to nặng trĩu gần mặt đất là nơi trú ẩn an toàn của tôi. Từ khi tôi tới đây, không có gì thảm khốc xảy ra nữa. Bọn Đức đã không kiếm thấy tôi. Tôi không còn nhìn thấy ai bị văng mất xương hàm dưới, chẳng còn gì trừ đôi mắt thất thần trong cái đống bầy nhầy trên thềm nhà hàng thịt. Tôi cũng không thể ra dấu cho Kolya, mặc dầu sau bốn ngày hắn đã trở nên người bạn thân thiết nhất của tôi.

Có lẽ vì tôi đã làm một động tác gì đó như xoay mình hay rùng mình, gây tiếng động nhỏ khiến Vika chĩa mũi súng về tôi, báng súng tựa trên vai, đầu ruồi nhắm vào đầu tôi. Đến lúc đó tôi vẫn không thể nhanh miệng kêu lên một tiếng để cứu mạng mình. Tôi có thể gọi tên cô ta hay nói bất cứ một câu tiếng Nga nào đó cũng được.

Nhưng không hiểu sao, Vika nhận ra khuôn mặt tôi và đã không kéo cò súng, mặc dầu tôi ngồi khuất sau những nhánh cây phủ đầy tuyết. 

“Đó là chú bạn bé con của cậu,” cô ta nói với Kolya. “Có lẽ cậu ta bị thương.”

Kolya chạy vội lại, kéo mấy nhánh cây tùng qua một bên, nắm lấy ve áo khoác, xoay thân thể tôi qua trái rồi qua phải để tìm lỗ đạn.

“Mày có bị thương không?”

Tôi lắc đầu.

“Vậy thì nhanh lên thôi.” Hắn kéo tôi đứng dậy. “Chúng nó không cách xa lắm đâu.”

“Chậm mất rồi,” Vika nói. Nàng và Markov cùng nhập bọn sau tàng cây, cô ta hướng cây súng về đỉnh đồi và ước lượng khoảng cách.

Tụi Đức mặc áo choàng trắng, đã vượt qua đỉnh đồi, khoảng cách chưa tới 200 thước, súng sẵn sàng, đi một cách thận trọng, quan sát địa hình sợ bị phục kích. Lúc đầu chỉ một vài người, tiến qua vùng băng tuyết, càng lúc càng nhiều người nhấp nhô vượt lên, cho đến lúc cả sườn đồi bên trên đầy những lính Đức, những kẻ đang muốn tiêu diệt chúng tôi.

Markov lôi ra một ống nhòm từ trong túi áo khoác. Anh ta quan sát đám lính tiền thám đang đi dần xuống.

“Sư Đoàn sơn chiến Gebirgsjager số 1,”  Markov thì thầm, đưa ống nhòm cho Vika. “Cô có nhận ra dấu hiệu hoa sơn cúc trắng không?”

Bỏ ống nhòm ra, nàng gật đầu. Giữa hai hàng lính Đức là một đoàn tù nhân, đầu cúi thấp bao gồm  lính  Hồng Quân, quân phục bẩn thỉu  thấp thểu bên cạnh một đám  nông dân tội nghiệp, mặc đủ thứ quần áo họ vơ vội được khi lính Đức tấn công vào làng. Có một vài kẻ không may mắn chỉ mặc mỗi áo chemise dài tay không áo khoác, không mũ, không bao tay. Bọn họ lội bì bõm trên tuyết, thầm lặng, cúi đầu, hướng về phía chúng tôi.

“Dường như cả đại đội tiến về đây, “ Markov nói trong khi anh ta cất chiếc ống nhòm và cầm súng ở vị thế sẵn sàng. “Hãy tưởng tượng, tôi vừa vớ được một túi đầy vàng.”

Vika đặt tay trên cánh tay Markov. “Anh định quyết tử mau quá nhỉ?”

Anh liếc nhìn nàng, nhắm nòng súng về tên lính Đức gần nhất.

“Bắn một tên lính bộ binh,” nàng nói, “chẳng đáng giá gì cả. Chúng ta săn lùng Einsatz mà.”

Anh ta cau có đẩy tay nàng ra như thể nàng là mụ điên trên đường phố đang xin tiền.

“Chúng ta không được chọn lựa. Tôi chỉ thấy toàn lính sư đoàn sơn chiến.

“Bọn truy sát Einsatzguppe A đi cùng với Sư Đoàn Sơn Chiến số 1 Gebirgsjager. Anh cũng biết vậy mà. Abendroth chắc chắn ở gần đây thôi.”

Kolya và tôi nhìn nhau. Đêm hôm qua chúng tôi nghe tên Abendroth lần đầu tiên; âm thanh đó gắn liền với nỗi kinh hoàng. Tôi không thể nào xóa được hình ảnh Zoya nằm quằn quại trên nền nhà với đôi chân vừa bị cưa lìa. Tôi không hình dung được chính hắn ra sao vì mấy cô gái đó không tả ra, nhưng tôi có thể hình dung đôi bàn tay vấy máu của hắn, móng tay giũa gọn gàng, cẩn thận đặt cái cưa xuống nền gỗ của căn nhà trong nông trại.

“Kết thúc rồi,” Markov nói. “Không phải chạy trốn nữa.”

“Tôi không bao giờ nói đến chạy trốn. Chúng nó bắt được hơn một trăm tù nhân. Chúng ta trà trộn vào đó.”

“Cô trở nên mềm yếu rồi chăng, cô bé tội nghiệp ơi? Cô nghĩ rằng cô bước ra với khẩu súng hướng lên trời, bọn Đức sẽ cho cô đầu hàng hả?”

“Chúng ta không đầu hàng.” Nàng dùng một bàn tay mang găng với lên cành cây thấp rồi đu người lên, dấu cây súng trường trong cái nách giữa nhánh và thân cây. Nhảy xuống đất, phủi hai tay cho sạch tuyết và ra dấu cho Markov cũng làm như vậy.

“Chúng ta sẽ trà trộn với đám tù nhân và chờ cơ hội. Chúng nó đã khám xét vũ khí trong đàn cừu đó rồi. Anh có khẩu súng ngắn dấu đâu đó trong người phải không? Mau lên.Vứt bỏ cây súng trường đó đi.”

“Chúng có thể khám xét lần nữa.”

“Không đâu.”

Tên lính Đức gần nhất chỉ còn cách 100 thước, cái chụp đầu cột chặt trên nón trận. Markov nhìn chăm chú đám lính, mấy cái mặt ửng đỏ của chúng là mục tiêu dễ dàng cho một tay bắn giỏi.

“Chúng sẽ giết một nửa đám tù nhân đó lúc trời vừa tối.”

“Cho nên chúng ta sẽ ở trong đám người thuộc nửa kia.”

Kolya mỉm cười gật đầu tán thành. Đó là cách khôi hài có thể chính hắn cũng đã nghĩ như vậy và tôi không ngạc nhiên mấy khi nhận ra hắn thích thú về điều ấy.

“Đáng thử lắm,” hắn thì thầm. “Nếu chúng ta trà trộn vào bọn họ, vẫn còn có cơ hội. Nếu chẳng may bị phát giác, cũng chẳng sao , chúng ta sẽ có cuộc đọ súng. Đó là một kế hoạch hoàn hảo.”

“Đó là kế hoạch thối bỏ mẹ,” Markov nói. “Làm sao chúng ta nhập bọn với họ mà không bị phát giác?”

Vika hỏi “Anh vẫn còn vài trái lựu đạn phải không?”

Markov trừng mắt nhìn nàng. Anh ta giống như một người bị đấm vào mặt nhiều lần, mũi tẹt như mũi của võ sĩ quyền anh, mất hết một nửa răng hàm dưới. Markov lắc đầu, máng cây súng vào khúc cụt của cành cây gẫy, rồi chăm chú nhìn hàng dài người đang tiến tới.

“Cô đúng là con đĩ già miệng, cô biết không?”

“Cởi bộ đồ trắng ra,” nàng trả lời. “Anh trông giống như lính trợt tuyết. Chúng nó sẽ nhận ra ngay.”

Markov nhanh nhẹn cởi nút áo khoác, ngồi trên tuyết và tuột ra khỏi giày. Dưới bộ áo khoác trắng, anh ta mặc cái áo thợ săn bằng vải dồi bông, mấy lớp áo len và dạ, cái quần dính sơn loang lổ của người thợ. Anh ta lấy ra một lựu đạn dài giống như khúc cây từ trong chiếc túi vải, mở một cái ngòi dài như điếu thuốc lá, và nhét chiếc ngòi nổ đó vào đầu trái lựu đạn.

“Chúng ta phải điều chỉnh thời nổ cho chính xác,” anh ta nói.

Chúng tôi chụm lại chung quanh gốc cây tùng to lớn, co người lại và im lặng, nín thở khi đám lính Đức chỉ còn cách chừng dưới 20 thước.

Không ai quan tâm đến hỏi ý kiến của tôi, cũng đúng thôi vì tôi chưa hề mở miệng đề nghị điều gì. Tôi chưa nói một tiếng nào từ khi chạy ra khỏi chiếc lều thợ săn và bây giờ thì đã muộn rồi.

Tôi chẳng đồng ý kế hoạch nào. Một cuộc đấu súng cuối cùng chỉ hợp cho du kích quân dầy dạn như Markov thôi, tôi thì chưa sẵn sàng cho một cuộc cảm tử như thế. Giả làm tù nhân dường như là một tính toán quá sai lầm – Một tù nhân có thể sống sót bao lâu trong thời gian này? Nếu có ai hỏi tôi, chắc tôi đã khuyến khích mọi người chạy một lần nữa, mặc dầu tôi không biết chắc mình còn chạy được bao xa, hay là leo lên cây và chờ cho bọn Đức đi qua bên dưới. Nấp trong cành cây dường như là ý kiến hay, toán đầu lính Đức đi qua không hề phát giác ra chúng tôi.

Khi toán tù nhân người Nga ở mấy hàng đầu lê bước ngang qua cây tùng chỗ chúng tôi nấp, Vika gật đầu ra dấu cho Markov. Anh ta hít một hơi dài bước ra chỗ tàn cây xa nhất, và lấy hết sức mình ném trái lựu đạn ra thật xa.

Từ chỗ thuận lợi tôi đứng cũng khó có thể nói bọn Đức có thấy trái lựu đạn bay qua đầu chúng không? Tôi không nghe thấy tiếng la báo động nào cả. Trái đạn rớt xuống chỉ nghe một tiếng “Phụt” trên tuyết cách xa khoảng 30 thước. Trong vài giây, tôi đinh ninh là trái đạn đã bị tịt ngòi cho đến khi nó phát nổ, đủ mạnh để tuyết trên những cành cây tùng bị rung chuyển đổ xuống mình chúng tôi.

Tất cả mọi người di chuyển cùng đại đội, tù nhân lẫn lính tráng cúi thấp mình trong cơn hoảng hốt bất ngờ, nhìn về bên trái, một đám tuyết bắn tung lên. Chúng tôi lẻn ra khỏi bóng cây tùng, và bước đến đám tù nhân người Nga tả tơi trong khi sĩ quan Đức bắt đầu la lối ra lệnh, và đưa ống dòm về phía bìa rừng xa tìm kiếm tay súng bắn sẻ nấp trên cây. Chúng tôi tiến đến gần đám người cùng quê hương bị bắt làm tù binh: 15 thước, 14, 13, bước nhẹ nhàng cẩn thận, cố gượng lại ý muốn chạy như bay đến đám tù nhân. Tụi Đức tưởng rằng trông thấy sự chuyển động trong những bụi cây ở xa; có những tiếng ồn ào, chỉ trỏ, lính nằm bụng sát xuống đất và sẵn sàng khai hỏa.

Đến khi chúng nhận ra rằng chẳng có kẻ thù nào từ phía trái, chúng tôi đã xâm nhập từ bên phải. Vài tù nhân nhận ra chúng tôi. Họ không tỏ ra cử chỉ nào chào đón hay tình chiến hữu. Họ không có vẻ gì ngạc nhiên khi 4 người mới tới nhập làm đồng cảnh: tù nhân. Cả dân và lính đều bị đánh bại một cách thê thảm nên có thể họ nghĩ đương nhiên người Nga từ trong rừng chui ra hẳn là lặng lẽ đầu hàng quân thù.

Tất cả tù nhân đều là nam nhân, từ những thiếu niên răng mọc chưa đủ, mũi dãi lòng thòng đến những lão ông lưng còng, râu bạc lởm chởm quai hàm. Vika kéo chiếc mũ lông thỏ thấp hơn. Trong chiếc áo choàng che kín cả người, không có hình dáng gì cả, nàng trông giống một thanh niên nên chẳng có ai để ý đến nàng.

Ít nhất hai lính Hồng Quân không có giày, chỉ mang vớ bằng nỉ đã rách bươm để giữ cho chân ấm. Lính Đức cho rằng đôi giày da lót nỉ của lính Nga rất đáng giá, ấm hơn và bền bỉ hơn hẳn giày của bọn chúng. Những đôi vớ bằng nỉ hai người lính Nga đang mang chắc đã sũng nước tan ra từ tuyết. Khi nhiệt độ xuống thấp, những đôi vớ đó sẽ bị đóng băng, hai người này sẽ phải đi trên hai cục nước đá. Tôi tự hỏi không biết họ còn đi được bao xa, bao nhiêu cây số nữa, trước khi cẳng chân tê dại từ ngón chân lan lên đến đầu gối. Mắt của họ thất thần, đau khổ như mắt của những con ngựa dùng để kéo xe trên đường phố Piter ngập tuyết, trước khi thức ăn cạn kiệt và con ngựa bị xẻ thịt.

Tụi Đức bàn tán với nhau bằng tiếng của họ, tuy nhiên không ai bị thương nặng bởi mảnh lựu đạn, chỉ có mỗi anh lính trẻ bị một vết sướt ngang má, nhẹ và đỏ, anh ta kéo bao tay ra, lấy ngón tay cái thoa lên máu và khoe cho chiến hữu coi, rất hài lòng về vết thương đầu tiên của anh từ khi tham chiến.

“Bọn chúng tưởng đó là mìn bẫy,” Kolya thì thầm với tôi. Hắn nheo mắt khi cố lắng nghe lệnh của sĩ quan Đức. “Bọn chúng chắc là người bản địa Tyrol (Tây Nam nước Đức). Phát âm rất khó nghe. Đúng vậy, chúng nói là mìn bẫy.”

Sĩ quan ra lệnh, lính Đức trở lại với đám tù nhân ngoan ngoãn đang chờ đợi và ra dấu bằng súng cho họ tiếp tục đi.

“Khoan đã!” một người Nga la lên, hắn là thường dân khoảng 40 tuổi, môi dày, đội chiếc mũ len đan, hai cái che lỗ tai được cột chặt dưới cằm. “Người này là du kích!”

Hắn ta chỉ tay vào Markov.  Mọi người khác trên sườn đồi đều im lặng.

“Thằng đó đến nhà tôi hồi tháng rồi, lấy hết khoai tây, thức ăn của tôi và nói rằng dùng cho kháng chiến! Nghe rõ không? Nó là thằng dân quân! Nó đã giết rất nhiều người Đức!”

Markov nhìn sững người nông dân, đầu quẹo qua một bên như con chó cắn nhau.

 “Câm miệng mày lại,” Markov nói nhỏ, mặt anh ta đỏ lên vì tức giận.

“Mày không còn ra lệnh cho tao nữa đâu! Không bảo tao phải làm gì nữa!”

Một Trung Úy chạy lại, 3 tên lính theo sau, rẽ đám đông đang quây tròn Markov và người kết tội anh ta.

“Cái gì thế?” hắn hét lên. Hắn chắc là người thông dịch cho đại đội, nói tiếng Nga với giọng Ukraina. Hắn trông giống một người mập phì vừa mới sụt ký mất hết mỡ, hai gò má xẹp, da nhăn nhúm chùng xuống trên xương mặt.

Người tố cáo đứng đó chỉ tay, đúng là một đứa trẻ  lớn quá khổ với hai cái che tai và cặp môi run lên, nói với tên Trung Úy nhưng mắt không rời  Markov.

“Nó là thằng sát nhân, người này đây! Nó đã giết hại lính của ông!”

Kolya mở miệng định nói giúp Markov nhưng Vika húc mạnh cùi chõ vào mạng mỡ hắn, khiến hắn câm họng. Tôi thấy hắn thọc tay vào túi áo khoác, chắc chuẩn bị khẩu súng ngắn Tokarev khi cần thiết.

Markov lắc đầu, nở trên môi một nụ cười lạ lùng, hung hãn.

“Tao ỉa vào mặt mẹ mày.”

“Mày không còn can đảm nữa! Không còn cứng cỏi nữa! Phải rồi, mày là kẻ hung hãn khi tước đoạt khoai tây của người dân thường, còn bây giờ thì sao? Mày là cái thớ gì?”

Markov gầm lên và rút nhanh một cây súng ngắn từ trong túi áo săn. Anh ta là người khỏe mạnh, rút súng ra nhanh như những tay chơi súng lão luyện Hoa Kỳ, đưa nòng súng lên trong khi người kết tội anh ta ngã ngửa ra sau, đám tù nhân đứng chung quanh chạy tán loạn như chim vỡ tổ.

Bọn lính Đức còn nhanh hơn. Trước khi Markov có thể bóp cò, một tràng đạn từ khẩu súng tự động MP40 xuyên trên ngực áo săn của anh ta một hàng những lỗ nhỏ. Markov chao đảo, chau mày như thể anh ta vừa quên một tên rất quan trọng và té ngửa xuống trên vùng tuyết mềm, một mảng bông gòn lòi ra từ những lỗ thủng của chiếc áo săn.

Người kết tội chăm chú nhìn thân thể Markov. Hắn chắc hiểu rằng lời tố cáo của hắn sẽ dẫn đến kết quả ra sao, nhưng vẫn cảm thấy vô cùng sửng sốt. Tên trung úy suy nghĩ một chút không biết nên thưởng hay phạt hắn. Cuối cùng anh ta giật khẩu súng ngắn của Markov để làm kỷ niệm và bỏ đi, mặc kệ những rắc rối sau lưng. Đám lính trẻ đi theo anh ta, liếc nhìn cái xác của Markov, chắc đang tự hỏi ai trong bọn chúng đã bắn làn đạn giết chết hắn.

Chẳng bao lâu, cả đại đội lại tiếp tục di chuyển. Tuy nhiên, đội hình được thay đổi. Sáu người Nga đi hàng đầu, trước người lính Đức gần nhất 10 thước, để làm cái máy dò mìn bằng thân người. Mỗi bước đi là một nỗi kinh sợ cho họ, chờ đợi sợi giây mìn bẫy kích hỏa, chiếc lò so bật tung lên. Chắc họ cũng có ý định chạy trốn, nhưng không thể chạy quá ba bước trước khi bị bắn gục.  

Không ai đi gần người tố giác Markov. Hắn đã bị nhiễm bịnh, một thứ bệnh truyền nhiễm. Hắn nói lẩm bẩm một mình, lời phân trần dài dòng chẳng ai nghe được, mắt hắn liếc qua trái rồi qua phải như thể coi chừng sự trả thù.

Tôi đi phía sau hắn hằng tá người, lê lết mệt nhọc trên tuyết mềm giữa Vika và Kolya. Nếu có tù nhân nào đó nói lớn tiếng tụi Đức nghe được, một tên Đức sẽ nạt nộ ngay, “Halts Maul!” Không cần một thông dịch viên, ai cũng hiểu được và người tù nhân mau lẹ im miệng lại, đầu cúi xuống, và đi nhanh hơn. Tù nhân vẫn có thể  nói chuyện với nhau nếu chịu khó nói nho nhỏ và coi chừng đám lính gác.

“Thành thật chia buồn về người chiến hữu của cô!” Tôi thì thầm với Vika.

Nàng tiếp tục đi không nói một lời hay tỏ vẻ gì đã nghe tôi nói. Tôi sợ mình đã xúc phạm đến nàng.

“Anh ta có vẻ là một người tốt,” tôi thêm vào. Cả hai câu nói hoàn toàn bình thường, cái thứ bày tỏ tình cảm nhàm chán người ta hay dùng trong một đám ma của người bà con xa, mình chẳng thân thiện gì cho lắm. Tôi chẳng trách nàng đã phớt lờ.

Cuối cùng nàng lên tiếng: “Chẳng tốt lành gì, nhưng dù sao tôi cũng thích anh ta.” 

“Tên phản quốc đáng phải treo cổ trên cây,” Kolya thì thầm trong khi cúi đầu thấp để tiếng nói không vọng đi xa. Hắn liếc nhìn vào gáy tên phản bội. “Tay không, tao cũng có thể bẻ gẫy cổ nó, tao biết cách mà.”

“Để nó yên,” Vika nói. “Nó không đáng quan tâm.”  

“Nhưng đối với Markov thì khác,” tôi nói.

Vika liếc nhìn tôi và mỉm cười. Đó không phải là nụ cười lạnh lẽo của con thú dữ mà tôi đã thấy trước đây. Nàng có vẻ ngạc nhiên về lời nhận xét của tôi, như thể nàng đang nghe bản “Fur Elise” chơi bằng cách thổi chiếc còi gỗ của người Mông Cổ không thiếu một nốt.

“Đúng, nó quan trọng đối với Markov, cậu thật kỳ lạ.”

“Tại sao?”

“Hắn là một tên tiểu quỷ kỳ lạ,” Kolya nói, trong khi hích nhẹ một cách thân mật vào lưng tôi. “Nhưng hắn chơi cờ vua hết xảy.”

  “Tại sao tôi kỳ lạ chứ?”

“Markov không quan trọng,” nàng nói. “Tôi không quan trọng. Các cậu không quan trọng. Thắng trận chiến này là điều duy nhất quan trọng.”

“Không,” tôi nói. “Tôi không đồng ý.  Markov là quan trọng. Tôi và cả hai người cũng vậy. Cho nên chúng ta phải thắng. “

Kolya nhướng mày, rất khâm phục vì tôi dám chống đối lại cô bé cuồng tín.

“Tôi là quan trong một cách đặc biệt, “hắn tuyên bố, “tôi đang viết một tiểu thuyết vĩ đại cho thế kỷ hai mươi.”

“Hai người đã yêu nhau nửa chừng rồi đó, biết không?” nàng nói.

Bọn đàn ông đi trước chúng tôi đã chùn bước khiến cuộc di hành ngừng lại, đám tù nhân bối rối không hiểu tại sao cả đoàn bị trì trệ như thế. Một người trong toán lính Nga đi chân đất không muốn đi thêm nữa. Chiến hữu của anh ta khẩn khoản xin anh tiếp tục đi, cả nài nỉ lẫn chửi rủa. Anh ta lắc đầu, không nói một lời, chân chôn chặt xuống tuyết. Người bạn cố đẩy anh ta đi, nhưng vô dụng thôi; anh ta đã chọn lựa nơi an nghỉ cho mình. Khi đám lính Đức chạy đến, huơ những cây súng máy và hét lên bằng ngôn ngữ của chúng, đám lính Hồng Quân Nga miễn cưỡng dang ra xa khỏi người chiến hữu chấp nhận số phận. Anh ta mỉm cười với tụi Đức và dơ một tay lên chào kiểu quân Đội Nazi. Tôi quay mặt đi vừa đúng lúc.

Một giờ trước khi mặt trời lặn, đại đội dừng lại bên cạnh một trường học xây bằng gạch đỏ có tường bao bọc, một trong những công trình của Nhân Dân trong kế hoạch 5 năm. Cửa kính nhỏ như những lỗ châu mai thời Trung Cổ. Một hàng chữ bằng đồng cao 2 bộ gắn trên cửa chính, ghi câu nói bất hủ của Lenin: “Hãy giao cho chúng tôi một đứa trẻ trong 8 năm, và nó sẽ trở thành người Bolshevik cả đời.”

Mộ kẻ xâm lăng nào đó nói tiếng Nga đã viết nguệch ngoạc lời đối đáp bằng sơn trắng nhem nhuốc: “Giao con các người cho chúng tôi trong 8 giây và sẽ chẳng còn một Bolshevik nào nữa.”

Đoàn quân wehrmacht đã dùng trường học làm bộ chỉ huy. Sáu chiếc xe kubelwagen đậu gần cổng ra vào. Một lính Đức đầu trần, tóc cắt ngắn và vàng như gà con mới nở, đang đổ xăng vào một trong chiếc xe bằng chiếc thùng sắt màu xanh. Người lính nhìn lơ đãng đại đội đang tiến tới với đám tù nhân.

Sĩ quan ra lệnh, lính tan hàng, hầu hết lính Đức chạy vào trong nhà, cởi bỏ ba lô nặng trĩu trên vai, lớn tiếng nô đùa với nhau vui vẻ, sẵn sàng để tắm rửa (nếu có nước) và thưởng thức một bữa ăn nóng hổi. Đám lính còn lại khoảng một trung đội 40 người, bất bình vì còn nhiệm vụ, chắc chắn đang mệt nhọc và đói khát sau một ngày dài lăn lội trong rừng. Họ dồn chúng tôi đến cạnh một tòa nhà.

Một người Sĩ Quan Đức ngồi đợi, ngả người trong chiếc ghế bành, vừa đọc báo vừa hút thuốc. Hắn thoáng nhìn chúng tôi với nụ cười bất động, mừng rỡ, như thể vừa gặp bạn bè mới tới để ăn bữa cơm tối. Cuối cùng, để tờ báo qua một bên, đứng dậy gật đầu và quan sát từng khuôn mặt tù nhân, tình trạng y phục, giày tốt hay xấu. Hắn mặc bộ quân phục Waffen-SS màu xám, cổ tay áo màu xanh, chiếc áo lạnh khoác ngoài màu xám máng trên lưng ghế. Vika đi bên cạnh tôi, thì thầm “Lính Einsatzkommando.”

Khi chúng tôi bị sắp thành mấy hàng dài, tên sĩ quan Einsatzkommando liệng thuốc lá xuống tuyết và gật đầu với người thông dịch lính Sơn Cước da nhăn nheo. Chúng trao đổi tin tức mật với nhau bằng tiếng Đức, dường như khoe khoang với kẻ nào trong bọn tôi hiểu được tiếng Đức.

“Bao nhiêu?”

“Chín mươi bốn. Không, chín mươi hai.”

“Đúng? Và hai người bỏ lại dọc đường. Tốt lắm.”

Người sĩ quan Einsatzkommando, đối mặt với chúng tôi, ngắm nghía từng người, nhìn thẳng vào mắt. Hắn trông đẹp trai, đội chiếc mũ trận nghiêng ra phía sau, dơ chiếc trán rám nắng. Hàm râu trên tỉa cẩn thận, giáng như một ca sĩ hát nhạc Jazz.

Hắn bảo chúng tôi: “Đừng sợ, Tôi biết các anh đã đọc tuyên truyền. Bọn Cộng Sản muốn các anh nghĩ chúng tôi như những kẻ man rợ, đến đây để tàn sát. Nhưng tôi nhìn mặt các anh, quả là những công nông tốt, thực thà. Có người Cộng Sản Bolshevik nào trong các anh không?”

Không ai dơ tay. Tên lính Đức mỉm cười.

“Tôi nghĩ như vậy. Các anh thông minh hơn thế. Các anh hiểu rằng chủ thuyết  Bolshevik đơn giản là một ý tưởng cực đoan nhất của tụi Do Thái muốn chế ngự toàn thế giới.

Hắn nhìn đám người Nga đối diện, mặt trơ như đá, bày tỏ sự vui vẻ bằng cái nhún vai.

“Nhưng chúng ta không cần nói văn hoa bóng bẩy, Các anh cũng biết sự thực từ tận đáy lòng, Điều đó mới quan trọng. Không có lý do gì để nhân dân hai nước chúng ta phải chiến tranh. Cả hai chúng ta đều có một kẻ thù chung.”

Hắn ra dấu cho một người lính lấy chồng báo trên sạp gỗ đặt bên cạnh chiếc ghế bành và chia đều cho 5 người lính khác. Mấy người lính xen vào những hàng dọc tù nhân và phát cho mỗi người 1 tờ. Tờ báo của tôi là Komsomol’s Truth (Sự Thật của Liên Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Nga), Vika và Kolya nhận được tờ Sao Đỏ.

“Tôi hiểu rằng đây là một khái niệm khó nắm vững, sau bao nhiêu năm đã bị tuyên truyền. Nhưng hãy tin rằng đây là sự thật: Chiến thắng của người Đức cũng là chiến thắng cho nhân dân Nga. Nếu các bạn không hiểu bây giờ, các bạn cũng sớm hiểu thôi. Và con cháu bạn lớn lên cũng hiểu được thôi.”

Mặt trời đang lặn, làm bóng chúng tôi thành những người khổng lồ, viên sỹ quan Einsatz thích thú về những lời nói của hắn và ấn tượng hắn đã gieo vào lòng chúng tôi. Tiếng Nga của hắn về văn phạm thật chính sác, nhưng không muốn che dấu giọng phát âm địa phương. Tôi băn khoăn không biết hắn học tiếng Nga ở đâu. Có phải là hắn đã sinh ra ở một trong những thuộc địa cũ của Đức như Meltitopol hay Besarabia chẳng hạn. Hắn nhìn lên một chuỗi ba đám mây nhỏ trên mãi tân xa trên bầu trời trắng bạc.

“Tôi rất yêu đất nước này, mảnh đất đẹp tuyệt vời.” Hắn cúi đầu thấp và làm cử chỉ nhún vai buồn bã. “Chắc các bạn đang nghĩ, những lời biện hộ của tôi là vô dụng, Hai nước chúng ta đang trong chiến tranh, phải không? Sự thực là chúng tôi đang cần các bạn. Mỗi người trong các bạn có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề. Trong tay các bạn, đang cầm một tờ truyền đơn in những lời nói láo của chế độ. Các bạn cũng biết những tờ báo này trung thực thế nào rồi! Họ nói với các bạn rằng chiến tranh này đáng lẽ không sảy ra, sự thực là chúng ta đang ở trong tình trạng chiến tranh! Họ nói với bạn rằng quân Đức sẽ bị đẩy ra khỏi biên giới vào tháng  Tám, nói cho tôi biết” – Giọng hắn run rẩy – “Các bạn có nghĩ là tháng Tám không? Thôi không cần đâu, không cần. Mỗi người sẽ đọc to một đoạn. Những người chữ nghĩa giỏi sẽ theo chúng tôi đến Vyborg, ở đó tôi hứa các bạn sẽ được ăn ngày ba bữa trong thời gian thông dịch tài liệu cho chính quyền lâm thời. Được làm việc trong phòng có máy sưởi nữa cơ! Những người nào không đạt tiêu chuẩn, ái chà … hơi khó đây. Tôi chưa bao giờ đến nhà máy thép ở Estonia, nhưng tôi nghe nói đó là nơi rất nguy hiểm. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cho các bạn đồ ăn vẫn khá hơn những gì Hồng Quân phân phát cho các bạn – và tôi không dám đoán các bạn dân sự đã ăn gì trong mấy tháng qua.”

Một vài nông dân già nua than van và lắc đầu, nhìn nhau trao đổi những cái nhún vai. Người sĩ quan Einsatzkommando gật đầu với anh chàng thông dịch viên lính Gebirgsjager, trong vòng vài giây sau hai tên Đức bắt đầu khảo sát đám tù nhân. Họ chỉ cần nghe đọc vài câu để khẳng định trình độ tiếng Nga của người tù. Tôi nhìn vào tờ Pravda (Sự Thật). Trên đầu là đề mục chính được in nét đậm trích ra từ lời nói của Stalin. “Đồng Bào! Các Đồng Chí! Vinh quang vĩnh cửu cho các anh hùng đã hy sinh mạng sống của mình cho sự tự do và hạnh phúc của cả nước!”

Những người nông dân già nhún vai và trả tờ báo về cho hai tên lính Đức, không cần nhìn đến chữ nghĩa.  Nhiều người trẻ trong nông trường khó khăn lắm mới rặn ra vài chữ. Những người tù coi sự khảo sát này rất nghiêm trọng, chau mày cố gắng đoán ý nghĩa của những chữ vừa đọc. Hai tên Đức cười một cách rộng lượng đối với sai lầm của họ, vỗ vai mấy anh chàng mù chữ, và diễu cợt họ.

“Không thích đọc sách hả? Lo tán gái phải không?”

Chẳng bao lâu, đám tù nhân thấy thoải mái hơn, gọi bạn bè từ mãi tận những hàng ở xa. Họ cười cầu tài với cai ngục khi lắp bắp đánh vần từng chữ. Có vài kẻ tự đặt tin tức, làm như thể đang đọc bài báo trong khi bịa ra nào là cuộc chiến ngoại ô Mạc Tư Khoa hay đánh bom Trân Châu Cảng, bắt chước rất khá cách tường thuật họ nghe được trên đài vô tuyến. Hai tên Đức rất thích thú với mưu mẹo của chúng. Cả hai đều hiểu không ai bị lừa cả.

Lính Đức yêu cầu ai không đạt tiêu chuẩn đứng qua bên trái. Vài người đầu tiên tỏ ra xấu hổ, nhưng rồi cũng vui vẻ khi hàng ngũ mù chữ tăng lên cao.

“Ồ, Sasha, anh nữa à, tôi tưởng anh giỏi giang chứ!”

“Hãy nhìn hắn kìa, còn làm giáng trước mặt sĩ quan! Thôi đi, thôi đi, nhà máy thép là số phận của chúng ta! Sao, mày nghĩ mày sẽ được làm việc văn phòng hả? Diễu hoài; Nhìn hắn kìa, còn cố mãi.”

“Già Edik, ông nghĩ có thể lội bộ đến tận Estonia không? Nào, cố lên, vui lên, chúng tôi sẽ giúp ông.”

Đám người biết đọc, muốn gây ấn tượng với lính Đức. Họ đọc từng câu như thể một tài tử đang độc thoại. Nhiều người còn ráng đọc thêm khi đã bảo ngừng, nhấn mạnh những chữ lớn, ra vẻ thông thạo từ ngữ. Họ được xếp hàng bên phải, hãnh diện và rạng rỡ, gục gặc cái đầu với nhau, những kẻ có học, hài lòng một ngày đã trôi qua theo ý nguyện. Vyborg không xa lắm, và làm việc trong phòng ấm cúng với máy sưởi cùng ba bữa ăn một ngày vẫn hơn là ngồi trong giao thông hào cả đêm chờ pháo địch.

Kolya trợn mắt nhìn những kẻ biết đọc chúc mừng nhau. “Nhìn bọn họ xem, “hắn thì thầm trong hơi thở. “Họ chỉ muốn được tưởng thưởng vì đọc được báo ư. Còn bọn Đức tỏ vẻ khinh dể biết bao. Chắc tao phải đọc cho chúng nó nghe chương đầu của Eugene Onegin. Xem chúng có nể không? 60 đoạn thơ, ta ta ta ... Chúng tưởng chỉ nước Đức mới có văn hóa trên toàn lãnh thổ Châu Âu thôi sao? Chúng có muốn so tài của Goethe và Heine với Pushkin và Tolstoy không? Chúng có thể khá về âm nhạc, nhưng cũng xuýt xoát thôi. Được đi, cho chúng âm nhạc. Và triết học. Còn văn chương? Không, không đời nào.”

(còn tiếp)

 

Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn