Ngoài thành phố, cây cối vẫn còn xanh tốt, chim quạ kêu réo trên cành cây phong, mấy con sóc đuổi nhau giữa đám thông. Sóc vừa mập và vô tư, dễ làm mồi cho kẻ nào có một cây súng ngắn. Chúng thật may mắn còn sống sót trên đất Nga đang bị chiếm đóng.  

Chúng tôi đi xuyên qua rừng, vượt qua những cánh đồng trống dưới ánh nắng mặt trời trong thời tiết lạnh giá, vẫn để ý những đường rầy xe lửa nằm phía bên trái. Tuyết đã đóng băng, rải rác khắp nơi lẫn với lá thông, thật hợp cho cuộc lội bộ nhàn nhã. Chúng tôi đang ở trong vùng quân Đức kiểm soát, nhưng chẳng thấy bóng dáng một tên Đức nào cả, chiến tranh cũng không hiện diện. Tôi cảm thấy vui mừng lạ thường. Piter là nhà của tôi, nhưng bây giờ đã trở thành nghĩa địa. một thành phố của ma quỷ và bọn ăn thịt người.

Đi bộ trong vùng nhà quê tôi cảm thấy thể xác thay đổi, giống như được thở dưỡng khí nguyên chất sau bao nhiêu tháng sống dưới đáy mỏ than. Cái bùi nhùi trong ruột gan đã được lấy ra, lỗ tai không còn bịt kín. Đôi chân mạnh khỏe, cứng cáp mà đã lâu tôi không có cảm giác đó.

Kolya chắc cũng có cảm xúc như tôi. Hắn nheo mắt tránh ánh tuyết chói chang, chu mỏ thổi một hơi khói mạnh ra khỏi miệng, và thích thú với trò chơi ấy như một đứa bé lên năm.

Chợt nhìn thấy một miếng giấy màu xanh bên cạnh gốc cây phong cổ thụ, hắn nhặt lên. Đó là tờ 10 ruble, cặp mắt Lenin dưới chiếc đầu hói bự, nhìn thẳng vào chúng tôi. Tờ giấy bạc cũng bình thường thôi, chỉ khác là nó màu xám chứ không phải xanh.

Tôi hỏi: “Tiền giả hả?”

Kolya gật đầu, dùng ngón tay chỉ lên trời trong khi đang xem xét tờ giấy bạc.

“Tụi Đức đã đổ xuống đây từng sọt tiền. Càng nhiều tiền giả luân lưu, giá trị tiền thiệt càng kém đi.”

“Nhưng mà màu sắc đâu có đúng.”

Kolya lật mặt trái tờ giấy và đọc thật to những hàng chữ in trên đó.

“Giá cả đồ ăn và hàng gia dụng đã tăng gấp bội, chợ đen trong nước Nga phát triển mạnh. Chữ ‘phát triển’ viết sai chính tả. Đảng và tụi Do Thái đã cấu kết với nhau ở hậu phương trong khi các bạn ở tiền tuyến phải hy sinh mạng sống cho những tên tội phạm đó. ‘Những tên tội phạm đó’, nghe được lắm. Chúng nó chiếm đóng một nửa đất nước nhưng không tìm được một người biết viết tiếng Nga? Chẳng bao lâu mày sẽ biết lý do thôi, cho nên hãy giữ tờ giấy 10 ruble này. Nó bảo đảm cho mày trở về một nước Nga tự do sau chiến tranh.”

Kolya cười toe toét và liếc nhìn tôi. “Mày đã cấu kết ngầm hả, Lev Abramovich?”

“Tao ước gì làm được như thế.”

“Bọn Đức nghĩ chúng ta sẽ theo chúng vì tờ giấy này à? Chúng không hiểu à? Tuyên truyền là do chúng ta đã phát minh ra! Thật là quá dở; Chúng đã làm cho những kẻ mà chúng muốn lôi cuốn thấy khó chịu. Một thanh niên nghĩ rằng hắn lượm được tờ bạc 10 ruble, hắn mừng lắm, nghĩ rằng sẽ mua được thêm một miếng xúc xích. Nhưng không, chẳng phải là tiền, chỉ là tờ giấy đầu hàng viết sai chính tả.”

Hắn máng tờ truyền đơn lên cành cây rồi dùng hộp quẹt đốt nó đi.

Tôi bảo hắn “Mày đang đốt cái cơ hội trở về nước Nga tự do sau chiến tranh.”

Kolya mỉm cười trong khi nhìn tờ giấy trở nên đen đúa và uốn cong lại. “Đi thôi. Đường còn dài.”

Sau thêm một giờ lội bộ vất vả trên tuyết, Kolya vỗ trên vai tôi bằng những ngón tay đeo găng của hắn.

“Đạo Do Thái tin có đời sau không?”

Ngày hôm trước câu hỏi đó sẽ làm tôi khó chịu, nhưng bây giờ nghe thật tức cười, thật đúng là Kolya, đặt câu hỏi vì sự hiếu kỳ thành thật và đúng lúc.

“Tùy theo người nào. Ba của tao là người vô thần.”

“Còn má mày thì sao?”

“Má tao không phải người Do Thái.”

“Ồ, mày chỉ lai một nửa thôi. Chẳng có gì phải xấu hổ cả.

“Tao vẫn nghĩ mình có máu Gypsy từ tổ tiên nào đó truyền lại.”

Tôi quan sát hắn, Mắt xanh như mắt chó sói Siberia, tóc vàng lòa xòa phơi bày dưới chiếc mũ lông màu đen.

“Mày không có dòng máu gypsy.”

“Cái gì, đôi mắt hả? Thiếu gì người Gypsy mắt xanh trên thế giới, bạn ơi. Thôi bỏ đi, Tân Ước chẳng nói rõ ràng về vụ đó sao. Nếu theo Chúa Jesus, bạn sẽ vô nước thiên đàng; nếu không, chỉ có sa xuống hỏa ngục thôi. Nhưng Cựu Ước … Tao không nhớ có đề cập tới hỏa ngục không nữa.

“Địa Ngục.”

“Cái gì?”

“Thế giới dưới đó gọi là Địa Ngục. Một trong những bài thơ của Bố tao tên là ‘ Những Song Sắt Của Địa Ngục’.”

Thật kỳ cục khi đề cập đến bố tôi và những tác phẩm của ông. Những lời nói này có vẻ  không an toàn,  như thể là tôi đang  xưng tội  và nhân viên công lực có thể nghe được. Mặc dù ở đây, Bộ Chính Trị chẳng có ảnh hưởng gì cả, tôi lo ngại sẽ bị bắt bớ, lo ngại những do thám ẩn núp trong bụi cây lạc diệp tùng kia. Nếu mẹ tôi ở quanh quẩn đâu đây chắc thế nào bà cũng bịt miệng tôi lại bằng cái nhìn dọa dẫm. Dù sao, nói về Bố cũng là điều hay. Nó làm tôi vui vẻ vì đề cập tới những bài thơ đó trong thì hiện tại mà nhà thơ đã là quá khứ rồi.

“Cái gì xảy ra trong Địa Ngục? Họ trừng phạt vì tội lỗi của mình?”

“Tao không nghĩ vậy. Mọi người đều phải đến đó, dù xấu xa hay thánh thiện. Chỉ có bóng tối lạnh lẽo và chúng ta chẳng còn gì ngoài linh hồn.”

“Có vẻ đúng đấy.” Hắn súc lên một nắm tuyết sạch sẽ và cắn một miếng, để cho nó tan trong miệng. “Mấy tuần trước tao thấy một người lính không có mí mắt. Anh ta là trưởng xa, chiếc chiến xa của anh ta bị hư nặng, đến khi tìm được anh ta, những người lính khác đã chết vì lạnh cả rồi. Còn anh ta, thân thể bị phỏng lạnh một nửa. Mất mấy ngón chân và ngón tay, một phần cái mũi, và mí mắt. Tao thấy anh ta nằm ngủ trong bệnh viện, tưởng đã chết rồi, mắt mở trừng trừng.. Tao không biết nữa, sao gọi là mắt mở nếu không thể nhắm lại được. Làm sao có thể sống tỉnh táo được với mắt không có mí mắt. Mình có thể sống suốt đời mà không một lần nhắm mắt lại được?  Tao thà mù còn hơn.

Tôi chưa từng thấy Kolya phiền muộn như thế. Tâm trạng hắn thay đổi thình lình khiến tôi lo lắng. Cả hai chúng tôi chợt nghe tiếng chó tru rất to; chúng tôi quay nhìn về phía rặng cây phong nghiêng ngả.

“Có phải chó không?”

Hắn gật đầu. “Nghe giống như vậy.”

 Vài giây sau chúng tôi lại nghe tiếng chó tru lần nữa. Có cái gì thật là "người" trong tiếng tru cô đơn não nuột ấy. . Chúng tôi phải tiếp tục đi về hướng đông, và đến được Mga trước khi trời tối, nhưng Kolya bước về hướng chó tru và tôi theo hắn không lời phản đối.

Tuyết dày hơn và chẳng bao lâu đã cao đến đùi. Nghị lực tôi có được cách đây 10 phút giờ đã tan ra mây khói. Tôi cảm thấy mệt mỏi, cố chống chỏi với từng bước chân. Kolya đi chậm lại để tôi có thể theo kịp. Nếu hắn thiếu kiên nhẫn với tôi, hắn cũng chẳng tỏ ra.

Tôi cúi mắt xuống để nhìn rõ từng bước chân – bây giờ mà trật cổ chân là chết chắc – và tôi thấy rõ những dấu chân phía trước Kolya. Tôi kéo tay áo hắn để hắn dừng lại. Chúng tôi vừa tới bìa một khoảng đất trống trong rừng. Ánh sáng chói lọi của mặt trời phản chiếu từ những hec-ta (mẫu) tuyết lớn khiến tôi phải dùng tay che mắt lại. Hàng tá dấu xích chiến xa uốn lượn trên tuyết, dường như cả trung đoàn xe tăng đã đi ngang qua đây. Tôi không rành về dấu chiến xa bằng tiếng động cơ máy bay, tôi không phân biệt được chiến xa Sturmtiger của Đức và T-34 của Nga, nhưng tôi biết đây không phải là chiến xa của mình. Nếu có được chừng ấy chiến xa trong khu rừng này hẳn là vòng vây đã bị phá vỡ.

Có nhiều đống gì đó màu xám và nâu nằm rải rác trên tuyết. Mới đầu tôi tưởng đó là những đống áo choàng bị vứt lại, nhưng tôi thấy có cái đuôi lòi ra trên 1 trong những đống ấy, đống khác có một bàn chân thú vật, tôi mới hiểu đó là những con chó chết, ít ra cũng đến một tá. Chúng tôi lại nghe tiếng chó tru , rồi cuối cùng chúng tôi nhìn thấy con chó ấy, một con chó khoang đen trắng, loại chó giúp người chăn cừu, nó đang dùng hai chân trước kéo lê thân mình ra khỏi khoảng đất trống, để lại đàng sau một vệt máu dài hơn 100 mét, giống như một nét sổ màu đỏ của chiếc cọ sơn tạt chéo trên khung vải màu trắng.

“Mau lên,” Kolya giục tôi và bước vào khoảng đất trống trước khi tôi có thể ngăn hắn lại. Chiến xa mới đi khỏi đây không lâu; dấu xích in hằn trên tuyết rành rành, chưa bị lu mờ vì gió. Rõ ràng quân Đức mới ở đâu đây, nhưng Kolya không thèm để ý tới. Hắn đã đến giữa khoảng trống, bước về phía mấy con chó, và như thường lệ tôi cố gắng đuổi theo hắn.

Hắn cảnh giác tôi: “Đừng tới quá gần chúng.” Tôi không hiểu ý hắn muốn nói gì. Chắc sợ lây bịnh chăng? Hay mấy con chó sắp chết có thể cắn tôi? 

Khi lại gần, tôi mới thấy một hộp gỗ cột trên lưng chó với dây ba chạc bằng da. Một cái cọc gỗ nhô lên từ cái hộp. Tôi đảo mắt chung quanh khoảng đấtvà thấy tất cả những con chó khác đều có tương tự.

Con chó bị thương không nhìn chúng tôi, nó đang cố gắng lê về phía bìa rừng xa đàng kia, nó nghĩ đến đó sẽ an toàn, hay thoải mái hơn, hay chỉ tìm một nơi yên tĩnh để trút hơi thở cuối cùng. Máu chảy ra từ hai lỗ đạn gần bên hông, một viên đạn khác chắc xuyên qua bụng, bởi vì có cái gì ướt và cuộn tròn dưới bụng nó, những bộ phận nội tạng sinh ra không phải để ra ngoài ánh sáng mặt trời. Nó thở hổn hển, chiếc lưỡi dài đỏ hỏn tòong teng ở một bên mõm, hai môi cuốn lại từ hàm  răng vàng ởn.

Kolya nói: “Chúng nó là của tao, người ta huấn luyện chúng tìm đồ ăn dưới bụng chiến xa, rồi bắt chúng nhịn đói, khi đoàn chiến xa Panzers của quân Đức tiến tới, họ thả chúng ra. Bom sẽ nổ ầm.”

Thực ra, chẳng có con chó nào làm bom nổ cả. Tụi Đức đã biết rất rõ vụ này rồi; chúng đã báo động tụi lính thiện xạ trên chiến xa và tụi thiện xạ bắn rất giỏi. Chó chết rải rác trên mặt đất, nhưng không thấy xác xe tăng hay chiến xa ,và cũng không một trái bom nào nổ cả. Lại một kế hoạch khôn ngoan của Nga bị thất bại và tôi hình dung ra đám chó đói đang chạy cật lực về phía chiến xa Đức, móng chân của chúng tung về phía sau những nắm tuyết, mắt chúng sáng rỡ lên và vui mừng vì sắp được bữa ăn đầu tiên trong nhiều tuần.

“Đưa cho tao con dao găm.” Kolya nói.

“Cẩn thận nghe.”

“Cứ đưa cho tao.”

Tôi lấy con dao từ cái bao và đưa cho hắn. Con chó tiếp tục lê mình về phia rừng, nhưng nó đã kiệt lực rồi. Cuối cùng nó cũng nằm yên khi nhìn thấy Kolya tiến lại gần, dường như nó nghĩ rằng thôi cũng đủ xa rồi. Nó nằm trên đống tuyết nhuộm máu, nhìn chăm chú Kolya với đôi mắt nâu mệt mỏi. Cái cọc gỗ dựng đứng từ chiếc hộp trên lưng như cột buồm của một chiếc thuyền. Nó mỏng manh không lớn hơn một cái dùi đánh trống.

Kolya thì thầm “Mày là đứa bé ngoan của tao”, hắn quỳ xuống bên cạnh con chó, giữ chặt phía sau cái đầu của nó với tay trái của hắn. “Mày là bé ngoan của tao.”

Kolya khứa cổ con chó với một động tác rất nhanh. Con chó rùng mình, một vòi máu phun lên từ cổ nó. Kolya đặt nhẹ đầu con chó xuống, nó co giựt trong vài dây, chân cào vào không khí, giống như một con chó nhỏ đang nằm mơ, rồi chết hẳn.

Chúng tôi im lặng một lúc, chào từ giã một con chó đã nằm xuống. Kolya chùi cả hai bên lưỡi dao trên tuyết, lau khô trên tay áo khoác của hắn, và trao lại cho tôi.

“Chúng ta đã mất 40 phút rồi. Thôi đi cho mau.”

(còn tiếp)

 

Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn


Joomla Hosting and Maintenance by Cybersalt

Copyright © 2014-2026. VietVancouver, All rights reserved

  • Số Lượt Truy Cập 2504869