
Chúng tôi tăng tốc độ lội bộ nhanh gấp đôi qua khu rừng phong, đường rầy xe lửa ở bên trái, và mặt trời xuống thật nhanh.
Kolya không thốt một lời từ khi rời khỏi cánh đồng đầy xác chó. Tôi có thể nhận ra hắn đang lo lắng về thời gian; hắn đã tính toán sai tốc độ, chúng tôi có thể đi nhanh thế nào trên cánh đồng đầy tuyết, và sự la cà đã khiến chúng tôi không thể đến Mga trước khi trời tối. Thời tiết băng giá bây giờ còn nguy hiểm hơn tụi Đức nhiều và nhiệt độ đã bắt đầu xuống thấp thật nhanh. Nếu không có chỗ trú ẩn chúng tôi chết chắc.
Từ khi từ giã anh chàng Trung Sĩ giống người Tartar, chúng tôi không hề gặp ai khác, vừa đi vừa trông chừng khoảng cách với nhà ga xe lửa bị bỏ hoang ở Koloniya Yanino và Dubrovka. Dù từ một khoảng cách 200 thước chúng tôi cũng thấy được tượng Lenin đã bị giật sập bên ngoài nhà ga Dubrovka, với hàng chữ màu đen vẽ trên tường xi măng: STALIN IST TOT! RUSSLAND IST TOT! SIE SIND TOT!
Mới ba giờ chiều, mặt trời đã khuất sau mấy ngọn đồi phía Tây, đám mây xám phủ trên đầu chúng tôi tỏa ra những tia sáng màu cam. Tôi nghe tiếng rầm rì của động cơ máy bay, ngẩng đầu lên thì thấy 4 chiếc Messerschmitts đang bay vội về phía Leningrad, thật cao trên đầu chúng tôi, chẳng hại gì, giống như mấy con ruồi bu trái cây thôi. Tôi thắc mắc chúng sẽ bắn sập tòa nhà nào đây, hay chúng sẽ bị bắn hạ bởi đám lính dưới đất, hay phi công Nga ở trên trời. Chẳng liên quan gì tới mình, cuộc chiến này là của ai khác kia. Dù thả bom ở đâu, cũng không phải trên đầu tôi. Khi nhận ra ý tưởng đó là của chính mình, tôi bỗng thấy tội lỗi quá. Tôi thật là một đứa ích kỷ nhỏ nhen.
Chúng tôi vượt qua Berezovka, đó là cái địa danh lần đầu nghe được vào tháng 9 khi Hồng Quân và đội quân Wehrmacht của Đức đụng độ nhau bên ngoài khu làng. Theo báo chí kể lại, quân đội chúng tôi đã chống cự một cách anh dũng với chiến thuật khôn ngoan vượt hẳn bọn Đức khiến Hitler tức tối, ông ta đã theo dõi từng hoạt động từ phòng chỉ huy chiến tranh ở Bá Linh. Nhưng mà tất cả mọi người trong thành phố Leningrad đều biết cách đọc tin trên báo. Quân đội Nga bao giờ cũng; “Bình tĩnh và cương quyết,” còn tụi Đức bao giờ cũng: ”Kinh ngạc bởi sự chiến đấu dũng cảm của chúng ta” – những câu này là bắt buộc phải có. Tin quan trọng nằm ở gần cuối cột báo, dấu trong đoạn kết. Nếu quân chúng ta “Rút lui để bảo toàn lực lượng,” chúng ta đã thua trận; nếu quân đội: “Hãnh diện hy sinh để đuổi giặc cướp nước,” chúng ta đã bị tàn sát.
Berezovks đã bị tàn sát. Theo báo chí, làng Berezovka nổi tiếng vì những thánh đường đã do chính Đại Đế Peter ra lệnh xây lên , và cây cầu nơi đó nhà đại thi hào Pushkin đã thách thức đối thủ chấp nhận một cuộc đấu tay đôi.
Những dấu tích lịch sử này không còn nữa. Berezovka đã biến mất. Chỉ còn vài bức tường cháy đen vẫn đứng vững trên nền tuyết; nếu không, chẳng còn gì đánh dấu làng Berezovka đã từng hiện hữu nơi đây.
“Bọn chúng thật điên khùng,” Kolya thốt lên trong khi chúng tôi đi vòng quanh những gì còn sót lại của một ngôi làng đã bị tiêu hủy. Tôi nhìn hắn, không hiểu hắn muốn nói tới ai.
“Bọn Đức. Tưởng là mình tài giỏi, kiến tạo một bộ máy chiến tranh vĩ đại nhất chưa từng có. Nhưng hãy nhìn lại lịch sử, đọc sách vở, những kẻ chinh phục thế giới bao giờ cũng cho kẻ địch một con đường thoát. Người ta có thể chống lại Thành Cát Tư Hãn và bị rơi đầu hay quy phục ông ta và chịu đóng thuế. Đó là một lựa chọn dễ dàng . Với tụi Đức, người ta có thể chống lại chúng và bị giết chết, hay đầu hàng và cũng bị giết chết. Chúng có thể biến một nửa nước Nga chống lại nửa kia, nhưng chúng không khôn ngoan; chúng không hiểu người Nga nghĩ gì; chúng chỉ muốn đốt sạch mọi thứ.”
Những điều Kolya nói, đúng với thực tế, chỉ vậy thôi, nhưng theo tôi, dường như tụi Đức không quan tâm đến một cuộc chinh phục với chính sách khôn ngoan. Chúng không muốn thay đổi tư tưởng của người khác, it nhất là những chủng loại thấp kém hơn. Dân Nga là một loại tạp chủng, sinh ra bởi đám Cướp Biển Bắc Âu (Viking) và Hung Nô, bị tụi Avar và Khazar, Kipchak và Pecheneg, Mông Cổ và Thụy Điển hãm hiếp hàng nhiều thế hệ, pha lẫn dòng máu tụi Bô Hê Miên (Gypsy) và Do Thái và cả bọn Thổ Nhĩ Kỳ tha hương. Chúng tôi là con cháu của những kẻ bại trận hàng ngàn lần, và sự thất bại đó đè nặng trên lưng chúng tôi. Chúng tôi không đáng có mặt trên cõi đời này. Tụi Đức tin bài học của Darwin về loài chim mockingbird – cuộc sống phải thích hợp với mọi hoàn cảnh hay chết. Chúng đã thích nghi với thực tế tàn bạo; chúng tôi, những kẻ tạp chủng say sưa trên đồng cỏ Nga vẫn chưa làm được như thế. Chúng tôi cam chịu, và tụi Đức chỉ thực hiện vai trò đã được chỉ định lãnh đạo cuộc tiến hóa của nhân loại.
Tôi chẳng nói ra những điều ấy, chỉ mỗi một câu, “Chúng cho tụi Pháp con đường thoát.”
“Tất cả những người đàn ông Pháp can đảm đều đã chết trên đường triệt thoái từ Mạc Tư Khoa vào năm 1812. Mày nghĩ tao nói đùa hả? Nghe đây, 130 năm trước đây họ có quân đội hùng mạnh nhất thế giới. Bây giờ họ là con đĩ của Âu Châu. Chỉ chờ bị hiếp bởi bất cứ kẻ nào có con cu cứng ngắc. Tao sai hả? Thế cái gì đã xảy ra cho họ? Borodino, Leipzig, Waterloo. Suy nghĩ lại xem. Lòng can đảm đã bị thổi mất khỏi gen của họ. Anh chàng bé nhỏ thiên tài Napoleon của họ đã thiến hết cả nước.”
“Không còn sáng nữa.”
Hắn nhìn lên bầu trời và gật đầu.
“Đến lúc đó, chúng ta có thể đào hầm trú ẩn ngủ qua đêm.”
Hắn đi lẹ hơn, tăng thêm tốc độ mặc dù tụi tôi đã đang đi rất nhanh, khoảng cách giữa hai chúng tôi kéo dài ra nhanh hơn và tôi biết chẳng bao lâu tôi sẽ phải bỏ cuộc thôi. Xúp gà tối hôm qua đã là dĩ vãng ngọt ngào; bánh mì khẩu phần tác chiến của Trung Sĩ tặng đã ăn hết từ trưa. Mỗi bước đi là một cố gắng vượt bực như thể đôi giày của tôi lót bằng chì.
Trời đã quá lạnh tới tận răng; mấy lỗ trám rẻ tiền co lại khi nhiệt độ xuống quá thấp. Tôi chẳng còn cảm giác ở mấy đầu ngón tay mặc dầu tôi mang găng tay bằng nỉ rất dày và dấu cả hai tay trong túi áo khoác ngoài. Cả chóp mũi tôi cũng vậy. Thật là một điều khôi hài – Tôi sống suốt thời vị thành niên ước mong được cái mũi nhỏ hơn; chỉquanh quẩn thêm vài giờ nữa trong khu rừng này là mũi tôi sẽ chẳng còn.
“Chúng ta sẽ làm hầm trú ẩn à? Bằng phương tiện gì? Mày có mang theo xẻng không?”
“Mình vẫn có tay, phải không? Và con dao găm nữa.”
“Phải kiếm chỗ nào thôi.”
Kolya trình diễn một màn tìm kiếm bằng cách nhìn chung quanh khu rừng tối om, như thể một cánh cửa nào đó có thể ẩn kín trong những cây thông cao kia.
“Không có nhà nào cả,” hắn nói. “Bây giờ mày là một chiến binh, tao vừa chỉ định mày, và chiến binh có thể ngủ bất cứ nơi nào hắn nhắm mắt được .”
“Nói hay lắm. Nhưng vẫn cần có chỗ chui vào.”
Hắn để bàn tay mang găng trên ngực tôi và trong một thoáng tôi tưởng hắn tức giận, chửi rủa vì tôi đã không can đảm qua một đêm đông ngoài trời. Nhưng hắn chẳng trách móc tôi gì cả; chỉ muốn tôi đứng yên. Hắn hất hàm hướng về một con đường mòn chạy song song với đường rầy xe lửa. Chỉ cách vài trăm thước thôi. Màn đêm đã buông xuống, nhưng cũng còn đủ ánh sáng để thấy một người lính Nga đứng quay lưng về phía chúng tôi, súng trường quàng trên vai.
Tôi thì thầm “Du kích hả?”
“Không, lính chính quy.”
“Có lẽ chúng ta đã chiếm lại Berezovka. Mộtcuộc phản công ư?
Kolya nói nhỏ “Có lẽ”. Chúng tôi tiến gần lại người lính gác, bước chân cẩn thận. Chúng tôi không biết mật khẩu và chẳng có tên lính nào với cây súng trường trên tay lại chờ xem chúng tôi có phải thật sự là người Nga không?
“Đồng chí!” Kolya la to lên khi chỉ còn cách 50 thước, hai tay dơ lên khỏi đầu. tôi cũng dơ lên như hắn.
“Đừng bắn! Chúng tôi đang thi hành nhiệm vụ đặc biệt.”
Người lính gác chẳng quay đầu lại. Nhiều chiến binh đã mất thính giác trong mấy tháng qua; tiếng nổ của đạn đại bác đã làm rách màng nhĩ của họ. Chúng tôi trao đổi ánh mắt và đi lại gần hơn.
Người lính đứng thẳng, tuyết ngập đến đầu gối. Anh ta đứng ngay đơ. Không một người còn sống nào lại đứng im như một pho tượng trong thời tiết khắc nghiệt như thế. Tôi đánh một vòng tròn, quan sát khu rừng, tin rằng đây là một cái bẫy. Chẳng có gì nhúc nhích ngoài mấy cành cây phong lay động vì gió đông.
Chúng tôi lại gần người lính. Khi còn sống, chắc anh ta phải mạnh như loài thú , với trán gồ lên và cổ tay to như một cán rìu bửa củi. Nhưng anh ta đã chết nhiều ngày rồi, da trắng như tờ giấy bọc chặt lấy cái sọ sắp sửa nứt ra. Một lỗ đạn nhỏ đã bị máu đông cứng đóng vảy, xuyên qua má, ngay dưới mắt trái. Một tấm biển gỗ treo trên cổ viết hàng chữ: “PROLETARIER ALLER LANDER, VEREINIGT EUCH!” bằng mực đen. Tôi không biết nói tiếng Đức, nhưng tôi hiểu câu đó nghĩa là gì, như tất cả trai gái Nga đều bị khốn khổ với những bài học duy vật biện chứng không bao giờ dứt: “Công nhân của thế giới đại đồng.”
Tôi gỡ tấm bảng khỏi cổ người lính chết, cẩn thận không để sợi dây kẽm đóng đá như chiếc bàn chải cào vào mặt anh ta, và vất nó đi. Kolya tháo chiếc dây đeo và xem xét khẩu súng: đó là khẩu súng trường Mosin-Nagant, cơ bẩm đã bị cong. Hắn thử lên đạn vài lần rồi lắc đầu, quăng khẩu súng xuống đất. Người lính mang một bao da đeo ngang hông với khẩu súng ngắn Tokarev ; một sợi giây da xuyên qua cái lỗ trên cán cột chặt súng vào bao da. Người chết là một sỹ quan, một người chỉ huy bằng súng – cây súng ngắn Tokarev không phải để bắn tụi Đức, mà để thúc đẩy những người lính Nga không chịu tiến về phía trước.
Kolya khóa chốt tự động, mở dây da, xem xét cán súng, thấy kẹp đạn đã bị lấy mất. dây lưng mang đạn cũng chẳng còn viên nào. Kolya cởi nút áo choàng người lính và tìm thấy cái hắn đang muốn kiếm, một túi vải bố có nắp đậy bằng da và khóa sắt.
“Đôi khi ban đêm chúng tôi mang nó trong áo khoác ngoài” Kolya vừa nói vừa mở túi vải bố ra và lấy 3 kẹp đạn súng ngắn. “Cái khóa quá bóng, phản chiếu ánh sáng trăng.”
Hắn nạp một kẹp đạn vào súng và thử lên đạn. Súng vẫn còn tốt, cảm thấy hài lòng hắn nhét khẩu súng và đạn dược vào túi áo khoác ngoài.
Chúng tôi cố lôi xác chết ra khỏi tuyết, nhưng cái xác đã đông cứng dưới đất như cái cây mọc rễ. Trời nhá nhem làm nhòe tất cả màu sắc của khu rừng; màn đêm sắp sửa bao phủ chúng tôi; không còn thời giờ để quan tâm đến xác chết nữa.
Chúng tôi vội vã tiếnvề hướng đông, đi gần bên đường rày xe lửa, hy vọng bất cứ tên lính Đức nào di chuyển qua khu rừng đông đá cũng ngồi trong xe và rất dễ nghe thấy tiếng chuyển động từ ở xa. Mấy con quạ đã ngừng kêu và gió cũng không còn thổi mạnh. Chỉ có mỗi tiếng động của giày chúng tôi đạp lún trên tuyết và tiếng nổ đều đều như tiếng trống của đạn súng cối vọng lại từ xa chung quanh thành phố Peter. Tôi dấu mặt sau lớp len của khăn quàng cổ và cổ áo của chiếc áo khoác, cố dùng hơi thở ấm áp để sưởi ấm hai bên má. Kolya nắm chặt hai tay mang găng với nhau và kéo chiếc mũ lông đen thật thấp đến nỗi che gần hết hai con mắt.
Vài cây số về phía đông của Berezovka, chúng tôi đi men theo một nông trại lớn, cánh đồng gồ ghề đầy tuyết có những bức tường đá thấp chia ranh giới. những đống cỏ to như cái chòi tuyết bỏ bừa bãi trên cánh đồng, mùa gặt dở dang, nông dân đã chạy về phía đông hay chết cả rồi. Một căn nhà đá cũ kỹ ở tận phía xa của nông trại, những cành cây diệp lạc tùng cao tới gần 50 thước che ngọn gió bắc cho căn nhà. Ánh lửa vàng óng và ấm cúng hắt ra từ những cửa sổ có chấn song, đổ trên nền tuyết trước nhà. Khói đen bay lên từ ống khói lò sưởi, lờ mờ như một vết đen uốn cong in trên nền trời xanh thẫm. Đó là một căn nhà trông có vẻ hiếu khách chưa từng có, một căn nhà nghỉ mát miền quê của một ông tướng được Hoàng Đế sủng ái, ấm áp và chứa đầy thức ăn cho dịp Giáng Sinh, thịt nướng và bánh trái mà mọi người ưa thích.
Tôi ngước nhìn Kolya trong khi chúng tôi lê bước trên tuyết. Hắn lắc đầu nhưng mắt không rời căn nhà, và tôi có thể thấy được sự khao khát của hắn.
“Ý tưởng không tốt,” hắn nói.
“Nhưng còn hơn là lạnh chết cóng trên đường đi tới Mga.”
“Mày nghĩ xem ai ở trong đó? Một ông bá hộ miền quê, ngồi bên lò sưởi, vỗ về con chó cưng của mình? Nghe như cảnh trong câu chuyện khốn kiếp Turgenev? Tất cả mọi nhà trong thị trấn đều bị thiêu rụi, chỉ chừa cái nông trại này thôi. Sao vậy, may mắn hả? Bọn lính Đức đang ở trong đó, có thể là đám sỹ quan. Chúng ta sẽ tấn công vào nhà với cây súng ngắn và con dao găm ư?”
“Nếu chúng ta tiếp tục đi, thì sẽ chết. Nếu bước vô trong nhà đó, có bọn Đức, chúng ta cũng sẽ chết thôi. Nhưng nếu không phải bọn Đức --“
“Vậy, cho là người Nga đi,” hắn cãi lại. “Nghĩa là bọn Đức cho họ ở đó, nghĩa là họ hợp tác với tụi Đức, cũng nghĩa là họ là kẻ thù.”
“Vậy chúng ta dành thức ăn từ kẻ thù, được không? Và giường ngủ nữa chứ?”
“Hãy nghe tao, Lev, tao biết mày rất mệt mỏi. Tao biết mày bị lạnh cóng. Nhưng tin tao đi, hãy tin một thằng lính, chuyện đó không được đâu.”
“Tao không đi xa hơn nữa. Tao thà liều vào căn nhà đó.”
“Có thể kiếm được chỗ trong thị trấn sắp tới.”
“Làm sao mày biết được có thị trấn sắp tới? Thị trấn vừa đi qua là đống tro tàn. Phải đi bao xa nữa mới đến Mga, 15 cây số nữa phải không? Mày có thể đi được, còn tao thì không.”
Kolya thở dài, vuốt mặt bằng lưng của đôi găng tay bằng da, cố làm cho máu tiếp tục lưu thông.
“Tao thừa nhận rằng chúng ta không tới được Mga tối nay. Đó không còn là vấn đề nữa. Tao đã biết từ mầy giờ trước.”
“Mày đã không muốn cho tao biết hả? Còn bao xa nữa?”
“Còn xa lắm. Điều tệ hại là, tao nghĩ chúng mình đã đi sai đường.”
“Nghĩa là sao?”
Kolya vẫn chăm chú nhìn căn nhà trong nông trại và tôi phải đẩy nhẹ hắn để kéo về thực tại. “Mày nói chúng mình không đi đúng đường nghĩa là sao?”
“Đáng lẽ chúng ta phải đi ngang qua Neva từ lâu rồi. Và tao cho rằng Berezovka không nằm trên đường tới Mga.”
“Mày không nghĩ …tại sao không nói?”
“Tao không muốn mày hoảng loạn.”
Tôi không nhìn được cảm xúc trên khuôn mặt ngu đần của thằng Cossack vì trời tối om.
“Mày nói với tao Mga nằm trên đường đi Mạc Tư Khoa phải không?”
“Đúng vậy.”
“Mày bảo cứ đi theo đường xe lửa Mạc Tư Khoa là sẽ đến Mga.”
“Ừ, đúng thế.”
“Vây, chúng ta đang ở chỗ khốn nạn nào đây.”
“Berezovka.”
Tôi hít một hơi thở dài. Ước muốn có một nắm đấm thật mạnh để đập tan cái sọ dừa hắn ra.
“Còn tin vui là gì?”
“Xin lỗi, mày hỏi gì?”
“Mày nói tin xấu là chúng ta đi trật đường.”
“Chẳng có tin vui nào cả. Không phải cứ có tin xấu là đềucó tin vui.”
Chẳng còn gì bàn cãi nữa cho nên tôi bước về phía nông trại. Mặt trăng đã lên khỏi ngọn cây. Tuyết đóng băng vỡ vụn dưới bước chân tôi. Và nếu một tên Đức bắn sẻ nào đang nhắm vào đầu tôi, cầu mong cho hắn chính xác. Đói lắm rồi, nhưng tôi biết cách chống chỏi với cơn đói. Chúng tôi ai cũng thành thạo làm việc đó. Cái lạnh thì khủng khiếp, nhưng cũng quen rồi. Nhưng chân cẳng tôi đã chịu thua rồi. Chúng vốn rất yếu từ trước khi chiến tranh sảy ra, cặp chân tôi chẳng hợp với việc chạy nhẩy và tất cả những thứ khác cần sử dụng nó. Cuộc bao vây đã khiến chân tôi chỉ còn là cái cán chổi. Cho dù chúng tôi đi đúng đường, tôi cũng không thể nào đến được Mga. Tôi không thể đi thêm dù 5 phút nữa.
Nửa đường tới căn nhà trong nông trại, Kolya bắt kịp tôi. Hắn đã rút ra khẩu súng ngắn Tokarev và cầm trên tay.
“Nếu đã như vậy,” Kolya nói, “ chúng ta không nên hành sự một cách ngu xuẩn.”
Hắn dẫn tôi ra phía sau căn nhà và bảo đứng trước cửa sau dưới mái hiên, nơi củi chất thành đống khô ráo và an toàn. Lúc này, dù là 3 kilo hộp trứng cá Beluga cũng không đáng giá bằng đống củi chất ngay ngắn, xếp chéo vào nhau cao hơn đầu tôi.
Kolya len lỏi đến một cửa sổ mờ vì hơi nước và dòm vào bên trong, chiếc mũ Astrakhan bằng lông màu đen bóng , nhấp nhoáng ánh lửa. Bên trong nhạc trỗi lên từ chiếc máy hát quay dĩa – bản nhạc jazz trình tấu bằng dương cầm, có lẽ là nhạc Mỹ.
“Ai ở trong đó?” tôi hỏi nhỏ. Hắn dơ bàn tay lên ra dấu im lặng. Hắn có vẻ sững sờ nhìn thấy cái gì trong đó, và tôi tự hỏi phải chăng lại chạm trán với bọn ăn thịt người trong vùng nhà quê ngập tuyết này, hay là những phần còn lại của cả gia đình đã bị chặt ra từng khúc, họ đã từng sống trong căn nhà này.
Nhưng mà Kolya đã từng đối phó với bọn ăn thịt người trước đây và hắn đã thấy rất nhiều xác chết. Phải là cái gì rất mới, cái gì không thể ngờ được, và sau 30 giây, tôi không còn tuân lệnh nữa, tiến lại gần cửa sổ với hắn, cẩn thận không đụng vào những cục nước đá đọng trên xà ngang. Tôi nép mình bên cạnh hắn và nhìn chăm chú qua phía dưới tấm kiếng cửa sổ.
Hai cô gái trong bộ đồ ngủ nhảy theo theo đĩa hát nhạc jazz. Hai nàng còn rất trẻ và dễ thương, không hơn tuổi tôi, cô bé tóc vàng dìu cô tóc nâu. Cô nàng rất xanh xao, cổ và má đầy tàn nhang, lông mày và lông mi rất nhợt nhạt, nếu nhìn nghiêng một bên sẽ chẳng thấy gì. Cô gái tóc xậm người nhỏ nhắn hơn, vụng về, không nhảy đúng nhịp khi có một đoản khúc. Răng của nàng quá lớn so với cái miệng và hai cánh tay hơi mập mạp, da nhăn ở cổ tay như em bé. Nếu cô dạo phố Nevsky trong lúc thanh bình thì chẳng ai thèm để ý đến cô, nhưng bây giờ có điều thật ngoại lai kỳ lạ về cô gái đẫy đà đó. Có kẻ đầy quyền lực nào đó yêu và cung phụng cho nàng.
Tôi quáng mắt vì quang cảnh nhảy nhót của hai nàng mà trong một lúc tưởng rằng chỉ có hai cô gái mà thôi. Còn hai nàng nữa nằm xấp trên tấm da gấu màu đen trải trước lò sưởi. Cả hai kê cằm của họ trên bàn tay, khuỷu tay chống trên tấm thảm đang chăm chú quan sát cuộc khiêu vũ với đầy cảm xúc trên mặt. Một nàng trông như sắc dân Chechen, cặp lông mày gần như nối vào nhau trên mũi, môi sơn màu đỏ tươi, tóc bới cao và bọc ngoài bằng một chiếc khăn ướt, dường như mới tắm xong. Cô kia có cổ cao đài các của một vũ công, mũi cao và thẳng tạo thành một góc 90 độ hoàn hảo, nếu nhìn nghiêng, tóc nâu cột thành đuôi ngựa phía sau.
Bên trong nhà trông giống như một căn nhà gỗ làm nơi nghỉ mát để săn bắn. Mấy cái đầu thú trang trí trên tường phòng đại sảnh: gấu nâu, heo rừng, sơn dương với cặp sừng xoăn tít và bộ râu lởm chởm. Một con chó sói và một mèo rừng độn treo bên lò sưởi, trong tư thế đang rình mồi, miệng mở rộng, răng nanh trắng nhởn. Đèn cầy thắp sáng trên giá treo trên tường.
Kolya và tôi nép mình bên ngoài cửa sổ và quan sát bên trong cho đến khi bản nhạc chấm dứt và cô gái người Chechen đứng dậy thay đĩa nhạc.
“Chơi lại bản đó đi,” cô gái tóc vàng lên tiếng. Tiếng nói bị ngăn cách bởi cửa kính nhưng vẫn nghe được dễ dàng.
Cô kia nói “Làm ơn đừng chơi lại nữa! kiếm bản nào tôi quen như của Eddie Rozner chẳng hạn.”
Tôi quay nhìn Kolya. Trông đợi một nụ cười ngây ngất của hắn vì quang cảnh bất ngờ như không có thật mà chúng tôi đã gặp giữa nơi hoang dã đầy tuyết. Thay vào đó là vẻ mặt hung dữ, đôi môi mím lại, ánh mắt tức giận.
Hắn nói “Đủ rồi,” đứng dậy và đi vòng về phía cửa trước. Một dĩa nhạc mới vừa bắt đầu, lại điệu jazz, tiếng kèn đồng làm nhạc cụ chính cho ban nhạc trong một nhịp hân hoan vui vẻ.
“Chúng ta vào chứ? Tao nghĩ bọn họ có thức ăn. Tao nhìn thấy vài thứ --“
“Tao bảo đảm họ có nhiều thức ăn.”
Hắn gõ cửa. Nhạc tắt ngúm. Vài giây trôi qua, cô gái tóc vàng xuất hiện ở cửa sổ có song sắt bên cạnh cửa chính. Nàng nhìn chúng tôi một hồi lâu không nói tiếng nào mà cũng không nhúc nhích.
“Chúng tôi là người Nga,” Kolya lên tiếng. “Mở cửa ra.”
Cô nàng lắc đầu. “Các người không nên tới đây.”
“Tôi biết,” hắn nói, trong khi dơ cao khẩu súng ngắn cho cô gái thấy rõ. “Nhưng chúng tôi đã tới, mở cửa ra, mẹ kiếp.”
Cô gái tóc vàng quay lại phía đại sảnh. Nàng thì thầm cái gì đó với ai đứng khuất phía sau và lắng nghe tiếng trả lời. Gật đầu, nàng quay nhìn chúng tôi lần nữa, hít một hơi dài, và mở cửa ra.
Bước vào bên trong có cảm giác như bước vào bụng cá voi, một nơi ấm áp nhất tôi có được từ mấy tháng nay. Chúng tôi theo nàng vào đại sảnh, ba cô gái kia đứng thành một hàng trông rất bối rối, những ngón tay vân vê tà áo ngủ. Cô bé tóc nâu với cánh tay đầy đặn sắp sửa khóc; môi dưới run lên khi cô nhìn chăm chú khẩu súng ngắn trên tay Kolya.
“Còn ai khác không?” hắn hỏi.
Cô gái tóc vàng lắc đầu.
“Khi nào chúng nó tới?”
Mấy cô gái trao đổi ánh mắt.
“Ai?” cô bé gốc Chechen hỏi.
“Các cô đừng giỡn với tôi. Tôi là sỹ quan của Hồng Quân, đang thi hành nhiệm vụ đặc biệt.”
“Còn anh kia cũng là sỹ quan hả?” cô gái tóc vàng hỏi, trong khi nhìn tôi. Dù nàng không thật sự cười cợt, nhưng tôi nhìn thấy ánh mắt diễu cợt của nàng.
“Không, anh ta không phải là sỹ quan, anh ta là lính –“
“Một người lính? Thật hả? Bao nhiêu tuổi rồi, bé cưng?”
“Mười chín,” tôi trả lời, đứng rất nghiêm. “Tháng tư tới sẽ hai mươi tuổi.”
“Xì, cậu chưa được 19 tuổi đâu,” Cô gái người Chechen nói.
“Cao lắm là 15 tuổi thôi,” cô tóc vàng đáp.
Kolya lên đạn cây súng ngắn – một tiếng động gây chú ý trong căn phòng yên tĩnh. Cử chỉ đó mang đầy kịch tính, nhưng Kolya có cách làm cho nó mất kịch tính đi. Hắn chĩa nòng súng xuống nền nhà và nhìn vào mặt từng cô gái, một cách chậm rãi.
“Chúng tôi từ xa đến đây,” hắn nói. “Ông bạn tôi đây rất mệt mỏi. tôi cũng vậy. Cho nên tôi hỏi lại một lần nữa, một lần cuối cùng, khi nào chúng tới?”
“Chúng thường đến vào nửa đêm,” cô tóc nâu mập mạp trả lời. Mấy cô kia nhìn nàng ta chăm chú nhưng không nói tiếng nào. “Sau khi tác xạ xong.”
“Đúng vậy không? Thì ra sau khi bọn Đức chán bắn đại bác vào chúng tôi trong thành phố Piter, chúng đến đây ngủ đêm và các cô chăm sóc cho chúng?”
Về vài phương diện nào đó, tôi thật ngu đần. Tôi không nói ra vì khiêm tốn đâu. Tôi tin mình thông minh hơn một người trung bình. Nhưng mà thông minh không thể chỉ nhìn vào một phương diện duy nhất , như nhìn cái đồng hồ đo tốc độ, nhưng phải nhìn tất cả các đồng hồ khác như tốc độ máy, đồng hồ cây số, đồng hồ cao độ, và tất cả những đồng hồ đo khác. Cha tôi thường khoe với bạn bè rằng người dậy tôi đọc lúc 4 tuổi, nhưng khả năng học Pháp ngữ của tôi rất kém hay trí nhớ tồi tệ về những ngày thắng trận của danh Tướng Suvorov làm cha tôi thất vọng. Cha tôi là một thiên tài, ông có thể đọc thuộc lòng bất kỳ đoạn thơ nào của Eugene Onegin, thông thạo Pháp và Anh ngữ, giỏi về vật lý đến nỗi các giáo sư đại học của ông phải than thở rằng việc ông thích thi phú hơn là một điều hơi đáng tiếc. Tôi ước mong các vị giáo sư đáng lẽ phải lôi cuốn ông nhiều hơn. Đáng lẽ phải giải thích cho ông về vật lý, cho một học trò sáng chói như ông về tại sao hình thể của vũ trụ và trọng lượng của ánh sáng lại quan trọng hơn những câu thơ không vần về mấy tên lừa đảo và những kẻ phá thai trong thành phố Leningrad.
Cha tôi chắc đã hiểu rõ cái gì đã xảy ra trong căn nhà của nông trại khi mới nhìn qua cửa sổ bằng kính dù chỉ mới 17 tuổi. Cho nên tôi cảm thấy mình thật dại khờ khi hiểu ra rằng tại sao mấy cô gái này lại ở đây, ai đã cung cấp thức ăn cho họ và bảo đảm họ có đủ củi đốt chất đầy dưới hiên nhà.
Cô tóc vàng trừng mắt nhìn Kolya, cánh mũi phập phồng, nước da ửng hồng dưới những chấm tàn nhang.
“Anh …,” cả một lúc cô không nói thêm được một tiếng nào, vô cùng tức giận khiến nàng nghẹn lời. “Anh vào đây và mạt sát chúng tôi? Hỡi người hùng của Hồng Quân? Lâu nay anh ở đâu, anh và đội quân của anh? Tụi Đức đến đây và đốt sạch cả, lúc đó đội quân của anh ở đâu? Chúng bắn chết mấy em trai tôi, cha tôi, ông nội tôi và tất cả mọi đàn ông trong thị trấn, trong khi các anh hèn nhát trốn ở nơi khác … Anh tới đây và chĩa súng vào người tôi sao?
“Tôi không nhắm vào bất cứ ai cả,” Kolya trả lời. Đó là một lời giải thích lạ lùng yếu xìu do hắn thốt ra, và tôi biết hắn đã thua cuộc đấu khẩu rồi.
“Tôi làm mọi cách để bảo vệ em gái tôi,” nàng nói trong lúc gục gặc đầu về phía cô gái tóc nâu. “ Làm tất cả. Các anh đáng lẽ phải bảo vệ chúng tôi. Hồng Quân oai hùng , Vệ Quốc Quân của Toàn Dân! Lúc đó các anh ở đâu?”
“Chúng tôi chiến đấu với chúng nó –“
“Các anh chẳng bảo vệ được ai cả. Các anh đã bỏ rơi chúng tôi. Nếu chúng tôi không sống trong thành phố, tất nhiên không quan trọng, phải vậy không? Mặc kệ chúng bắt đám nông dân, phải không?”
“Một nửa số người trong đơn vị tôi đã chết vì chiến đấu –“
“Một nửa? Nếu tôi là tướng quân, tất cả lính của tôi phải chết trước khi để một tên Đức bước vào đất nước chúng ta!”
“Hừ,” Kolya nói, và trong vài giây không nói thêm tiếng nào. Cuối cùng hắn đút khẩu súng vào túi. “Tôi rất mừng cô không phải là tướng quân.”
(còn tiếp)
Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn
