
Hai mươi phút sau, chúng tôi lại lê bước trên tuyết, sự ấm cúng trong căn nhà nông trại đã biến mất khỏi trí nhớ. Bên cánh trái và phải có những hàng cây thông cổ thụ che chở, theo lệnh của Korsakov chúng tôi đi theo hàng một, mỗi người cách nhau chín bước. Tôi không hiểu rõ ý nghĩa của đội hình di chuyển chiến thuật này cho lắm, nhưng tôi tin tưởng những người chiến binh đầy kinh nghiệm phục kích và hiểu họ phải làm gì. Kolya đi phía trước, tôi cúi đầu thấp nên chỉ nhìn thấy lai áo khoác ngoài và đôi ủng da đen của hắn. Tất cả những người khác chỉ còn là bóng ma trong đoàn bộ hành ngắn ngủi, không thấy và không nghe gì cả, trừ ra thỉnh thoảng tiếng cành cây khô bị đạp trúng hay tiếng lách cách mở nắp bình nước cá nhân để uống nước trà nóng.
Tôi chưa bao giờ thật sự tin rằng những người lính vừa đi vừa ngủ là điều hiển nhiên, cho đến khi chúng tôi tiếp tục đi về hướng đông, được ru bởi nhịp đều đều của những đôi ủng bước lên và đặt xuống trên tuyết, tôi lảo đảo giữa tỉnh và thức. Dù cho thời tiết lạnh lẽo vẫn không giúp tôi thức tỉnh hoàn toàn. Novoye Koshkino chỉ cách căn nhà nông trại vài cây số đường bộ, nhưng chúng tôi tránh xa đường lộ, ngoài vòng đai trại lính Đức. Nếu không có người dẫn đường chắc Kolya và tôi đã đâm sầm vào trại lính mất thôi. Kolya đã cho tôi hay, đi bộ mất 4 tiếng; chưa hết một tiếng tôi đã có cảm giác người nào đó vừa đổ nước đường đặc quánh vào cái lỗ trên sọ của tôi. Bất cứ làm điều gì tôi cũng hành động một cách chậm chạp. Nếu muốn gãi cái mũi, tôi nhận ra rằng cái lệnh từ óc được bàn tay thi hành một cách miễn cưỡng. Đó là cuộc hành trình dài của cái tay đưa lên mặt, rồi tìm kiếm cái mũi (thường là mục tiêu dễ dàng), và bàn tay trở về một cách hài lòng trong cái hang ấm áp mãi sâu trong cánh tay của chiếc áo khoác ngoài của cha tôi.
Càng mệt mỏi, tôi càng không tin cái gì đang xảy ra. Làm sao nó có thể là thật được? Chúng tôi là một lũ chuột mê muội, bước đi dưới mặt trăng trắng đục treo trên bầu trời đen thui. Một tên phù thủy đang sống ở Novoye Koshkino, hắn biết những câu thần chú thời cổ đại, có thể biến chúng tôi trở lại thành những người đàn ông như trước đây. Nhưng mà bao nhiêu hiểm nguy đang chờ đợi, một con mèo đen khổng lồ sẽ bới tuyết vồ chúng tôi đang khi cả bọn sợ hãi cong đuôi chạy tìm chỗ ẩn nấp.
Đôi giày ủng của tôi lún sâu trong một gò tuyết mềm, tôi suýt bị trặc chân. Khi nghe thấy tiếng chân tôi loạng choạng, Kolya dừng bước và quay lại nhìn nhưng tôi gượng lại được và gật đầu với hắn, tiếp tục đi không cần sự giúp đỡ.
Mấy cô gái sống trong căn nhà nông trại đã ra đi cùng lượt với chúng tôi. Họ không có áo khoác mùa đông và ủng đi tuyết; tụi Đức đã tịch thu sau khi Zoya bỏ trốn. Không có quần áo để mặc cho đúng mức, mấy cô mặc tất cả áo sẵn có, kể cả sơ mi và áo lạnh và một quần dài ấm mùa đông bó sát đùi mặc bên trong, cho đến khi họ lắc lư dưới sức nặng và khệnh khạng bước ra đại sảnh như những mụ béo phì nhà quê say rượu. Galina có ý lấy mấy chiếc áo khoác của tụi lính Đức, nhưng nàng bỏ ý định ấy ngay – cơ hội rủi ro đã cao, nếu họ bị bắt lại, và bị bắt khi đang mặc mấy áo khoác của đám sĩ quán bị tàn sát, cuộc đời kể như xong.
Kolya và tôi hôn lên má mấy nàng ở ngưỡng cửa. Họ quyết định không đi về Leningrad; một vài người có gia đình ở đó, nhưng thân nhân có thể đã chết hoặc chạy thoát về hướng đông rồi. Quan trọng hơn nữa, không còn thực phẩm cho cư dân ở đó và chắc chắn cũng không có thực phẩm cho 4 cô gái quê không có tem phiếu. Leningrad là không hợp lý, cho nên họ chọn về hướng nam. Họ mang theo tất cả đồ phòng bị còn xót lại, sau khi bọn dân quân lấy những gì họ muốn. Korsokov cho phép họ giữ hai khẩu súng ngắn Lugers của bọn Đức làm vũ khí phòng thân. Rủi nhiều may ít, nhưng cả bọn bước ra khỏi căn nhà, lòng đầy hân hoan. Họ đã ở tù trong đó nhiều tháng nay, chịu đựng hành hạ đêm này qua đêm khác, bây giờ tất cả được tự do. Tôi hôn lên tất cả 8 cái má, vẫy tay chào tạm biệt, và chẳng bao giờ còn thấy lại họ hoặc nghe nói về họ.
Có cái gì đập nhẹ trên vai, tôi mở bừng mắt và nhận ra mình đã bước đi trong cơn mơ màng. Kolya đi bên cạnh, tay mang găng của hắn nắm lấy tôi qua áo khoác.
“Mày vẫn còn tỉnh chứ?” hắn thì thầm hỏi tôi, nhìn tôi ái ngại.
“Tao đây nè.”
“Tao sẽ đi bên cạnh mày. Giữ mày tỉnh ngủ.”
“Korsakov đã bảo chúng ta –“
“Tao không nhận lệnh của con heo khốn kiếp đó. Mày thấy đấy, nó đối xử với mấy cô gái như thế nào.”
“Mày là người thân mật với hắn mà.”
“Chúng ta cần hắn lúc này. Và cô bạn gái bé nhỏ của hắn … Tao thấy mày nhìn cô bé đắm đuối ở chỗ lò sưởi. Mày muốn thử thời vận với cô bé bắn sẻ hả, ha! ha!”
Tôi lắc đầu, quá mệt mỏi dù chỉ phản bác lời chọc tức của hắn.
“Mày đã gần gũi với nàng tóc hung đỏ nào chưa? Ồ không, tao nói gì vậy, mày chưa từng gần gũi với bất cứ cô nào mà. Cái hay là các cô ấy hết xảy trong chuyện chăn gối. Hai trong ba cô làm tình giỏi trong đời tao có tóc hung đỏ. Không phải, hai trong bốn chứ. Nhưng mặt trái của đồng tiền là, họ ghét đàn ông. Coi chừng, họ dễ nổi giận đó, bạn ơi.”
“Tất cả các cô gái tóc hung đỏ đều ghét đàn ông?”
“Suy nghĩ cho cùng, cũng có lý. Bất cứ cô gái tóc hung đỏ nào mày gặp, phần lớn cô ta có dòng máu Viking, những kẻ cướp biển, đi lung tung khắp nơi chặt tay người ta và hãm hiếp con gái. Các cô con gái bị hãm hiếp đó là tổ tiên của cô ta bây giờ. Cô ta có dòng máu ăn cướp chảy trong người.”
“Đấy là câu chuyện thú vị, mày nên kể cho cô ta nghe.”
Mỗi bước chân, tôi cố đặt trên dấu chân của người dân quân đi trước, cách chúng tôi 18 bước. Bước lên trên tuyết đã bị nén chặt mất ít sức lực hơn bước lên tuyết mềm, nhưng người đi trước tôi chân dài, tôi khốn khổ lắm mới bắt kịp hắn.
“Và tao muốn hiểu rõ rằng.” Tôi bắt đầu, thở hổn hển và luồn qua một cành cây thông xà xuống nặng nề với những lá nhọn như cây kim, “chúng ta đang đi đến Novoye Koshkino để tìm bộ chỉ huy của bọn sát nhân Einsatzgruppe bởi vì có thể chúng có trứng gà ư?”
“Đó là việc chúng ta làm cho Đại Tá. Nhưng còn cho chúng ta, và cho nước Nga, chúng ta tiến đến Novoye Koshkino để giết chết đám sát thủ Einsatz bởi vì chúng đáng bị giết.”
Tôi cúi đầu xuống thấp để gió không hất vào mặt nhờ chiếc cổ kéo lên cao của chiếc áo khoác của cha tôi che chở. Bàn cãi thêm nữa có ích gì? Kolya nghĩ hắn có chút máu Bohemian, tự do suy nghĩ, nhưng theo cách riêng của hắn, hắn đích thực là người cuồng tín chẳng khác mấy với đám thanh niên tiền phong. Cái tệ nhất là tôi lại không cho là hắn sai lầm. Tụi lính Einsatzkommandos phải bị tiêu diệt trước khi bị chúng tiêu diệt. Tôi chỉ là không muốn mình là người chịu trách nhiệm làm việc đó. Tôi phải len lỏi vào sào huyệt của chúng chỉ với con dao này để phòng thân thôi sao? Năm ngày trước đây, cuộc thám hiểm này có thể coi như là một cuộc phiêu lưu vĩ đại mà tôi đã chờ đợi từ khi cuộc chiến bắt đầu. Bây giờ, đang nửa chừng, tôi ước là mình đã rời khỏi thành phố hồi tháng Chín với Mẹ và em gái.
“Mày có nhớ đoạn cuối cuốn sách The Courtyard Hound không? Khi Radchenko thấy ông giáo sư già của hắn ngã nhào xuống đường, đang lầm bầm với mấy con chim bồ câu không?”
“Cảnh tệ hại nhất trong lịch sử văn học.”
“Ồ, xin lỗi nghe, mày chưa bao giờ đọc cuốn sách đó.”
Có một điều an ủi một cách kỳ cục của cái tính trước sau như một trong con người Kolya, đó là hắn sẵn sàng kể lại một chuyện hề – nếu bạn coi đó là chuyện hề – lập đi lập lại nhiều lần. Hắn giống như một Ông nội vui vẻ lẩm cẩm ngồi nơi bàn ăn, với cổ áo dính đầy món súp củ cải đỏ, kể lại lần nữa câu chuyện ông từng gặp Hoàng Đế, mặc dù cả gia đình đều thuộc lòng câu chuyện đó.
“Một trong những đoạn hay nhất trong văn chương, mày biết không. Giáo sư của ông ta là một cây bút danh tiếng thời đó, nhưng bây giờ ông giáo sư đó đã bị người ta quên hoàn toàn. Radchenko cảm thấy hổ thẹn cho giáo sư. Ông ta nhìn giáo sư qua cửa sổ phòng ngủ -- Radchenko không bao giờ ra khỏi chung cư của ông ta ; nên nhớ rằng, đã 7 năm rồi, ông ta chưa hề rời khỏi nhà. Ông ta nhìn giáo sư đến khuất tầm mắt, đá mấy con bồ câu, nguyền rủa chúng. Kolya hắng giọng và gân cổ đọc. “Tài năng giống như một tình nhân yêu cuồng nhiệt. Nàng đẹp sắc sảo; khi bạn ở bên nàng, người ta nhìn bạn, và thán phục bạn. Nhưng khi nàng đập cửa nhà bạn trong lúc đêm hôm khuya khoắt, rồi biến mất một thời gian dài và cô ta không thể kiên nhẫn với những hiện hữu bên cạnh bạn: Vợ bạn, con bạn, bạn bè của bạn. Nàng tạo nên một đêm ly kỳ nhất trong tuần của bạn, nhưng rồi một ngày nàng sẽ rời xa bạn mãi mãi. Mấy năm sau, bỗng nàng xuất hiện, trong cánh tay một chàng trẻ tuổi và làm như thể không biết bạn là ai.”
Rõ ràng là sự mệt mỏi chẳng làm khó được Kolya khiến tôi ngạc nhiên vô cùng. Tôi vẫn bước đi bằng cách nhìn cái cây to ở đàng xa và tự hứa với mình sẽ không bỏ cuộc trước khi đến đó – và khi đến đó, tôi lại thấy một cây khác và thề rằng đây là cây cuối cùng. Còn Kolya có thể lang thang trong rừng, đọc hằng giờ như kịch sĩ thì thầm đối đáp trên sân khấu.
Tôi chờ cho đến khi hắn đọc xong và gật đầu: “Hay lắm.”
Hắn mau mắn: “Thế hả?” tỏ ra rất hài lòng về nhận xét của tôi. Cái kiểu trả lời của hắn khiến tôi chú ý đến khuôn mặt hắn sáng như ánh trăng.
“Mày thuộc lòng gần hết cả cuốn sách hả?”
“Không đâu, chỗ này một đoạn chỗ khác một đoạn thôi.”
Tuyết dày hơn khi chúng tôi trèo qua một ngọn đồi để tới mục tiêu kế tiếp, mỗi bước chân trở nên nặng nhọc, tôi thở hổn hển, khò khè như một ông già chỉ còn một lá phổi.
“Tao có thể hỏi mày câu này không?”
“Mày mới hỏi rồi thôi,” hắn trả lời với nụ cười hài lòng.
“Mày viết cái gì trong khi ghi sổ tay vậy?”
“Tùy theo ngày. Đôi khi chỉ là ghi lại sự việc trước mắt. Đôi khi nghe ai nói điều gì tao thích thì ghi lại một đôi dòng.”
Tôi gật đầu và tập nhắm một mắt 10 giây, rồi mắt kia 10 giây, thay đổi như vậy để mắt đỡ mỏi và tránh gió.
“Tai sao hỏi vậy?”
“Tao nghĩ mày đang viết truyện The Courtyard Hound.”
“Mày nghĩ…ý mày muốn nói là phê bình cuốn The Courtyard Hound? Ừ, đúng vậy. Tao đã nói với mày rồi. Một ngày nào đó tao sẽ thuyết trình về cuốn sách đó. Có lẽ có bảy người trong nước Nga hiểu rõ hơn tao về Ushakovo.“
“Tao nghĩ Ushakovo không có thật.” Tôi đẩy cái mũ lên cao để có thể nhìn hắn rõ hơn. “Mày luôn nói với tao là cuốn sách này đã xưa lắm rồi, nhưng tao chưa hề nghe ai nhắc tới. Và mày rất vui mừng khi nghe tao nói là tao thích nó, mày rất hãnh diện. Nếu tao nhắc ý tưởng của Pushkin với mày, mày chỉ nói viết hay thế thôi, nó đâu có làm cho tao hãnh diện, phải không? Những câu đó không phải do tao viết ra mà.”
Thái độ của hắn không hề thay đổi. Vẻ mặt chẳng tỏ ra chấp nhận hay chối từ điều gì. “Nhưng mày thích phải không?”
“Cũng không tệ lắm, mày mới nghĩ ra điều đó phải không?”
“Mới vài giờ thôi. Mày biết cái gì gây cảm hứng cho tao không? Bài thơ của Bố mày. ‘Một nhà thờ kỳ cựu, nổi tiếng một thời, thấy trong quán cà phê.’”
“Đó là một manh mối khác. Mày đã ăn cắp ý của ổng rất tự nhiên.”
Hắn cười lớn, thả một ngụm hơi lớn vào không khí lạnh lẽo.
“Đây là văn chương. Chúng ta không gọi đó là ăn cắp; chúng ta gọi là sự tôn kính. Thế còn câu đầu tiên của cuốn sách? Mày cũng thích phải không?”
“Tao không nhớ câu đầu tiên của cuốn cách.”
“Trong lò sát sinh, nơi chúng tôi hôn nhau lần đầu, không khí vẫn còn tanh mùi máu cừu.”
“Hơi quá đáng, phải không?”
“Kịch nghệ một tí thì sao chứ? Tất cả những văn sĩ hiện đại đều là những con cá con nhút nhát – .”
“Tao nói là phóng đại.”
“—nhưng nếu đề tài đòi hỏi sự chú ý tối đa, nó phải được chú ý tối đa.”
“ Thế ra lâu nay… Tại sao mày không chịu thú thật với tao là mày đang viết một tiểu thuyết?”
Kolya ngắm mặt trăng, đang từ từ xuống tới đỉnh mấy cây thông. Chẳng bao lâu nữa, chúng tôi sẽ lội bộ trong màn đêm dày đặc, chúng tôi sẽ vấp phải những rễ cây và trượt chân trên những đống băng đá đen thùi.
“Sự thật là, trong đêm đầu tiên tao gặp mày? Trong nhà tù The Crosses? Tao tưởng là chúng mình sẽ bị bắn bỏ vào rạng sáng hôm sau. Cho nên tao có nói với mày diều gì thì cũng có gì quan trọng ? Tao đã nói bất cứ ý tưởng gì nảy ra trong đầu của tao lúc đó.”
“Mày đã nói với tao có lẽ họ sẽ không bắn chết mình mà!”
“Tự vì mày trông có vẻ sợ hãi. Nhưng mà suy nghĩ cho cùng: một tên ăn trộm và một thằng đào ngũ? Chúng ta còn gì để hy vọng?”
Cái cây tôi chọn làm đích sắp tới dường như xa vời vợi, một cái bóng của cây thông to lù lù cao hẳn hơn những anh em khác của nó, một cây thông đứng canh im lìm, già hơn những cây khác. Trong khi tôi thở hổn hển thì Kolya nhắp nước trà trong cái bình nhôm của nó, giống như một người ưa cảnh thiên nhiên dạo chơi ngoài trời lúc ban đêm. Khẩu phần của lính vượt xa khẩu phần người dân thường – đó là tôi tự lý giải cho sức khỏe bền bỉ vượt bực của hắn, gạt bỏ sự thật là chúng tôi ăn cùng một thứ khẩu phần đã mấy ngày hôm nay.
“Mày nói là mày bỏ đơn vị để bảo vệ luận án về cuốn sách The Courtyard Hound của Ushakovo,” tôi nói, ngưng giữa mỗi câu để thở. “Và bây giờ mày thừa nhận rằng không có Ushakovo và cũng chẳng có The Courtyard Hound.”
“Nhưng rồi sẽ có. Nếu tao sống tới ngày đó.”
“Thế tại sao mày bỏ đơn vị?”
“Hơi rắc rối một chút.”
“Hai người sắp sửa ấy nhau trong bụi rậm phải không?”
Kolya và tôi nhẩn nha, trong khi Vika bắt kịp phía sau không một tiếng động, gần đến nỗi tôi có thể dang tay ra sờ được má của nàng. Cô ta nhìn trừng vào mặt chúng tôi với vẻ khinh khỉnh, tỏ thái độ chán ghét vì đã nhập bọn với hai tên lính chẳng ra gì.
“Các anh đã được lệnh đi hàng một cách nhau 9 bước.” Âm thanh rất thấp so với kích thước bé bỏng của nàng, rè rè, như thể nàng đã bị bịnh tuần trước, và thanh quản chưa khỏi hẳn. Cô ta là người ra dấu bằng miệng, có thể phát âm từng chữ để chúng tôi có thể hiểu tất cả, mà những người đứng cách xa 5 thước chẳng hề nghe thấy gì.
“Hai người đi thơ thẩn với nhau như đôi đồng tính, bàn bạc về sách vở. Chắc các người biết là chúng ta đã gần đến trại lính Đức chỉ cách đây 2 cây số thôi? Các người muốn bị chôn cùng lỗ với đám Cộng Sản và Do Thái thì đó là chuyện riêng của các người, còn tôi dự định sẽ viếng thăm Bá Linh năm tới.”
“Hắn là người Do Thái.” Kolya nói, chỉ vào tôi bằng ngón tay cái, mặc kệ tôi giận dữ nhìn hắn.
“Đúng không? Thôi được, anh là người Do Thái ngu đầu tiên tôi gặp. Hãy chọn quay trở lại thành phố Piter hay là ngậm miệng lại, và theo kỷ luật của chúng tôi. Đó là lý do tại sao chúng tôi chưa mất một người nào trong hai tháng qua. Bây giờ tiếp tục đi đi.”
Nàng đặt một tay trên lưng của mỗi đứa và đẩy cả hai về phía trước. Chúng tôi im lặng, xấu hổ, trở về vị trí cũ trong đội hình hàng một, khoảng cách 9 bước.
Có một lý do nào đó tôi không hề giận Kolya. Tôi suy tư về một tác giả không có thật Ushakovo và một tác phẩm vĩ đại không hề có The Courtyard Hound. Đó là sự bịa đặt lạ lùng, nhưng vô hại, càng bước xa tôi càng hiểu động cơ thúc đẩy hắn. Kolya dường như không biết sợ là gì, nhưng mà nói cho cùng ai cũng có nỗi sợ hãi tiềm ẩn đâu đó trong người; nỗi sợ hãi là một phần di sản của chúng ta. Có phải tổ tiên chúng ta là những con chuột bé nhỏ rụt rè, ẩn nấp hèn hạ trong bóng tối, để những thú dữ hiên ngang bước ngang qua? Bọn ăn thịt người và Phát Xít Đức không làm Kolya mất bình tĩnh, nhưng mà cơ hội bị mất mặt làm hắn lo sợ -- có thể một người lạ mặt nào đó sẽ chê bai khi đọc những hàng chữ hắn đã viết.
Cha tôi có rất nhiều bạn bè, hầu hết là người cầm bút, và họ đã chọn căn chung cư của chúng tôi làm hội quán bởi vì tài nấu ăn của mẹ tôi và cũng vì cha tôi không muốn tống cổ ai ra ngoài. Mẹ than phiền rằng bà đã điều khiển một khách sạn văn. Một nơi hôi mùi thuốc lá và mẩu thuốc còn lại quăng tứ tung, trong các chậu cây kiểng, trong những tách nước uống dở dang. Một đêm, một nhà soạn kịch tài ba muốn dựng lại cuộc chiến Cannae, ông ta nhét hàng tá mẩu thuốc lá vào những chân đèn cầy bằng thủy tinh, chung với sáp còn đọng trong đó, đặt trên chiếc bàn nhà bếp. Những chân đèn là biểu tượng cho đội quân của đế quốc La Mã và đế quốc Carthage. Nhà soạn kịch muốn trình bày chiến thuật tấn công cùng lượt hai bên mạn sườn (Double envelopment) do tướng Hannibal chỉ huy. Mẹ tôi khổ sở với sự ồn ào, thủy tinh bể, thảm hôi mùi rượu rẻ tiền của Ukraine, nhưng tôi biết người thích được chiêu đãi đám văn thi sĩ đó, hài lòng khi họ ăn ngấu nghiến món thịt hầm của bà hay ca tụng những cái bánh bà làm. Khi bà còn trẻ, bà là người đàn bà đẹp, dù không cợt nhả với ai nhưng bà cũng thích những kẻ có mã chọc ghẹo bà. Bà hay ngồi trên trường kỷ bên cạnh cha tôi và lắng nghe những cuộc tranh luận, những lời huyênh hoang và chê bai ồn ào, bà chẳng nói gì nhưng nghe tất cả, dành để chất vấn cha tôi khi người say cuối cùng lảo đảo bước ra khỏi nhà. Bà chẳng phải là văn sĩ, nhưng là một đọc giả khôn ngoan, đam mê và trung hòa và cha tôi rất tin tưởng vào sự nhận xét của bà. Khi một nhân vật nổi tiếng viếng thăm chung cư của chúng tôi, như Mandelstam hay Chukovksy chẳng hạn, Mẹ chẳng đối đãi gì đặc biệt, nhưng tôi có thể thấy, Bà quan sát họ kỹ lưỡng hơn, thẩm định cách cư xử của họ với cha tôi. Trong ý nghĩ của Bà, giới cầm bút được phân chia cấp bậc chính xác như quân đội; cấp bậc không có chức tước và huy hiệu nhưng họ xếp hạng cũng như thế, và Mẹ muốn biết cha tôi đứng ở vị trí nào trong hàng ngũ đó.
Đôi khi, sau khi tất cả các chai rượu đã cạn hết, một thi sĩ nào đó sẽ đứng dậy lắc lư một chút như thể cơn gió mạnh đang thổi đến, và đọc bài thơ mới sáng tác của mình. Tôi mới vừa tám tuổi, từ ngoài hành lang chạy vào phòng khách, biết rằng mình sẽ bị chặn lại rất mau, hy vọng người ấy là cha tôi (ông chẳng bao giờ nổi giận, Mẹ thì sẽ nhanh nhẹn đánh vào sau lưng), những bài thơ ấy chẳng có ý nghĩa gì với tôi. Hầu hết các nhà thơ đều muốn họ sẽ nổi tiếng như Mayakovsky, và trong khi họ chẳng thể nào sánh với tài năng của ông ta nên bắt chước khả năng của ông, hét lên những vần thơ không có nghĩa lý gì đối với một cậu bé 8 tuổi như tôi, và có thể có một chút ý nghĩa đối với những người khác đang ở trong phòng. Nhưng dù những bài thơ đó không gây một ấn tượng nào với tôi, cách trình diễn của họ thì có – những người bự con này với chân mày rậm rạp, luôn cầm thuốc lá giữa những ngón tay, cái tàn dài gãy ra rơi xuống nền nhà mỗi khi họ vung tay quá mạnh. Họa hoằn lắm mới có một người đàn bà đứng lên, bà ta sẽ bị nhìn chòng chọc – Một lần ngay cả nữ sĩ Akhmatova cũng bị như vậy, đó là theo lời mẹ tôi kể lại, tuy nhiên tôi không nhớ là đã thấy bà ta.
Đôi khi các thi sĩ đọc từ những tờ giấy ghi vội, hay chỉ đọc theo trí nhớ. Khi họ đọc xong, nhận ra rằng tất cả mọi người đều chăm chú nhìn mình, họ vội vơ lấy ly rượu nào gần nhất – không phải chỉ để uống, mà còn muốn có cái gì để làm, khiến chân tay không thừa thãi trong khi chờ đợi phản ứng của thính giả. Đây là một đám khán giả bao gồm những nhà chuyên nghiệp, những đối thủ cạnh tranh, và thường tán thưởng một cách hời hợt, vài cái gật đầu nhè nhẹ, vài nụ cười, hay vỗ nhẹ trên lưng.
Một hay đôi lần, tôi chứng kiến những người cầm bút hay ganh tị này bỗng cuồng nhiệt cổ võ, họ quá xúc động đối với một bài thơ hùng hồn, họ đã quên mất lòng ganh tị và hét lên, “Hoan Hô! Hoan Hô!” rồi chạy đến hôn trên má người thi sĩ đang vui mừng ngơ ngác với đôi môi ẩm ướt nhễ nhại, họ vò đầu tóc thi sĩ, đọc lại những câu thơ hay nhất, và gục gặc đầu tán thưởng.
Ngoài ra, thường thì họ phản ứng một cách khinh khỉnh trong yên lặng, không ai muốn nhìn vào mắt người thi sĩ hay giả vời bày tỏ sự quan tâm đến đề tài thi sĩ trình bày, hoặc chỉ khen ngợi một cách hời hợt sự xử dụng một ẩn dụ sống động. Khi một buổi diễn ngâm thất bại, người thi sĩ nhận ra được ngay. Thi nhân sẽ nốc một ly rượu, dùng tay áo của mình chùi mép, khuôn mặt đỏ ửng vì xấu hổ và lủi ra xa, làm ra vẻ chăm chú những cuốn sách trên kệ của cha tôi – như Balzac và Stendahl, Yeats và Baudelaire. Kẻ thất bại sẽ dời khỏi buổi họp mặt sau đó, nhưng bỏ đi quá sớm sẽ tỏ ra mình không có tinh thần thượng võ, một kiểu phản kháng hèn hạ, cho nên thi sĩ phải chờ đợi trong hai mươi phút một cách đau khổ, những người khác cố gắng không nhắc đến bài thơ ấy, tỷ như một cái rắm thối mà không ai nhẫn tâm kêu lên. Cuối cùng thi sĩ sẽ cám ơn mẹ tôi những món ăn ngon và lòng hiếu khách của bà, mỉm cười nhưng không nhìn vào mắt bà, và vội vàng biến ra khỏi cửa. Thi sĩ cũng biết rằng chỉ một phút sau thôi, mọi người sẽ chế nhạo về sự thảm khốc ông ta đã trình bày, nào là thật khủng khiếp, nào là một cái bao lổn nhổn những kỳ vọng và gian xảo
Kolya tự bảo vệ bằng cách đẻ ra Ushakovo. Một nhà văn tưởng tượng làm con rối để hắn có thể mang ra thử thách câu mở đầu, triết lý của nhân vật chính, ngay cả tiêu đề của cuốn sách, đo lường phản ứng của tôi mà không sợ bị chế nhạo. Sự dối trá, dù không hoàn hảo nhưng hắn đã kết thúc một cách vẹn toàn, và tôi nghĩ rằng nếu hắn sống sót qua cuộc chiến này, một ngày nào đó hắn sẽ viết một tiểu thuyết giá trị nếu chịu bỏ đi câu mở đầu sáo ngữ đó.
Cuộc nói chuyện với Kolya và đối đầu với Vika đã làm tôi tỉnh ngủ, tôi quan sát chung quanh khu rừng, hy vọng người đi trước và sau tôi có thể nhìn trong đêm tối rõ hơn tôi. Trăng đã xuống dưới ngọn cây; bình minh thì ít nhất vài giờ nữa mới đến; bây giờ bóng tối bao phủ mọi nơi. Đã hai lần tôi xém đụng vào thân cây. Bầu trời đầy sao, nhưng chỉ dể trang trí thôi, và tôi tự hỏi tại sao những mặt trời xa vời đó chỉ hiện ra như những đốm lửa chỉ to bằng đầu mũi kim. Nếu những nhà thiên văn nói đúng, và vũ trụ dầy đặc những vì sao, nhiều vì sao đó còn to hơn cả mặt trời gấp bội, và nếu ánh sáng di chuyển mãi mãi không bao giờ chậm hay biến mất, thì tại sao bầu trời không sáng rực rỡ suốt ngày? Câu trả lời thật là hiển nhiên mà tôi nghĩ mãi không ra. Ba mươi phút trôi qua, tôi không hề lo lắng đến bọn sát thủ Einsaztkommandos và người chỉ huy chúng, Abendroth; tôi quên mất cái bắp thịt bị chuột rút ở chân tôi; tôi cũng chẳng để ý đến cái giá lạnh của đêm đông. Có thể nào những vì sao giống như cái đèn pin, không thể nào chiếu sáng vượt qua một khoảng cách xa nào đó không? Từ trên nóc nhà của khu chung cư Kirov tôi có thể thấy được ánh sáng đèn pin của người lính ở cách xa vài cây số mặc dầu ánh sáng đó không soi sáng được mặt tôi. Nhưng một lần nữa, tôi tự hỏi tại sao ánh sáng đèn pin đó yếu đi sau khi di chuyển một khoảng cách? Có phải những hạt ánh sáng tung ra như những viên bi trong đạn shotgun? Có phải ánh sáng được tạo thành bởi những hạt li ti?
Những cái thắc mắc không rõ ràng của tôi cuối cùng cũng chấm dứt khi tôi đụng phải lưng của Kolya, đập cái mũi tôi vào đó và la lên vì bất ngờ. Hàng chục tiếng “suỵt” nổi lên bảo tôi im lặng. Nheo mắt nhìn những bóng lờ mờ trước mặt, tôi thấy tất cả mọi người đã tề tựu bên cạnh một tảng đá lớn bị tuyết che phủ . Vika đã đứng trên đỉnh tảng đá; tôi không hiểu làm sao nàng có thể leo lên cạnh đá trơn, đóng băng trong đêm tối.
“Chúng nó đang thiêu rụi làng mạc,” nàng nói xuống với Korsakov. Ngay khi đó tôi ngửi thấy mùi khói trong không khí.
“Chúng nó đã tìm được những tử thi,” Korsakov trả lời.
Tụi Đức đã tuyên bố rõ chính sách trả thù đối với cư dân trong vùng bị chiếm đóng. Chúng dán cáo thị trên tường; đọc công bố trên đài truyền thanh nói tiếng Nga của họ; nhắn tin qua đám cộng tác viên rằng: một lính Đức bị chết, chúng sẽ giết 30 người Nga để trả thù. Săn bắt kháng chiến quân thì khó, nhưng gom một số đông người già, đàn bà và trẻ con thi dễ, dù bây giờ một nửa nước đang chạy trốn.
Tôi cũng không biết Korsakov và bọn người của ông ta có động lòng khi biết rằng bao nhiêu người vô tội đã bị tàn sát vì cuộc tập kích lúc chập tối của đám kháng chiến quân không? Tôi không nghe bọn họ đả động gì tới cả trong cuộc trao đổi thì thầm với nhau. Kẻ thù đã tuyên chiến toàn diện khi xâm chiếm đất nước chúng tôi. Chúng lập lại lời thề nhiều lần là sẽ thiêu rụi tất cả thành phố và bắt dân chúng làm nô lệ. Chúng tôi không thể chiến đấu một cách nhân nhượng. Chúng tôi không thể đánh một cuộc chiến toàn diện với một nửa về phía chúng tôi. Kháng chiến quân sẽ tiếp tục tấn công bọn Đức và quân thù sẽ tiếp tục giết hại người dân không trang bị vũ khí; và dần dà tụi phát xít Đức sẽ hiểu được rằng chúng không thể thắng cuộc chiến dù rằng chúng vẫn giết 30 người dân cho mỗi tên lình Đức bị chết. Bài tính thật phũ phàng, nhưng bài tính phũ phàng luôn luôn mang lại lợi thế cho nước Nga.
Vika nhảy xuống từ tảng đá. Korsakov bước lại trao đổi tin tức với nàng. Khi đi ngang qua chúng tôi, anh ta lẩm bẩm với Kolya, “Thôi, chỉ có vậy cho Novoye Koshkino.”
“Chúng ta không đến đó sao?”
“Tai sao phải đến đó? Mục đích là đến đó trước khi mặt trời mọc và tìm kiếm bọn Einsatz. Cậu có ngửi thấy mùi khói không? Bọn Einsatz đang săn lùng chúng ta đó.”
Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn
